Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 03/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 03/2024/HS-ST NGÀY 25/01/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/TLST- HS ngày 05/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST- HS ngày 11/01/2024 đối với bị cáo: HOÀNG QUÝ NG (tên gọi khác không); sinh ngày 03/06/1986 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Quý Đ (đã chết) và bà La Thị Ng; Vợ: Lê Thị H (đã ly hôn năm 2019); Con: Có 01 con sinh năm 2011; Tiền sự: Không (tuy nhiên trước đó ngày 14/5/2012 bị UBND tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi trộm cắp tài sản trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định về việc đưa vào cơ sở giáo dục số 732/QĐ-UBND, đến năm 2014 thì chấp hành xong và ngày 14/11/2016 bị Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1190/QĐ-XPVPHC); Tiền án. Không (tuy nhiên trước đó ngày 29/12/2017 bị TAND huyện C, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 55/2017/HSST, đến ngày 22/9/2019 thì chấp hành án xong và ngày 09/9/2020 bị TAND huyện V, tỉnh Bắc Giang tuyên phạt 10 tháng tù về “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 104/2020/HSST, đến ngày 23/3/2021 thì chấp hành án xong. Hiện tại đều đã được xóa án tích). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 19/10/2023 đến ngày 27/10/2023 thì được hủy bỏ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 10 phút ngày 19/10/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện C đang làm nhiệm vụ tại tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã phát hiện và bắt quả tang bị cáo Hoàng Quý Ng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc, bị cáo Ng tự nguyện xuất trình từ trong túi quần đằng sau bên phải bị cáo đang mặc 01 (một) gói nilon có in nhiều dòng chữ màu xanh bên trong có 12 (mười hai) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất dạng cục và bột màu trắng trộn lẫn bột màu hồng. Tiến hành trích mẫu cục và bột màu trắng vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy, kết quả thuốc thử phản ứng dương tính với chất ma túy, loại Heroine và trích mẫu bột màu hồng vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy, kết quả thuốc thử phản ứng dương tính với chất ma túy tổng hợp (được niêm phong vào phong bì ký hiệu N1).

Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng hồi 10 giờ 00 phút ngày 19/10/2023 xác định: Cân riêng toàn bộ mẫu chất màu trắng dạng cục và bột có trộn lẫn chất bột màu hồng trong 12 (mười hai) gói niêm phong trong phong bì ký hiệu N1 có tổng khối lượng 1,73g (một phẩy bảy ba gam) và được niêm phong lại gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định trong phong bì ký hiệu N2.

Tại bản kết luận giám định số: 332/KL - KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu N2 gửi giám định là ma túy: loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và loại Methamphetamine, có tên khoa học là: (+)-(S)-N-a- dimethylphenethylamine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu N2 có khối lượng là 1,73g (một phẩy bảy ba gam)”.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Hoàng Quý Ng khai nhận: 12 (mười hai) gói ma túy khi bị bắt là của bị cáo mua để sử dụng cá nhân, cụ thể: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, bị cáo Ng bắt xe khách từ nhà xuống khu vực huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để nhằm mục đích mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì Ng xuống xe tại khu vực cổng bến xe huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và tại đây bị cáo gặp và mua 01 (một) gói ma túy trong đó có 03 (ba) viên ma túy tổng hợp (hồng phiến) và 01 (một) cục ma túy Heroine với một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) để bản thân sử dụng dần. Sau khi mua được ma túy thì Ng thuê 01 (một) phòng nghỉ của một nhà nghỉ phía sau bến xe khách huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Ng không biết tên nhà nghỉ, địa chỉ cụ thể) để nghỉ ngơi và tại đây bị cáo đã sử dụng đi 01 (một) phần số ma túy mua được, số ma túy còn lại bị cáo đã chia ra thành 12 (mười hai) gói nhỏ gồm có cả hai chất ma túy rồi cất vào túi quần đằng sau bên phải mà bị cáo đang mặc để sử dụng dần. Đến sáng ngày 19/10/2023 thì Hoàng Quý Ng trả phòng và bắt xe ôm với 01 (một) người đàn ông khoảng 40 tuổi (Ng không rõ tên tuổi, địa chỉ) về uống thuốc cai nghiện Methadone tại khu vực Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Đến 08 giờ 10 phút cùng ngày khi đang ngồi uống nước tại khu vực cổng Trung tâm y tế huyện C thì bị Cơ quan Công an huyện C bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy mà bị cáo Ng đang tàng trữ và cất dấu trên người.

Về vật chứng cơ quan điều tra tạm giữ trong vụ án gồm: 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T190 (bên trong phong bì chứa 1,63g ma túy loại Heroine, Methamphetamine cùng phong bì và bao gói cũ) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan CSĐT Công an huyện C; 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu N3 bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong, bao gói cũ ban đầu.

Tại bản cáo trạng số: 02/CT - VKSCĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Hoàng Quý Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Quý Ng phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Quý Ng từ 24 tháng đến 30 tháng tù được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ (kể từ ngày 19/10/2023 đến ngày 27/10/2023).

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng đề nghị: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T190 (bên trong phong bì chứa 1,63g (một phẩy sáu ba gam) ma túy loại Heroine và loại Methamphetamine cùng phong bì và bao gói cũ) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn; 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định ký hiệu N3, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong và bao gói cũ ban đầu.

Về án phí đề nghị: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nên bị cáo chịu trách nhiệm trước pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 08 giờ 10 phút ngày 19/10/2023, tại khu vực tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang bị cáo Hoàng Quý Ng, có hành vi tàng trữ trái phép 12 (mười hai) gói ma túy Heroine trộn lẫn ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 1,73g (một phẩy bảy ba gam) để sử dụng cá nhân.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định là chất ma tuý loại Heroine và loại Methamphetamine đồng thời phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì bị cáo nghiện chất ma túy do đó để thoả mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn thực hiện. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 (một) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có ông nội là ông Hoàng Quý L là người có công với nước được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất do vậy bị cáo được hưởng thêm 01 (một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự (tuy nhiên trước đó ngày 14/5/2012 bị UBND tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi trộm cắp tài sản trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định về việc đưa vào cơ sở giáo dục số 732/QĐ-UBND, đến năm 2014 thì chấp hành xong và ngày 14/11/2016 bị Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1190/QĐ-XPVPHC); Bị cáo không có tiền án (tuy nhiên trước đó ngày 29/12/2017 bị TAND huyện C, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 55/2017/HSST, đến ngày 22/9/2019 thì chấp hành án xong và ngày 09/9/2020 bị TAND huyện V, tỉnh Bắc Giang tuyên phạt 10 tháng tù về “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 104/2020/HSST, đến ngày 23/3/2021 thì chấp hành án xong. Hiện tại đều đã được xóa án tích) - nên bị cáo không được coi là có nhân thân tốt.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Ngoài hình phạt chính theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có điều kiện về kinh tế. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma túy (Heroine, Methamphetamine) thu giữ của bị cáo Hoàng Quý Ng sau khi trích giám định còn lại 1,63g (một phẩy sáu ba gam) thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành - cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) phong bì ký hiệu T190 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn (bên trong có chứa phong bì và bao gói cũ); 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định ký hiệu N3, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong và bao gói cũ ban đầu – xác định đều là vật chứng không có giá trị, tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Hoàng Quý Ng là người đã bán ma túy cho Ng tại khu vực cổng bến xe huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 18/10/2023 và người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Ng là người chạy xe ôm đã chở Ng từ cổng bến xe huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên lên khu vực Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Bắc Kạn vào sáng ngày 19/10/2023. Kết thúc điều tra Ng không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Quý Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma  túy”.

[2]. Về hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Quý Ng 24 (hai mươi tư) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ (kể từ ngày 19/10/2023 đến ngày 27/10/2023). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249/BLHS.

[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T190 (bên trong phong bì chứa 1,63g (một phẩy sáu ba gam) ma túy loại Heroine và loại Methamphetamine cùng phong bì và bao gói cũ) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn; 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định ký hiệu N3, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong và bao gói cũ ban đầu.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Quý Ng phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”

[5]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

97
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 03/2024/HS-ST

Số hiệu:03/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về