Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 85/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 85/2023/HS-ST NGÀY 24/11/2023 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Khương D, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1991 tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố 2 T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Dương Thị T có vợ là Ngô Thị Hải Y và có 02 con; tiền án; tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2007, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xé xử 30 tháng tù cho hưởng án treo về tội cướp tài sản; ngày 30/9/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử 05 năm 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Bị cáo đã chấp hành xong cả hai bản án nêu trên. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

2/ Lê Ngọc P, sinh ngày 13 tháng 11 năm 1999 tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố 3 Đông, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Lê Văn G và bà Dương Thị L; vợ, con; Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12/11/2022, Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích, ngày 28/12/2022, bị cáo đã nộp phạt xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

3/ Trần Trung A, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2004 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn 9, T, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Trần Cao H và bà Nguyễn Thị Thùy L; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 31/5/2023, Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng (hành vi gây rối từ tháng 4/2021). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Hoàng Thị B, sinh năm 1996; nơi cư trú: Xóm 3, V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”

2/ A Nguyễn H, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”

3/ Chị Trần Thị N, sinh năm 1998; nơi cư trú; Ngõ 15, đường L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 ngày 06/4/2023, tổ công tác của Công an huyện Y phối hợp cùng Công an thị trấn T tiến hành kiểm tra hành chính cơ sở kinh doA karaoke T ở TDP L, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình kiểm tra phát hiện trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng của Trần Trung A, có các tin nhắn bằng ứng dụng Zalo chứa nội dung liên quan đến việc trao đổi, mua bán ma túy giữa Trung A với Nguyễn H. Sau đó, cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tiến hành làm việc với Trung A. Trung A khai nhận đã mua ma túy của Lê Ngọc P, là nhân viên của quán Bar K ở TDP B, thị trấn T với Trung A (hiện P đang ở tại nhà dành cho nhân viên của quán Bar thuê của gia đình ông Nguyễn Văn H). Căn cứ lời khai của Trung A cùng tài liệu thu thập có trong hồ sơ, ngày 06/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc đối với Lê Ngọc P, phát hiện tại phòng thứ nhất tầng 2 (hướng từ ngoài đường vào nhà) chỗ ở của Lê Ngọc P có 08 người gồm: Lê Ngọc P, Vương Xuân B, Nguyễn Khương D, Đặng Quốc TH, Nguyễn Văn M, Đào Đình G, Lê Nguyễn Thị Linh Đ và Hoàng Thị B đang có hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: Tại khu vực để xe trước cửa ra vào phòng khách tầng một 03 bình khí nén màu xA cao 142cm, đường kính đáy 22cm. Thu tại khu vực gầm cầu thang tầng một 07 bình khí nén màu xA cao 67cm, đường kính đáy 16cm. Thu tại phòng ngủ thứ nhất tầng 2 (Hướng từ ngoài vào trong): Tại mặt đệm phòng ngủ 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn, đường kính 31cm, trên mặt đĩa sứ còn bám dính chất bột màu trắng; trên mặt đĩa sứ có 01 thẻ cứng hình chữ nhật màu đen, trên thẻ cứng ghi chữ GUCCI, ký hiệu A1. Tại vị trí mặt sàn dưới đĩa sứ mô tả trên 01 ống hình trụ tròn được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 02 đầu ống được bọc bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá. Tại vị trí cửa sổ 01 túi nilon bên trong chứa 04 viên nén màu nâu và 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể dạng đá màu trắng nghi là ma túy, kí hiệu A2. Tại mặt sàn dưới chiếu trong phòng 02 túi nilon viền màu xA bên trong còn bám dính tinh thể màu trắng, kí hiệu A3. Tại mặt bàn trang điểm đặt ở góc trong cùng bên trái phòng (theo hướng từ cửa nhìn vào) 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng nghi là ma túy, kí hiệu A4. Tại vị trí sàn (trước bàn trang điểm mô tả trên) 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 23cm, trên mặt đĩa còn bám dính chất bột màu trắng, kí hiệu A5. Tại mặt sàn (giáp tường bên trái theo hướng từ cửa nhìn vào) 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu nâu nghi là ma túy, kí hiệu A6. Tại mặt đệm trong phòng 01 đèn laze màu trắng không có nhãn hiệu; 01 đèn laze màu đen model F-009; 01 loa màu xám nhãn hiệu Harman kardon; 01 loa QiXi SK- 2036 và 02 mic kèm; 03 bật lửa gas đều đã cũ, đã qua sử dụng. Tại hộp để đồ đặt cạnh bàn trang điểm mô tả trên 11 túi nilon viền màu đỏ chưa qua sử dụng. Tại mặt sàn (giáp tường bên trái theo hướng từ cửa nhìn vào) 01 laptop nhãn hiệu Dell màu đen. Thu giữ tại phòng ngủ thứ 3 tầng 2: Tại tủ gỗ đặt ở vị trí góc trong cùng bên phải phòng (hướng từ cửa nhìn vào) 02 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 25 cm và 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 15 cm trên mặt đều bám dính chất bột màu trắng, kí hiệu A7. Tại hộp bìa cát tông đặt ở mặt sàn giáp tường (bên trái hướng từ cửa nhìn vào) 02 túi nilon viền màu xA bên trong còn bám dính chất bột màu trắng, kí hiệu A8.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Trung A, Lê Ngọc P, Nguyễn H và Hoàng Văn S, đã khai nhận: Khoảng 21 giờ 00 ngày 01/4/2023, H và S đến quán Bar K để nghe nhạc. Quá trình nghe nhạc, do đều có nhu cầu sử dụng ma túy nên H và S rủ nhau mỗi người góp 1.000.000đ để mua ma túy cùng sử dụng. Sau đó, H nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Trung A hỏi mua của Trung A 01 “chỉ” ma túy “ke”, Trung A đồng ý bán ma túy cho H với giá 2.000.000đ. H đồng ý mua ma túy và dùng tài khoản Ngân hàng của H chuyển vào tài khoản Ngân hàng của Trung A số tiền 2.000.000đ. Sau đó, Trung A gặp Lê Ngọc P tại quán Bar K hỏi mua của P 01 “chỉ” ma túy “ke”, P đồng ý bán ma túy cho Trung A với giá 1.800.000đ, Trung A đồng ý. Sau đó P đi xe taxi đến khu vực ngã tư thị trấn Y gặp và mua được của người đàn ông tên X quê ở Thái Nguyên (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 chỉ ma túy Ke với giá 1.600.000đ. Sau đó, P cầm ma túy về quán Bar đưa cho Trung A. Trung A nhận ma túy rồi chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng cho P số tiền 1.800.000đ. Sau đó Trung A gặp và giao cho H 01 “chỉ” ma túy “ke” như đã thỏa thuận. H nhận ma túy Trung A bán cho rồi cùng với S sử dụng hết.

Quá trình điều tra, D, TH, P, Y, Nguyễn Văn M, Đào Đình G, B, Linh Đ, Trần Thị N đã thành khẩn khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/4/2023 D mua được ma túy “ke” và 09 viên ma túy “kẹo” của một người đàn ông tên X quê ở tỉnh Thái Nguyên (D không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực ngã tư thị trấn Y với giá 5.000.000đ rồi mang đến quán Bar K để sử dụng. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày Đào Đình G đến quán và uống rượu cùng với D. D có rủ P và Y đến uống rượu cùng D và N. sau đó, D có gọi qua ứng dụng Zalo cho người đàn ông tên K ở thành phố V (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) nhờ K gọi cho một nhân viên nữ đến quán Bar để phục vụ, K đồng ý và gọi qua ứng dụng Zalo cho Hoàng Thị B bảo B đến quan Bar, B đồng ý và bắt xe taxi đến quán. Khoảng 23h30 cùng ngày, B đến quán và ngồi uống rượu cùng với nhóm của D. Khoảng 24h cùng ngày, D rủ Đình M, P, Y và B cùng D sử dụng ma túy tổng hợp thì tất cả đều đồng ý. D cầm theo túi nilon bên trong có chứa chất ma túy cùng N, P, Y, B đi sang căn phòng hướng ra ngoài đường tại tầng 2 của ngôi nhà ba tầng giáp với quán bar K. Tại đây, D trải chăn ra nền nhà mục đích để mọi người cùng nhau ngồi xuống và sử dụng ma túy. Do trước đây D đã từng sử dụng ma túy tại căn phòng này nên tại đây đã có sẵn 02 chiếc đĩa hình tròn bằng xứ, 02 đến 03 bật lửa gas, 01 chiếc thẻ cứng bằng nhựa màu đen. D lấy tờ tiền Việt N Polyme mệnh giá 50.000 đồng và dùng tay cuộn tròn như ống hút rồi cắm hai đèn nháy và bật nhạc trong phòng lên, đồng thời bỏ số ma túy đã chuẩn bị sẵn ra một chiếc đĩa xứ để mời mọi người sử dụng ma túy, ai chơi loại ma túy nào thì tự đến lấy và sử dụng. Sau đó, D gọi điện rủ TH đến sử dụng ma túy, TH đồng ý và một lúc sau thì đến quán. Tại đây, D sử dụng 02 viên ma túy kẹo, TH sử dụng 01 viên ma túy kẹo đều bằng hình thức uống với nước Cocacola. Sau đó D đổ ma túy “ke” từ trong túi nilon ra đĩa rồi sử dụng. Sau khi D sử dụng ma túy xong thì B, P, Y, TH, Đình M sử dụng ma túy. Sau khi TH đến thì D có gọi qua ứng dụng Zalo cho phụ nữ tên Tr ở Vĩnh Yên (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) để nhờ Tr gọi cho 1 nhân viên nữ đến quán Bar phục vụ thì Tr đồng ý và đến nhà trọ của Trần Thị N, sinh năm 1998 ở thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh bảo N đến quán Bar tiếp khách, N đồng ý và đi xe taxi đến quán Bar. Khoảng 01h ngày 06/4/2023, N đến cửa quán Bar thì D xuống đón N lên phòng nơi cả nhóm đang sử dụng ma túy. Tại đây, D mời N sử dụng ma túy, N đồng ý và sử dụng ma túy “ke” mà D đã chuẩn bị từ trước. Khoảng 02h ngày 06/4/2023, D gọi điện rủ Nguyễn Văn M đến sử dụng ma túy, M đồng ý và đến sử dụng ma túy cùng nhóm của D. Tại đây, Nguyễn Văn M lấy 01 viên ma túy Kẹo sử dụng bằng hình thức uống trực tiếp cùng với nước Cocacola. Sau khi N đến, D có xuống phòng nghỉ của nhân viên ở dưới tầng 1 để gọi Linh Đ lên để ngồi cùng N. Một lúc sau do không thấy Linh Đ lên, D bảo Y xuống gọi Linh Đ, Y đồng ý xuống gọi Linh Đ lên. Khi Linh Đ lên thì D mời Linh Đ sử dụng ma túy, Linh Đ đồng ý và sử dụng ma túy “ke” do D đã chuẩn bị từ trước. Nhóm của D sử dụng ma túy đến khoảng 05 giờ cùng ngày bị cơ quan Công an đến kiểm tra. Do hốt hoảng nên D đã ném túi nilon chứa ma túy ra ngoài cửa sổ phòng. Cơ quan Công an đã lập biên bản và thu giữ tang vật như trên. Đồng thời đưa các đối tượng có liên quan về trụ sở Công an huyện Y để làm việc, trong đó có Nguyễn Xuân T, sinh năm 1999 ở phường Hội Hợp, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và Nguyễn Văn L, sinh năm 1997 ở phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đều là nhân viên quán Bar K ngủ ở phòng bên cạnh phòng các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 06/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tạm giữ của Trần Trung A, Nguyễn Khương D, Lê Ngọc P, Hoàng Thị B, Trần Thị N và Nguyễn H mỗi người 01 chiếc điện thoại di động theo thứ tự lần lượt là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu hồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng.

Tại Y kết luận giám định số 972 ngày 11/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trên bề mật đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 31cm của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng chất bột màu trắng bám dính trên đĩa sứ do tồn tại ở dạng vết. 04 viên nén màu nâu có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,6684g (một phảy sáu sáu tám bốn gam, không kể bao bì) loại MDMA. Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,9250g (ba phảy chín hai năm không gam, không kể bao bì), loại Ketamine. Tinh thể màu trắng bám dính trong 02 túi nilon viền màu xA của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng tinh thể màu trắng bám dính bên trong 02 túi nilon do tồn tại ở dạng vết. 01 viên nén màu hồng của mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1822 (không phảy một tám hai hai gam, không kể bao bì) loại MDMA. Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 23cm của mẫu ký hiệu A5 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng chất bột màu trắng bám dính trên đĩa sứ do tồn tại ở dạng vết. Chất bột màu nâu của mẫu ký hiệu A6 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0660g (không phảy không sáu sáu không gam, không kể bao bì) loại MDMA. Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt 02 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 25cm và 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 15cm của mẫu ký hiệu A7 gửi giám định đều là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng chất bột màu trắng bám dính trên đĩa sứ do tồn tại ở dạng vết. Chất bột màu trắng bám dính trong 02 túi nilon viền màu xA của mẫu ký hiệu A8 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng chất bột màu trắng bám dính bên trong 02 túi do tồn tại ở dạng vết.

Tại các bản Kết luận giám định số 1006, 1007, 1008, 1010, 1011, 1012, 1018 cùng ngày 14/4/2023; số 1051, 1052, 1054, 1055, 1064 cùng ngày 18/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, đều kết luận: Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của 12 đối tượng lần lượt gồm: Vương Xuân B, Nguyễn Khương D, Nguyễn Văn M, Hoàng Thị B, Trần Trung A, Lê Ngọc P, Nguyễn H, Trần Thị N, Đào Đình G, Nguyễn Xuân T, Đặng Quốc TH, Lê Nguyễn Thị Linh Đ. Tại bản Kết luận giám định số 1056 ngày 18/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Tìm thấy các chất ma túy Methamphetamine và ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn L.

Về nguồn gốc số ma túy Nguyễn Khương D có được để sử dụng ngày 06/4/2023 và số ma túy Lê Ngọc P có được để bán cho Trần Trung A ngày 01/4/2023: Cả D và P đều khai nhận là mua được của một người đàn ông tên X quê ở tỉnh Thái Nguyên nhưng không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể.

Tại Cáo trạng số: 71/CT – VKSYL ngày 28 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Nguyễn Khương D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Ngọc P và Trần Trung A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Khương D từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06/4/2023 Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc P từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06/4/2023 Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Trần Trung A từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt 01 năm 10 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HSST, ngày 31 tháng 5 năm 2023, của Toà án nhân dân thành phố V. Buộc bị cáo Trần Trung A phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 04 năm 01 tháng đến 04 năm 04 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06 tháng 4 năm 2023.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ đối với mẫu vật còn lại sau giám định có ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, toàn bộ mẫu vật trong 05 chai nhựa, 10 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói, 01 thẻ cứng hình chữ nhật, 02 vỏ đầu lọc thuốc lá, 11 túi nilon và 03 bật lửa ga; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000đ của D; tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng của Trần Trung A, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu hồng của Nguyễn Khương D và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng của Nguyễn H, 01 đèn laze màu trắng không có nhãn hiệu, 01 đèn laze màu đen model F-009, 01 loa màu xám nhãn hiệu Harman kardon, 01 loa QiXi SK-2036 và 02 mic kèm đều là tài sản của D; trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của Lê Ngọc P, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của Hoàng Thị B và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của Trần Thị N nhưng tạm giữ điện thoại của P để đảm bảo thi hành án; Truy thu sung quỹ nhà nước của Lê Ngọc P số tiền 1.800.000đ và của Trần Trung A số tiền 2.000.000đ do bán trái phép chất ma túy mà có.

Đối với 10 bình khí nén màu xA (03 bình cao 142cm, đường kính đáy 22cm; 07 bình cao 67cm, đường kính đáy 16cm) là của một người bạn không rõ tên tuổi, địa chỉ của A Vũ Ngọc Dương – chủ quán Bar K để nhờ, không rõ mục đích sử dụng nên tiếp tục tạm giữ tại cơ quan điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

Ý kiến của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Hoàng Thị B, tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra chị khai: Khoảng 24h ngày 05/4/2023, tại quán Bar K thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Khương D tổ chức cho một nhóm người sử dụng ma túy, chị cùng mọi người chơi ma túy đến khoảng 5 giờ ngày 06/4/2023, thì bị Công an huyện Y kiểm tra quan bắt quả tang. Quá trình điều tra chị bị tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, nay chị đề nghị được trả lại.

2/ A Nguyễn H, tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra A khai: Bản thân A bị nghiện ma túy nên ngày 01/4/2023, A cùng Hoàng Văn S có góp tiền để mua ma túy cùng nhau sử dụng, sau đó A đã dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng nhắn tin cho Trung A hỏi mua và A đã bán cho A 01 chỉ ma túy ke với giá 2 triệu đồng. Quá trình điều tra A bị tạm giữ chiếc điện thoại di động nói trên.

3/ Chị Trần Thị N, tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra chị khai: Khoảng 01h ngày 06/4/2023, chị có đến quán Bar K thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi chị đến quán thấy có một số người đang sử dụng ma túy do Nguyễn Khương D tổ chức, chị cùng mọi người chơi ma túy đến khoảng 5 giờ cùng ngày, thì bị Công an huyện Y kiểm tra quan bắt quả tang. Quá trình điều tra chị bị tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, nay chị đề nghị được trả lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Khương D, Lê Ngọc P và Trần Trung A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Nguyễn Khương D khai nhận: Khoảng 24 giờ ngày 05/4/2023, tại nhà trọ quán Bar K thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; D tổ chức cho một nhóm người là bạn của D sử dụng trái phép chất ma túy thì bị tổ tuần tra của Cơ quan Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật là Chất bột màu trắng giám định là ma túy loại Ketamine, Methamphetamine và ma túy MDMA. Lê Ngọc P và Trần Trung A khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 01/4/2023, tại quán Bar K thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc P có hành vi bán 01 “chỉ” ma túy “ke” cho Trung A với giá 1.800.000đ, sau đó Trung A bán lượng ma túy này cho Nguyễn H với giá 2.000.000đ.

[3] Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc; Biên bản sự việc và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Khương D đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Vi hành vi của D đã tổ chức cho 08 đối tượng sử dụng ma túy, có 01 đối tượng chưa đủ 18 tuổi nên D phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm; hành vi của bị cáo Lê Ngọc P và Trần Trung A đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội dA được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, xâm hại, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và lan tràn tệ nạn ma tuý. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu trA phòng chống tội phạm.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

[5.1] Đối với Nguyễn Khương D: Được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 đó là thành khẩn khai báo. Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu đã từng hai lần bị kết án về tội “Cướp tài sản” và tội “Cố ý gây thương tích”, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.

[5.2] Đối với Lê Ngọc P: Được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 đó là thành khẩn khai báo và một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 đó là bản thân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Trước khi phạm tội, bị cáo có một tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

[5.3] Đối với Trần Trung A: Được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 đó là thành khẩn khai báo. Trước khi phạm tội, có nhân thân xấu, ngày 31 tháng 5 năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (hành vi xảy ra từ tháng 4/2021).

Vì vậy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung, cũng như giúp các bị cáo cải tạo thành người công dân tốt. Tại phiên toà các bị cáo luôn thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo. Đối với bị cáo Trần Trung A Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với các bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.

[5.4] Đối với Hoàng Thị B, Trần Thị N, Đặng Quốc TH, Đào Đình G, Nguyễn Văn M, Vương Xuân B, Lê Nguyễn Thị Linh Đ, Nguyễn Xuân T và Nguyễn Văn L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 31/8/2023, Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt mỗi người 1.500.000đ, riêng đối với Linh Đ xử phạt số tiền 750.000đ là phù hợp.

[5.5] Đối với Nguyễn H và Hoàng Văn S có hành vi rủ nhau góp tiền mua ma túy về cùng sử dụng: Do H và S đều là đối tượng nghiện chất ma túy nên không cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 BLHS, hay tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 258 BLHS.

Ngày 31/8/2023, Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn H và Hoàng Văn S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với mức phạt tiền 1.500.000đ là phù hợp.

[5.6] Đối với người đàn ông tên K đã gọi điện cho Hoàng Thị B bảo B đến quán Bar K phục vụ khách và người phụ nữ tên Tr đã bảo Trần Thị N đến quán Bar K phục vụ khách: Do không biết tên tuổi cụ thể của 02 người này nên cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh, làm rõ.

[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ các bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt đối với bị các cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại có ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, toàn bộ mẫu vật trong 05 chai nhựa, 10 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói, 01 thẻ cứng hình chữ nhật, 02 vỏ đầu lọc thuốc lá, 11 túi nilon và 03 bật lửa ga.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000đ của D; tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng của Trần Trung A, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu hồng của Nguyễn Khương D và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng của Nguyễn H, 01 đèn laze màu trắng, 01 đèn laze màu đen model F-009, 01 loa màu xám nhãn hiệu Harman kardon, 01 loa QiXi SK-2036 và 02 mic kèm đều là tài sản của D; trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của Lê Ngọc P, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của Hoàng Thị B và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của Trần Thị N nhưng tạm giữ điện thoại của P để đảm bảo thi hành án; Truy thu của Lê Ngọc P số tiền 1.800.000đ và của Trần Trung A số tiền 2.000.000đ do bán trái phép chất ma túy mà có.

Đối với tài sản là chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Dell l của chị Đỗ Trịnh Phương Th, Cơ quan điều tra đã thu, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 26/6/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại chị Th là phù hợp.

Đối với 10 bình khí nén màu xA là của một người bạn không rõ tên tuổi, địa chỉ của A Vũ Ngọc Dương – chủ quán Bar K để nhờ, không rõ mục đích sử dụng nên tiếp tục tạm giữ tại cơ quan điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

[8] Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Khương D, Lê Ngọc P và Trần Trung A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khương D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lê Ngọc P và Trần Trung A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” sự.

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình Xử phạt bị cáo Nguyễn Khương D 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06 tháng 4 năm 2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06 tháng 4 năm 2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Trung A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HSST, ngày 31 tháng 5 năm 2023, của Toà án nhân dân thành phố V. Buộc bị cáo Trần Trung A phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 04 (bốn) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06 tháng 4 năm 2023.

Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định có ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, toàn bộ mẫu vật trong 05 chai nhựa, 10 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói, 01 thẻ cứng hình chữ nhật, 02 vỏ đầu lọc thuốc lá, 11 túi nilon và 03 bật lửa ga sau khi giám định hoàn lại và toàn bộ bao gói;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000đ của D; tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X của Trần Trung A, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 của Nguyễn Khương D và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X của Nguyễn H, 01 đèn laze màu trắng, 01 đèn laze màu đen, 02 loa và 02 mic kèm đều là tài sản của D; trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của Lê Ngọc P, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của Hoàng Thị B và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của Trần Thị N nhưng tạm giữ điện thoại của P để đảm bảo thi hành án; Truy thu sung quỹ nhà nước của Lê Ngọc P số tiền 1.800.000đ và của Trần Trung A số tiền 2.000.000đ.

Tất cả các vật chứng, số tiền nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Khương D, Lê Ngọc P và Trần Trung A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt cũng có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

33
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 85/2023/HS-ST

Số hiệu:85/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Lạc - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/11/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về