TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HÒA BÌNH
BẢN ÁN 03/2024/HS-ST NGÀY 29/01/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Trong ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Lạc Thuỷ, tỉnh H xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: NVĐ, sinh ngày: 25/11/1983; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: LTh, H; Hộ khẩu thường trú (HKTT): thôn HP 2, xã YB, huyện LTh, tỉnh H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố Nguyễn Văn Hồng, sinh năm 1962; Mẹ VTNg, sinh năm 1964; Vợ NYTh, sinh năm 1993, HKTT: thôn HP 2, xã YB, huyện LTh, tỉnh H; Có 03 con; Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 02/10/2010 – Cố ý gây thương tích – Cơ quan CSĐT Công an huyện Th ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 01 ngày 06/12/2010; Quyết định đình chỉ vụ án số 01 ngày 08/12/2010.
- Ngày 27/4/2013 – Cố ý gây thương tích – Cơ quan CSĐT Công an huyện Th ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 20 ngày 26/5/2013; TAND huyện Th ra Quyết định đình chỉ vụ án số 01 ngày 17/9/2013.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2023 sau đó chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Th, tỉnh H. Bị cáo được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: ông B ĐT – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Ông NVTh1, sinh năm 1960, vắng mặt; Bà NTTh2, sinh năm 1993, có mặt. Cùng địa chỉ: HP 2, xã YB, huyện LThy, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa - nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
NVĐ là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2011 đến nay. Sáng ngày 02/10/2023, NVĐ đi bộ từ nhà mình ra đường quốc lộ và bắt xe khách ra thị trấn Ba Sao, huyện B, Hà Nam mục đích tìm mua ma túy. Khi đến nơi, NVĐ gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, người gầy, mặc bộ quần áo màu đen, cao khoảng 1m70, NVĐ hỏi và mua được ma túy loại heroine với số tiền 2.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, NVĐ cất ma túy vào túi quần rồi bắt xe khách về nhà tại xã YB, huyện LTh, tỉnh H. NVĐ một mình chia số ma túy ra 56 ống nhựa nhỏ màu trắng, dán kín hai đầu, sau đó bỏ 55 ống vào chiếc lọ nhựa màu xanh cất giấu tại phòng thờ tầng 3 của gia đình, mục đích để sử dụng dần cho bản thân. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, NVĐ cầm lọ nhựa màu xanh chứa 55 ống nhựa trắng là ma túy loại heroine trên tay đang đi bộ từ nhà NVĐ ra đường tìm địa điểm để sử dụng thì bị tổ công tác CA huyện Th tuần tra phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cùng tang vật vụ án.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của NVĐ tại thôn HP 2, YB, huyện LTh, tỉnh H. Cơ quan cảnh sát điều tra CSĐT Công an huyện Th đã phát hiện thu giữ tại sàn phòng thờ tầng 3 của gia đình NVĐ 01 ống nhựa màu trắng trong dán kín hai đầu bên trong có chứa ma túy loại heroine.
Cáo trạng số 08/CT – VKS-LT ngày 11/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Th, tỉnh H truy tố bị cáo NVĐ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa:
* Bị cáo NVĐ đã thừa nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố.
* Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với nội dung truy tố của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo các tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 BLHS (Bà ngoại có công với cách mạng).
* Đại diện VKSND huyện Th giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo NVĐ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị HĐXX:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1, Khoản 2 (bà ngoại là người có công với cách mạng) Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo NVĐ từ 20 đến 24 tháng tù.
- Phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy số ma túy cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Tuyên theo quy định của pháp luật.
Bị cáo NVĐ không có ý kiến tranh luận với lời luận tội, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạc Thuỷ, Điều tra viên; VKSND huyện Lạc Thuỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ khẳng định: Với mục đích sử dụng ma túy, sáng ngày 02/10/2023, NVĐ đến thị trấn Ba Sao, huyện B, Hà Nam mua ma túy loại heroine với số tiền 2.500.000 đồng. Bị cáo Mang ma túy mua được về nhà tại xã YB, huyện LTh, tỉnh H, chia số ma túy ra ống nhựa nhỏ, cất giấu tại phòng thờ tầng 3 của gia đình. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, NVĐ bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số: 418/KL-KTHS ngày 10/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H đã kết luận khối lượng ma túy thu giữ là 2,26 gam là ma túy, loại Heroine (Heroin).
[3]. Về tội danh và hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS. VKSND huyện Lạc Thuỷ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo là lao động chính (Gia đình là hộ nghèo, có ba con nhỏ), có bà ngoại có huân chương kháng chiến hạng nhì, bản thân bị cáo phạm tội lần đầu nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 HLHS. Đây là các căn cứ để HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
HĐXX xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma tuý, đồng thời làm ảnh hưởng tiêu cực cho đời sống xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5]. Về hình phạt bổ sung và về vật chứng: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
[6]. Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho NVĐ, có đặc điểm như bị cáo khai nhận ở khu vực thị trấn Ba Sao, huyện B, tỉnh Hà Nam, Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của đối tượng nên không đề cập xử lý. HĐXX cho là phù hợp.
[7]. Về án phí: Bị cáo NVĐ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định tại Điều 331 BLTTDS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố NVĐ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo NVĐ 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: 02/10/2023.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thuỷ, tỉnh H).
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án;
buộc bị cáo bị kết án phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh H để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 03/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 03/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lạc Thủy - Hoà Bình |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về