TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
BẢN ÁN 02/2024/HS-ST NGÀY 29/01/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 29-01-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2024/TLST-HS ngày 04-01-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 16-01-2024 đối với bị cáo:
Lý Văn K (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 10 tháng 10 năm 1977 tại xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nơi thường trú: Xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng (nơi cư trú cũng là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn R, sinh năm 1954 và bà Triệu Thị T, sinh năm 1953; Bị cáo chung sống như vợ chồng với bà Hoàng Thị S, sinh năm 1977; con: Bị cáo có 02 con, con thứ nhất sinh năm 1998, con thứ hai sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27-4-2012 Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về hành vi trộm cắp tài sản theo Bản án số 04/2012/HSST; Ngày 06-3-2015 Công an huyện Trà Lĩnh (nay là Công an huyện Trùng Khánh), tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với hình thức phạt tiền theo Quyết định số 28/QĐ-XPVPHC; Ngày 26-4-2021 Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức cảnh cáo theo Quyết định số 49/QĐ-XPHC; Ngày 29-9-2021 Ủy ban nhân dân xã Tổng Cọt, huyện Hà Quảng ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là 03 tháng về hành vi nghiện và sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 114/QĐ-UBND, ngày 29-12-2021 bị cáo đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19-10-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, có mặt.
- Người bào chữa: Bà Lục Thị Hoan - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng bào chữa cho bị cáo Lý Văn K, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị S, sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 50 phút, ngày 19-10-2023 Công an xã Tổng Cọt, huyện Hà Quảng chủ trì phối hợp với Tổ công tác Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Hà Quảng và Tổ công tác Đồn Biên phòng Tổng Cọt, huyện Hà Quảng làm nhiệm vụ tại xóm C, xã T, huyện H thì phát hiện, bắt quả tang Lý Văn K sinh năm 1977, trú tại xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, phát hiện tại túi áo ngực bên phải của Lý Văn K có 02 (hai) gói giấy màu trắng, bên trong 02 (hai) gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong số chất bột theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, còn tạm giữ tài sản, đồ vật đối với Lý Văn K 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu xám đen, biển kiểm soát 11H1 - 276.xx (kèm theo chìa khóa xe); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Lý Văn K.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Lý Văn K khai nhận: Khoảng hơn 12 giờ ngày 19-10-2023, K một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu xám đen, biển kiểm soát 11H1 - 276.xx đến thị trấn T, huyện Tr, tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, K gặp 01 (một) nam thanh niên khoảng 17 tuổi (K không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) nên đã nhờ đi mua ma túy với số tiền 500.000 đồng, nam thanh niên này đồng ý. Đợi khoảng 10 phút thì thấy nam thanh niên quay lại và đưa cho K 02 (hai) gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng, K giấu 02 (hai) gói ma túy vào túi áo ngực bên phải đang mặc. Sau đó, K điều khiển xe mô tô quay về nhà. Trên đường về, khi đến địa phận xóm C, xã T, huyện H thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.
Ngày 19-10-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng ban hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 11/LKX-CQCSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý Văn K tại xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Quá trình khám xét chỗ ở của K không thu giữ tài liệu, đồ vật gì vi phạm pháp luật.
Ngày 19-10-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng phối hợp với các thành phần chức năng mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng vụ án và lấy mẫu gửi giám định. Kết quả: Số chất bột màu trắng qua bắt quả tang Lý Văn K được gói trong 02 (hai) gói giấy màu trắng có khối lượng tịnh là 0,21g (không phẩy hai mươi mốt gam).
Ngày 20-10-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng ra Quyết định trưng cầu giám định số: 44/QĐ-CQCSĐT để trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng giám định số chất bột thu giữ được của Lý Văn K qua bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số: 554/KL-KTHS ngày 27-10-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSHQ ngày 02-01-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố bị can Lý Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Người bán ma túy cho bị cáo không xác định được, vì vậy không đủ cơ sở để xử lý trong cùng vụ án.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lý Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Văn K từ 12 tháng đến 16 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định, là người sử dụng ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong đúng quy định của pháp luật, mặt trước ghi “Vật chứng (nghi Heroine) phát hiện bắt quả tang đối với Lý Văn K vào ngày 19-10-2023”, mặt sau phong bì có chữ ký của Lý Văn K và thành phần tham gia niêm phong cùng 04 (bốn) hình dấu đỏ giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu xám đen, biển kiểm soát 11H1 - 276.xx (thực tế là màu đỏ đen), kèm theo chìa khóa và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy ngày 13-10-2021 của Công an huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng số 002259 mang tên Lý Văn K.
Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong bản Luận cứ bào chữa cho bị cáo Lý Văn K, người bào chữa nhất trí với kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các yếu tố sau đây: Bị cáo sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ học vấn thấp (04/12) nên nhận thức về pháp luật hạn chế. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo rất thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải, mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấ p nhất mà Viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo và miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị S trình bày: Bà và bị cáo Lý Văn K tổ chức đám cưới từ năm 1993 và chung sống với nhau từ đó cho tới nay với danh nghĩa là vợ chồng. Bà và Lý Văn K không đăng ký kết hôn nên không có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu xám đen, biển kiểm soát 11H1 - 276.xx là chiếc xe Bà cùng Lý Văn K lao động tích góp tiền, vay Ngân hàng để mua, sau khi mua được xe bị cáo K là người đi đăng ký và giấy tờ xe cũng mang tên của Lý Văn K. Việc bị cáo K mang xe đi đăng ký Bà biết và hoàn toàn đồng ý. Nay tại phiên tòa, Bà yêu cầu được trả lại chiếc xe mô tô nói trên.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản Cáo trạng. Tại phần tranh luận, bị cáo Lý Văn K, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị S không có ý kiến tranh luận và nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định, vật chứng của vụ án được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ căn cứ và cơ sở kết luận: Do bản thân sử dụng trái phép chất ma túy nên khoảng hơn 12 giờ ngày 19-10-2023, Lý Văn K điểu khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu xám đen, biển kiểm soát 11H1 - 276.xx đến thị trấn T, huyện Tr, tỉnh Cao Bằng để tìm mua Heroine. Khi đến nơi, K gặp và nhờ 01 (một) nam thanh niên không quen biết đi mua giúp Heroine với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được, K cất số Heroine trong túi áo ngực bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay về nhà. Khi về đến địa phận thuộc xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang. Số ma túy thu được qua bắt quả tang là 0,21g (không phẩy hai mươi mốt gam) với kết quả giám định là ma túy, loại “Heroine” (Bản kết luận giám định số: 554/KL-KTHS ngày 27-10-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng). Đây là những chứng cứ xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Chứng cứ mà Viện kiểm sát đưa ra là đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, nhận thức được những tác hại nguy hiểm của ma túy đối với sức khỏe con người, đối với cộng đồng xã hội và việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật. Nhưng, do lệ thuộc vào chất ma túy, không làm chủ được bản thân bị cáo đã sa đà vào tệ nạn ma túy và cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma tuý đang ngày càng diễn biến phức tạp, làm gia tăng tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lý Văn K sinh ra và lớn lên tại xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Xét về nhân thân, bị cáo đã bị Tòa án xét xử, kết án; bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần, mặc dù đã được xóa án tích, xóa tiền sự nhưng điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng, cải tạo, rèn luyện bản thân mà tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trước Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.
[3] Về quyết định hình phạt:
Với tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và quy định của pháp luật hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước đây, bị cáo đã từng bị Tòa án kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội, do đó cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ sức răn đe, đồng thời làm gương cho người khác, phục vụ công tác phòng, đấu tranh chống tội phạm ma túy ở địa phương. Xét đề nghị áp dụng pháp luật và ra mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy, bị cáo là người sử dụng ma túy, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử lý như sau:
- Chất ma túy thu được của bị cáo Lý Văn K (được niêm phong theo quy định) kết quả giám định là Heroine, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy;
- Xét việc bà Hoàng Thị S và bị cáo K yêu cầu trả lại cho bà S chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu xám đen, biển kiểm soát 11H1 - 276.xx (số máy JA52E0295800, số khung RLHJA384XMY133267, kèm chìa khóa xe và Giấy chứng nhận đăng ký xe số 002259 mang tên Lý Văn K), Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù bị cáo và bà S đều xác nhận số tiền mua xe do bị cáo và bà S cùng tích góp, vay Ngân hàng để mua, tuy nhiên trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều thể hiện nộp lệ phí trước bạ, Giấy đăng ký quyền sở hữu xe (ngày 13-10-2021) đều mang tên riêng của bị cáo Lý Văn K, không có tên bà Hoàng Thị S trong các loại giấy tờ nêu trên; ngoài lời khai thì các bên cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác. Như vậy, chiếc xe này đã được đăng ký và cơ quan có thẩm quyền đã công nhận quyền sở hữu cho bị cáo K theo quy định tại Thông tư số 15/2014/TT-BCA, ngày 04-4-2014 và Thông tư số 58/2020/TT-BCA, ngày 16-6-2020 của Bộ Công an, mà không công nhận quyền sở hữu tài sản cho một chủ thể nào khác. Như vậy, Người có quyền sở hữu về tài sản phải có trách nhiệm sử dụng tài sản không được trái pháp luật. Khi bị cáo K làm thủ tục đăng ký và được công nhận quyền sở hữu thì bà S cũng nhất trí và không có khiếu nại gì. Mặt khác, bản thân bị cáo và bà Hoàng Thị S cũng thừa nhận hai người chung sống từ năm 1993, từ đó đến nay không đi đăng ký kết hôn. Như vậy, về cơ sở pháp lý thì giữa bị cáo và bà Hoàng Thị S không phải là vợ chồng hợp pháp, do đó căn cứ vào các quy định của pháp luật nêu trên thì không đủ cơ sở để kết luận chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng. Bị cáo K đã dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình làm phương tiện cho bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Tòa không thể chấp nhận yêu cầu của bà S và bị cáo K đòi trả lại chiếc xe cho bà S, mà cần tịch thu, phát mại chiếc xe nộp tiền vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
[6] Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Lý Văn K tại thị trấn T, huyện Tr, tỉnh Cao Bằng vào ngày 19-10-2023. Do không biết họ tên, địa chỉ cụ thể cũng như đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng không đủ thông tin để tiến hành điều tra, xử lý là có căn cứ.
[8] Về án phí: Bị cáo Lý Văn K là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo đã có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lý Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lý Văn K 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 19-10-2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong đúng quy định của pháp luật, mặt trước ghi “Vật chứng (nghi Heroine) phát hiện bắt quả tang đối với Lý Văn K vào ngày 19-10-2023”, mặt sau phong bì có chữ ký của Lý Văn K và thành phần tham gia niêm phong cùng 04 (bốn) hình dấu đỏ giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu xám đen, biển kiểm soát 11H1 - 276.xx số máy: JA52E0295800, số khung: RLHJA384XMY133267 (thực tế là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI màu đỏ đen, biển kiểm soát 11H1 - 276.xx, số máy: JA52E0295800, số khung: RLHJA384XMY133267), xe không có gương và tay phanh bị gãy, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy ngày 13-10-2021 của Công an huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng số 002259 mang tên Lý Văn K.
Xá c nhận: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã chuyển vật chứng, tài sản trên sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Quảng tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03-01-2024.
3. Về án phí:
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Miễn án phí hình sự hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Văn K.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo về phần quyền lợi liên quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 02/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 02/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hà Quảng - Cao Bằng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về