Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy 125/2024/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 125/2024/HS-ST NGÀY 11/04/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 27/3/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng N (tên gọi khác: Mít); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/01/1995; tại tỉnh Khánh Hoà; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Nơi ở hiện nay: Kiệt S đường H, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Đặng K(T) đã chết và con bà: Trần Thị Ý; sinh năm 1959; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 8 anh em ruột, bị cáo là con út trong gia đình.

* Quá trình nhân thân: Ngày 29/9/2015 bị Tòa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 216/2015/HSST; bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/12/2015).

Ngày 18/6/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 07 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 98/2020/HSST; bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2020).

Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tam giữ từ ngày 11/9/2023, khởi tố, chuyển tạm giam từ ngày 16/9/2023 cho đến nay tại Trai tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.

* Người chứng kiến: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1955; Địa chỉ: C N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 11/9/2023, Đặng N đi bộ đến khu vực đường T, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tìm mua ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Khi đến khu vực đường T, N gặp một thanh niên không quen biết (không xác định được tên tuổi địa chỉ) mua được 05 viên ma túy loại “Hồng phiến”, với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N thu giấu vào túi quần đang mặc trên người và đi về nơi ở của mình.

Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, N đi bộ đến trước số nhà B N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng liên quan.

* Vật chứng tạm giữ:

Thu giữ trên người Đặng N 01 gói ni lòng màu trắng bên trong chứa 05 viên nén màu đỏ; 01 điện thoại di động màu đen có số Imei 1: 865717063036381; số Imei 2: 865717063036399, bên trong gắn sim số 0848580xxx;

* Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 11/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng N tại kiệt số 58 Hàn M, phường V, thành phố H, nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

* Qua xét nghiệm chất ma túy có trong cơ thể Đặng N ngày 11/9/2023, có kết quả: Dương tính với chất ma túy.

* Bản Kết luận giám định số: 550/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận về vật chứng nghi là ma túy thu giữ được trong vụ án như sau: “05 (Năm) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định có tổng khối lượng là: 0,4894g (Không phẩy bốn tám chín bốn gam), là ma tuý, loại Methamphetamine”.

- Sau khi giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiếp tục tạm giữ gồm:

0,2894g (Không phẩy hai tám chín bốn gam) mẫu bột được nghiền từ 05 viên nén có dạng hình trụ tròn màu đỏ;

Các vật dụng dùng để bao gói niêm phong khi gửi giám định.

(Tất cả được niêm phong lại theo quy định) Bản cáo trạng số: 99/CT-VKS-HS ngày 01/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Đặng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Đặng N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/9/2023.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, tuyên xử;

Tịch thu tiêu hủy đối với 0,2894 (không phẩy hai tám chín bốn gam) mẫu bột được nghiền từ viên nén có dạng hình trụ tròn màu đó là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định.

Đối với 01 điện thoại di động màu đen có số Imei 1: 8657117063036381; số Imei 2: 865717063036399, bên trong gắn thể sim số 0848580xxx bị cáo không dùng vào việc liên lạc để mua ma tuý sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với đối tượng nam thanh niên bán trái phép chất ma tuý cho bị cáo Đặng N, do không xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Vào 16 giờ 20 phút ngày 11/9/2023, tại khu vực trước số nhà B N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Đặng N đang có hành vi tàng trữ trái phép:0,4894g(Không phẩy bốn tám chín bốn gam) ma tuý loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo về hành vi trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Đặng N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép ma túy nhằm sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập nên bị cáo đã phạm tội. Bị cáo đã từng bị xử phạt tù nhưng sau khi chấp hành án xong bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, trực tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, sự phát triển của nòi giống và làm tăng tệ nạn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng chống tội phạm ma tuý trên địa bàn như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Từ nhận định và căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,2894 (không phẩy hai tám chín bốn gam) mẫu bột được nghiền từ viên nén có dạng hình trụ tròn màu đó là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định, các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H. Đây là vật chứng tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động màu đen có số Imei 1: 8657117063036381; số Imei 2: 865717063036399, bên trong gắn thẻ sim số 0848580xxx bị cáo không dùng vào việc liên lạc để mua ma tuý sử dụng nên Hội đồng xét xử cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với đối tượng nam thanh niên bán trái phép chất ma tuý cho bị cáo Đặng N do không xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Đặng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Đặng N 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 11/9/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy 0,2894 (không phẩy hai tám chín bốn gam) mẫu bột được nghiền từ viên nén có dạng hình trụ tròn màu xám là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định, các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong kín bằng giấy màu trắng và băng keo trong, bên ngoài có hai dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T, hai chữ ký ghi họ tên của điều tra viên Lê Thanh Q, hai chữ ký ghi họ tên giám định viên Trần N và dòng chữ “Hiện vật mẫu vật vụ Đặng N bắt ngày 11/9/2023”.

- Đối với 01 điện thoại di động màu đen có số Imei 1: 8657117063036381; số Imei 2: 865717063036399, bên trong gắn thẻ sim số 0848580xxx bị cáo không dùng vào việc liên lạc để mua ma tuý sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.

Các vật chứng có đặc điểm như mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, Buộc bị cáo Đặng N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

79
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy 125/2024/HS-ST

Số hiệu:125/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Huế - Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/04/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về