Bản án về tội mua bán trái phép hóa đơn số 72/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 72/2023/HS-ST NGÀY 26/07/2023 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 60/2023/HSST ngày 12 tháng 06 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/QĐXXST-HS ngày 05/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/HSST-QĐ ngày 17/7/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1994; ĐKHKTT: Thôn H, xã P, huyện S, Thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Số C Y, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Viên chức; trình độ văn hóa lớp 12/12; con ông Nguyễn Thiện K, sinh năm 1965; con bà: Đồng Thị N, sinh năm 1969; Chồng: Nguyễn Quang T, sinh năm 1993; Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Hoàng Tám P, Luật sư, Văn phòng L; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Chu Ngọc H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Ngô Mạnh T1, sinh năm 1977; địa chỉ: Số B ngách F P, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Vũ Thị C, sinh năm 1990; Địa chỉ: Căn hộ B chung cư S C, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Ngọc Thảo P1, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện B, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1994, hiện ở số C Y, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội, là Đảng viên, viên chức khoa vật lý xạ trị Bệnh viện K, cơ sở số 30 Cầu B, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. Nguyễn Thị Thanh H đăng ký, sử dụng số điện thoại “03876276xx”, “0877929xxx” và tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Bạo Loạn”, tài khoản Z tên “Thanh Hồng” để tham gia mạng xã hội.

Quá trình sử dụng mạng xã hội, Nguyễn Thị Thanh H thấy trên một số hội nhóm facebook có người đăng bài mua, bán hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT). Vì vậy, Nguyễn Thị Thanh H đã này sinh ý định và sử dụng mạng xã hội để mua, bán hóa đơn giá trị gia tăng nhằm kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2022, Nguyễn Thị Thanh H đã có hành vi mua và bán trái phép 23 hóa đơn GTGT (đều là hóa đơn điện tử, đã ghi đầy đủ nội dung) để thu lời bất chính. Cụ thể như sau:

1. Tháng 11/2022, anh Chu Ngọc H1, sinh năm 1985, ở Thôn C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hà Nội, là nhân viên của Công ty TNHH Đ, MST 0110188xxx, địa chỉ trụ sở: Số H phố P, phường Q, Thị xã S, Thành phố Hà Nội, đã sử dụng tài khoản Facebook có tên “Ngọc H1” để tìm và mua được hóa đơn của H. Anh H1 sử dụng tài khoản Facebook tên “Ngọc H1” để nhắn tin trao đổi, giao dịch và gửi thông tin về mặt hàng, giá trị tiền hàng cần viết trên hóa đơn cho H để mua hóa đơn GTGT nhằm được Công ty Đ thanh toán tiền.

Qua mạng xã hội, Nguyễn Thị Thanh H đã mua 17 hóa đơn GTGT của các công ty khác nhau (H không nhớ mua của ai) để bán cho anh H1 17 tờ hóa đơn điện tử đã ghi đầy đủ nội dung, tổng cộng số tiền ghi theo hóa đơn là 2.943.440đ của 07 Công ty. Cụ thể như sau: 02 (hai) Hóa đơn GTGT của Công ty TNHH X gồm số 508 ngày 25/11/2022, số 509 ngày 25/11/2022. 05 (năm) Hóa đơn GTGT của Công ty TNHH T8 gồm số 871 ngày 15/11/2022, số 1684 ngày 24/11/2022, số 2324 ngày 03/12/2022, số 2478 ngày 05/12/2022, số 2522 ngày 06/12/2022. 03 (ba) Hóa đơn GTGT của Công ty TNHH D2 gồm số 2218 ngày 03/12/2022, số 2333 ngày 05/12/2022, số 2407 ngày 06/12/2022. 03 (ba) Hóa đơn GTGT của Công ty TNHH K1 gồm số 693 ngày 03/12/2022, số 751 ngày 05/12/2022, số 1398 ngày 05/12/2022. 03 (ba) Hóa đơn GTGT của Công ty TNHH K1 gồm số 39 ngày 18/11/2022, số 232 ngày 22/11/2022, số 935 ngày 08/12/2022. 01 (một) Hóa đơn GTGT của Công ty TNHH K1 số 961 ngày 08/12/2022.

Để thanh toán tiền mua hóa đơn, anh Chu Ngọc H1 đã sử dụng tài khoản số 04072757701- Ngân hàng T9, chi nhánh S1 chuyển khoản cho H tổng số tiền 7.380.000đ.

Tuy nhiên, sau khi mua được hóa đơn, do bận nhiều công việc nên anh H1 chưa in những hóa đơn trên để thanh toán tiền với Công ty Đ.

Cơ quan điều tra thu giữ của anh Chu Ngọc H1: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng, không lắp sim thẻ, điện thoại đã qua sử dụng. Đây là điện thoại anh H1 sử dụng để giao dịch mua hóa đơn GTGT của Nguyễn Thị Thanh H.

2. Công ty TNHH T10, MST 0109154xxx, địa chỉ trụ sở: Số C P, phường K, quận H, Thành phố Hà Nội (địa chỉ theo địa giới hành chính hiện nay: Thừa đất 99C bản đồ 41, tổ I, phường K, quận H, TP Hà Nội), hoạt động trong lĩnh vực may mặc do chị Hoàng Thị Y, sinh năm 1992, làm Giám đốc và anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1990 phụ trách, quản lý mảng kế toán. Tháng 6/2022, anh D thuê chị Vũ Thị C, sinh năm 1990, ở Căn hộ B chung cư S số D C, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội (là chị dâu của H) kê khai, báo cáo thuế cho Công ty T10. Khoảng tháng 11/2022, sau khi kiểm tra thấy Công ty T10 thiếu hóa đơn, chứng từ đối với một số hàng hóa dịch vụ đầu vào thì chị C đã trao đổi, đề nghị anh D cho cân đối, hợp thức đối với số hàng hóa này. Do không hiểu biết về lĩnh vực kế toán nên anh D đã đồng ý để chị C tự cân đối, chi phí phát sinh anh D sẽ thanh toán khi thanh toán tiền lương. Vì có mối quan hệ chị em nên chị C đã nhờ H mua giúp hóa đơn GTGT về may mặc. H đồng ý, sau đó liên lạc, trao đối với anh Ngô Mạnh T1, sinh năm 1977, ở P, P, T là Giám đốc công ty TNHH T11, MST 0109860xxx, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực may mặc mua 04 Hóa đơn GTGT gồm số 23 ngày 17/11/2022, số 24 ngày 18/11/2022, số 28 ngày 19/11/2022, số 30 ngày 21/11/2022 để bán cho chị Vũ Thị C, tổng cộng số tiền ghi theo hóa đơn là 3.436.000đ.

Anh Ngô Mạnh T1 sử dụng tài Zalo tên “Ngothangxnk” để nhắn tin, gửi hóa đơn cho H qua tài khoản Zalo tên “Thanh Hồng” để H chuyển cho chị C. Sau khi mua được hóa đơn, chị Vũ Thị C đã tự ứng tiền cá nhân ra để trả cho H nhưng không thực hiện việc in hóa đơn và kê khai hóa đơn, không nói cho anh Nguyễn Văn D biết việc đã mua hóa đơn nên Công ty T10 không biết gì về việc chị C mua hóa đơn GTGT thể hiện việc Công ty T11 xuất hóa đơn bán hàng cho Công ty T10.

H đã sử dụng tài khoản số 1030063969xx- Ngân hàng V, chi nhánh Q chuyển tiền đến tài khoản số 9865380ccc- Ngân hàng V1, Phòng G để thanh toán tiền mua số lượng 04 hóa đơn GTGT cho anh Ngô Mạnh T1, vào các ngày 19/11/2022 chuyển số tiền 2.500.000 đồng và ngày 22/11/2022 chuyển số tiền 936.000 đồng. Còn việc thanh toán tiền 04 hóa đơn trên giữa chị C và H thì cả hai đều không nhớ vì chị em nên thường xuyên gặp nhau, phát sinh nhiều giao dịch liên quan đến tiền (cả chuyển khoản và tiền mặt).

3. Tháng 12/2022, Nguyễn Thị Thanh H tiếp tục mua 02 hóa đơn GTGT của công ty TNHH T11 gồm số 35 ngày 21/12/2022, số 36 ngày 21/12/2022 để bán cho chị Nguyễn Ngọc Thảo P1, sinh năm 1995, ở Thôn V, xã T, huyện B, Thành phố Hà Nội, là nhân viên làm việc tại Ngân hàng A1, chi nhánh H2.Tổng cộng số tiền ghi theo hóa đơn là 1.400.000đ Tại Cơ quan điều tra, chị P1 khai nhận: Chị P1 và anh Đào Tùng D1, sinh năm 1988, ở T, phường T, quận N, Thành phố Hà Nội cùng là nhân viên làm việc tại Ngân hàng A1, chi nhánh H2. Theo quy chế của Ngân hàng thì chị P1, anh D1 được tự may đồng phục và phải nộp hóa đơn, chứng từ để được thanh toán. Tuy nhiên, do chị và anh D1 may đồng phục ở cửa hàng không có hóa đơn nên chị P1 đã mua 02 hóa đơn GTGT của H (01 hóa đơn để quyết toán cá nhân; 01 hóa đơn cho anh Đào T).

Để thực hiện giao dịch, anh T1 tiếp tục sử dụng tài khoản Zalo tên “Ngothangxnk” gửi 02 hóa đơn trên đến tài khoản Z “Thanh Hồng” để H gửi đến tài khoản Zalo của chị Nguyễn Ngọc T2 P1 tên “Thao Phuong N1”. Sau khi mua được hóa đơn, chị P1 và anh Đào Tùng D1 đã nộp về Ngân hàng để được thanh toán tiền đồng phục.

Ngày 22/12/2022, chị P1 đã sử dụng tài khoản số 148220700xxxx- Ngân hàng A1, chi nhánh H2 chuyển khoản số tiền 1.440.000 đồng đến số tài khoản 1015207xxx- Ngân hàng V1, chi nhánh N3 của H để thanh toán tiền mua 02 hóa đơn GTGT. Tuy nhiên, sau khi nhận được tiền từ chị P1 thì H đã trao đổi và được anh Ngô Mạnh T1 đồng ý cho nợ số tiền mà H mua 02 hóa đơn trên của anh T1.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an Thị xã S quyết định khám xét nơi ở, đồ vật, tài liệu của H nhưng không thu giữ gì.

Ngoài ra, qua tra cứu tài khoản của Nguyễn Thị Thanh H tại các ngân hàng còn phát hiện:

Tại tài khoản số 1015207xxx- Ngân hàng V1, chi nhánh N3 của Nguyễn Thị Thanh H có 01 giao dịch liên quan đến việc mua bán hóa đơn giữa Nguyễn Thị Thanh H với anh Trịnh Văn T3- sinh năm 1994, ở Thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam.

Tại Cơ quan điều tra, anh Trịnh Văn T3 khai nhận: Anh T3 làm công việc tự do và mua bán hàng hóa là văn phòng phẩm. Anh đăng ký, sử dụng tài khoản số 15303xxxx- Ngân hàng V2. Quá trình hoạt động kinh doanh, anh T3 có mua một số hàng hóa là văn phòng phẩm nhưng không có hóa đơn GTGT. Khoảng đầu tháng 12/2022, có khách hàng (anh T3 không nhớ thông tin, địa chỉ) liên hệ đặt mua hàng hóa là văn phòng phẩm (trị giá tiền hàng khoảng 10.000.000 đồng) của anh T3 và yêu cầu phải xuất hóa đơn GTGT thể hiện việc mua bán. Vì muốn bán được hàng nên anh T3 đã xin thông tin của người mua hàng để viết trên hóa đơn và lên mạng xã hội để tìm mua hóa đơn. Anh đã mua của H 01 hóa đơn GTGT với giá tiền 700.000 đồng. Ngày 15/12/2022, anh đã chuyển khoản đến tài khoản số 1015207xxx của H với nội dung “Tinh ck hd vpp” để thanh toán tiền mua 01 hóa đơn GTGT. Đối với hóa đơn này, H mua với giá 500.000 đồng rồi bán cho anh T3 với giá tiền 700.000 đồng để hưởng lợi số tiền 200.000 đồng. Tuy nhiên, H không nhớ mua của ai, giao dịch ra sao. Anh Trịnh Văn T3 và Nguyễn Thị Thanh H không cung cấp được thông tin, tài liệu gì có liên quan đến giao dịch mua bán hóa đơn trên, không cung cấp được tên đơn vị đã xuất, nhận hóa đơn.

Tại tài khoản số 2161000056xxx- Ngân hàng B, chi nhánh Đ1 của Nguyễn Thị Thanh H có 01 giao dịch ngày 02/11/2022 (Phát sinh có “Số tiền 350.000 đồng”; Diễn giải “068704070157937, tai H3. Ck hd”).

Nguyễn Thị Thanh H không nhớ giao dịch nhận đối với số tiền 350.000 đồng trên là do ai chuyển khoản; không xác định được nội dung giao dịch là gì.

Ngày 08/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra- C1 đã có văn bản đề nghị Ngân hàng B, chi nhánh Đ1 cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến giao dịch trên. Tại văn bản số 281A/CV-BIDV.DDA ngày 13/3/2023 của Ngân hàng B, chi nhánh Đ1 thể hiện không cung cấp được thông tin, tài liệu theo yêu cầu. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra- CATX S không có cơ sở để xác định giao dịch chuyển khoản trên có phải là giao dịch thanh toán tiền mua bán hóa đơn hay không.

Đối với công ty TNHH X, MST: 0106799470, địa chỉ trụ sở tại Số E N, phường T, quận C, TP Hà Nội: Người đại diện theo pháp luật là anh Dương Hồng S- sinh năm 2000, ở Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; sử dụng Căn cước công dân, số: 030200002xxx- làm Giám đốc. Tuy nhiên, anh Dương Hồng S không thành lập và không biết gì về Công ty X. Năm 2020, anh S bị rơi mất Căn cước công dân, anh đã làm lại và được cấp Căn cước công dân mới.

Công ty TNHH T8, MST: 0108591xxx, địa chỉ trụ sở cử tại Thôn P, xã T, huyện C, TP Hà Nội, chuyển địa chỉ trụ sở mới tại Số A đường G, tổ E, phường G, quận L, TP Hà Nội: Người đại diện theo pháp luật là anh Huỳnh Công T4- sinh năm 1986, ở Số A L, xã P, huyện N, TP Hồ Chí Minh; Sử dụng Chứng minh nhân dân, số: 024636261- làm Giám đốc. Hiện anh Huỳnh Công T4 không thường trú tại địa phương.

Công ty TNHH D2, MST: 0108909xxx, địa chỉ trụ sở cũ tại Thôn P, xã T, huyện C, TP Hà Nội, chuyển địa chỉ trụ sở mới tại Tầng B, số C phố T, phường Ô, quận Đ, TP Hà Nội: Người đại diện theo pháp luật là anh Nguyễn Văn T5- sinh năm 1990, ở Số A đường B B, phường A, quận F, TP Hồ Chí Minh; Sử dụng Chứng minh nhân dân, số: 025773193- làm Giám đốc.Hiện anh Nguyễn Văn T5 không cư ngụ tại địa phương.

Công ty TNHH K1, MST: 0110183xxx, địa chỉ trụ sở tại B08 tầng 1, tòa nhà R, số F đường V, phường T, quận T, TP Hà Nội: Người đại diện theo pháp luật là anh Nguyễn Chí T6- sinh năm 1991, ở Số A G, tổ A, khu phố F, phường T, quận T, TP Hồ Chí Minh; Sử dụng Căn cước công dân, số: 0870910000xx- làm Giám đốc.Hiện anh Nguyễn Chí T6 không cư ngụ tại địa phương.

Công ty TNHH K1, MST: 0110182xxx, địa chỉ trụ sở tại Số C phố H, phường T, quận H, TP Hà Nội: Người đại diện theo pháp luật là anh Ngô Thành P2- sinh năm 1989, ở Số B N, phường A, quận H, TP Hồ Chí Minh; Sử dụng căn cước công dân, số: 079089016732- làm Giám đốc. Hiện anh Ngô Thành P2 không thường trú, tạm trú tại địa phương.

Công ty TNHH K1, MST: 0110183204, địa chỉ trụ sở tại B Tầng A, tòa nhà N, số A P, phường N, quận B, TP Hà Nội: Người đại diện theo pháp luật Nguyễn Anh T7- sinh năm 1990, ở Số A T, phường H, quận D, TP Hồ Chí Minh; Sử dụng Căn cước công dân, số: 079090170987- làm Giám đốc. Hiện anh Nguyễn Anh T7 và gia đình không còn cư trú tại địa phương.

Công ty TNHH T11, MST: 0109860xxx, địa chỉ trụ sở tại Số B ngách F P, phường P, quận T, TP Hà Nội: Người đại diện theo pháp luật là anh Ngô Mạnh T1, sinh năm 1977, ở Số B ngách F P, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội, làm Giám đốc. Anh T1 là người đã bán trái phép 06 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của Công ty T11 cho Nguyễn Thị Thanh H để hưởng lợi tổng số tiền 3.436.000 đồng (chưa tính số tiền 1.200.000 đồng H chưa trả). Tuy nhiên, số lượng hóa đơn chưa đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự mà hành vi của anh T1 đã vi phạm hành chính quy định tại Nghị định số 125/2020/NĐ/CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Vì vậy, Cơ quan CSĐT- Công an T đã có văn bản gửi đến Cục thuế quận T thông báo về vi phạm trên và đề nghị xem xét, xử lý đối với anh Ngô Mạnh T1 và Công ty T11 theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Thị Thanh H:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max, bên trong lắp 01 sim Viettel số 8984048000064525657, điện thoại đã qua sử dụng. Đây là điện thoại H sử dụng để giao dịch mua, bán hóa đơn GTGT.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus, bên trong lắp 01 sim Itel số 89840810008751757721, điện thoại đã qua sử dụng. Đây là điện thoại H sử dụng để giao dịch mua, bán hóa đơn GTGT.

- Thu giữ của anh Ngô Mạnh T1: 01 (một) chiếc điện thoại di động S2 A31, imei1: 354565116894589; imeil2: 354566116894587, bên trong lắp 01 thẻ sim Viettel số 8984048000034325202 và 01 thẻ nhớ SanDisk Ultra 64Gb, điện thoại đã qua sử dụng. Đây là điện thoại anh T1 sử dụng để giao dịch bán trái phép hóa đơn GTGT cho Nguyễn Thị Thanh H.

- Thu giữ của anh Chu Ngọc H1 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng, không lắp sim thẻ, điện thoại đã qua sử dụng. Đây là điện thoại anh H1 sử dụng để giao dịch mua hóa đơn GTGT của Nguyễn Thị Thanh H.

Bản cáo trạng số 62/CT- VKS ngày 09 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thị Thanh H về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1 Điều 203 của Bộ luật hình sự.

Trước khi mở phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đã tự nguyện nộp số tiền 5.215.300đ tại Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội, là tiền được hưởng lợi bất chính từ việc mua bán trái phép hóa đơn.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Sơn Tây tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội Mua bán trái phép hóa đơn. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 203, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 70.000.000đ đến 90.000.000đ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính 5.215.300đ của Nguyễn Thị Thanh H đã nộp và 04 chiếc điện thoại di động đã thu giữ. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát cũng như ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà VKS đã đề cập và áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết về pháp luật, gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, số tiền bị cáo thu lợi bất chính không lớn. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị HDXX cho bị cáo được nộp tiền là hình phạt chính và mức tiền phải nộp khởi điểm theo quy định để tạo điều kiện cho bị cáo.

Trong phần tranh luận bị cáo Nguyễn Thị Thanh H không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo H trình bày bản thân đã nhận thức hành vi của minh là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn hận về hành vi của mình, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Viện Kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2022 đến tháng 12 năm 2022, Nguyễn Thị Thanh H đã có hành vi mua 24 Hóa đơn GTGT (đều là hóa đơn điện tử, đã ghi đầy đủ nội dung) của 06 Công ty gồm Công ty TNHH X, Công ty TNHH T8, Công ty TNHH D2, Công ty TNHH K1 nhà hàng K1, Công ty TNHH K1, Công ty TNHH K1. Sau đó, H đã bán trái phép cho anh Chu Ngọc H1 17 hóa đơn GTGT, chị Vũ Thị C 04 hóa đơn GTGT, chị Nguyễn Ngọc P1 Thảo 02 hóa đơn GTGT và anh Trịnh Văn T3 01 hóa đơn GTGT, hưởng lợi số tiền 5.215.300đ (năm triệu hai trăm mười lăm nghìn ba trăm đồng). Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép hóa đơn quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an và an ninh kinh tế ở địa phương nên cần có biện pháp xử lý nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cùng xem xét đánh giá tính chất mức độ của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính là 5.215.300đ; bị cáo có ông nội là người có công cách mạng, bản thân bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền thu lợi bất chính không lớn nên áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và áp dụng các biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 5.215.300đ mà H thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép hóa đơn cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 04 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo và của anh Chu Ngọc H1, anh Ngô Mạnh T1 do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Chu Ngọc H1: Anh H1 là nhân viên Công ty Đ, người trực tiếp trao đổi, giao dịch và mua số lượng 17 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của Nguyễn Thị Thanh H với mục đích để được thanh toán đối với số tiền trước đó anh H1 đã ứng ra mua hàng và chi phí khác trong quá trình làm việc tại Công ty Đ. Tuy nhiên, anh H1 ứng tiền của cá nhân để thanh toán tiền mua hóa đơn, không phải mua hóa đơn với mục đích để bán, không được hưởng lợi gì từ việc mua hóa đơn, chưa thực hiện việc in hóa đơn để nộp và thanh toán tiền của Công ty Đ nên Công ty Đ không biết việc anh H1 mua hóa đơn GTGT. Hành vi của Chu Ngọc H1 không đủ yếu tố cấu thành tội: Trốn thuế, quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự hoặc tội: Mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cơ quan điều tra không căn cứ để xử lý hình sự đối với anh Chu Ngọc H1 và Công ty Đ.

- Đối với chị Nguyễn Ngọc Thảo P1 và anh Đào Tùng D1: Chị P1 và anh D1 là người mua trái phép 02 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của Nguyễn Thị Thanh H với mục đích thanh toán tiền ứng ra để may đồng phục. Tuy nhiên, tổng giá trị tiền hàng sau thuế ghi trên 02 hóa đơn là 24.000.000đồng nên không đủ yếu tố cấu thành tội: Trốn thuế, quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự hoặc tội: Mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi đến Chi cục thuế quận H thông báo về vi phạm trên và đề nghị xem xét, xử lý đối với chị Nguyễn Ngọc Thảo P1 và anh Đào Tùng Dương theo quy định của pháp luật.

- Đối với chị Vũ Thị C và Công ty T10: Chị C là người trực tiếp giao dịch mua số lượng 04 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của Nguyễn Thị Thanh H với mục đích để kê khai, hạch toán hàng hóa dịch vụ đầu vào cho Công ty T10 và được hưởng chênh lệch từ việc mua hóa đơn trên. Tuy nhiên, chị C và đại diện Công ty T10 trình bày chưa kê khai, chị C không được hưởng lợi gì từ việc mua 04 hóa đơn trên, tổng giá trị tiền hàng sau thuế ghi trên 04 hóa đơn là 74.553.600 đồng. Vì vậy, hành vi của chị Vũ Thị C không đủ yếu tố cấu thành tội: Trốn thuế, quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự hoặc tội: Mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với chị Vũ Thị C và Công ty T10.

- Đối với các anh Dương Hồng S, Huỳnh Công T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Chí T6, Ngô Thành P2 và Nguyễn Anh T7 là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc) của các Công ty (X, T8, ADK, Chí T6, T, Tuấn A) thời điểm các Công ty trên phát sinh việc xuất, bán hóa đơn. Tuy nhiên, quá trình điều tra đến nay không có tài liệu gì xác định các anh tham gia vào việc mua, bán trái phép hóa đơn. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý đối với những các trường hợp này.

- Đối với anh Trịnh Văn T3: Anh T3 là người chuyển tiền, thanh toán tiền mua hóa đơn GTGT của Nguyễn Thị Thanh H. Tuy nhiên, anh T3 không thành lập Công ty, không sử dụng hóa đơn mà H bán cho để thực hiện việc mua, bán hóa đơn hoặc kê khai để trốn thuế. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý về hình sự đối với anh Trịnh Văn T3.

- Đối với người bán trái phép hóa đơn GTGT cho Nguyễn Thị Thanh H, H khai không nhớ, không biết tên, tuổi, địa chỉ cũng như không xác định được giao dịch mua hóa đơn được thực hiện cụ thể ra sao. Cơ quan CSĐT- Công an thị xã S không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ.

- Đối với 06 Công ty (X, T8, ADK, Chí T6, T, Tuấn A) là các Công ty mà Nguyễn Thị Thanh H đã mua hóa đơn GTGT. Cơ quan CSĐT- Công an thị xã S đã có văn bản gửi đến Cục thuế Thành phố H thông báo sự việc trên và đề nghị xử lý theo thẩm quyền.

- Đối với Ngân hàng A1, chi nhánh H2: Do Ngân hàng không kiểm soát việc nhân viên may đồng phục như thế nào mà chỉ thanh toán tiền chế độ đồng phục cho nhân viên theo hóa đơn do nhân viên nộp về. Vì vậy, Ngân hàng A1, chi nhánh H2 không biết gì về việc chị Nguyễn Ngọc Thảo P1 và anh Đào Tùng Dương mua, hợp thức đối với 02 hóa đơn GTGT trên. Cơ quan CSĐT- Công an thị xã S có văn bản gửi đến Chi cục thuế quận H đề nghị áp dụng các biện pháp về thuế để có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 203, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị Thanh H 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) về tội : Mua bán trái phép hóa đơn.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.215.300đ (năm triệu hai trăm mười lăm nghìn ba trăm đồng) của Nguyễn Thị Thanh H đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0043395 ngày 10/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP ..

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max, bên trong lắp 01 sim Viettel số 8984048000064525657; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus, bên trong lắp 01 sim Itel số 89840810008751757721, 01 (một) chiếc điện thoại di động S2 A31, imei1: 354565116894589; imeiI2: 354566116894587; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng, không lắp sim thẻ. (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2023 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

63
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội mua bán trái phép hóa đơn số 72/2023/HS-ST

Số hiệu:72/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về