Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 800/2024/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 800/2024/HS-PT NGÀY 28/08/2024 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại H Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hình sự thụ lý số 796/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Ngọc L và các bị cáo khác; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 290/2024/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố H Nội.

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1992; giới tính: N; HKTT: Số 8 ngõ 43 Bạch Đằng, phường CD, quận HK, thành phố HN; chỗ ở: Số 27 ngõ 559 Kim Ngưu, phường VT, quận HBT, thành phố HN; quốc tịch: Việt N; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Thái L và bà Nguyễn A Đ (đã chết); vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 28/03/2023, bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H Nội; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Gia L - Văn phòng Luật sư H, Đoàn Luật sư thành phố H Nội; có mặt.

2. Đỗ Tuấn A, sinh năm 1994; giới tính: N; HKTT: TT Cầu 12, xã Cổ Bi, huyện GL, thành phố HN; chỗ ở: Số 31 Lâm Viên, Khu đô thị Đặng Xá, xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố H Nội; quốc tịch: Việt N; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Đỗ Bình Q và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị Thu H và có 01 con, sinh năm 2020 ; tiền án, tiền sự: Không ; bị bắt ngày 06/11/2023, bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H Nội; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lương H H, Luật sư Nguyễn Văn P và Luật sư Nguyễn Duy H - Công ty Luật TNHH L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H Nội; có mặt.

3. Nguyễn Hồng Th, sinh năm xxxx; giới tính: N; HKTT: Số 44B tổ 7 KP2, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Số 9 ngõ 208 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố H Nội; quốc tịch: Việt N; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị N; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 30/03/2023, bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H Nội; có mặt.

4. Trần Hồng Ngọc D, sinh năm xxxx; giới tính: Nữ; HKTT: Thôn 2, xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, thành phố H Nội; nơi thường trú: Khu 8, thị Cầu, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, thành phố H Nội (theo Lý lịch cá nhân bút lục 334); quốc tịch: Việt N; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị T; có chồng là Nguyễn Văn H và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 30/03/2023, bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H Nội; có mặt.

* Trong vụ án còn có: Bị cáo Đinh Thị Mỹ A có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo; Tòa án nhân dân cấp cao tại H Nội đã ban hành Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 42/2024/QĐPT-HS ngày 26/7/2024 đối với phần hình phạt của bị cáo Đinh Thị Mỹ A; các bị cáo H A Ti, Nguyễn Hải N, Sỹ Thị Hền Tra, Ngô Bá T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị; Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h15’ ngày 28/03/2023, tại khu vực ngõ 559 Kim Ngưu, phường VT, quận HBT, thành phố HN, tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự - Công an thành phố H Nội phát hiện Nguyễn Ngọc L đi xe máy BKS: 29D2 - xxxxx chở phía sau 01 thùng cattong, nghi liên quan đến hoạt động tội phạm về ma túy nên đã yêu cầu Nguyễn Ngọc L về trụ sở Công an phường Vĩnh Tuy để tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra thu giữ trong thùng hàng bìa catton: 03 túi nilon chứa các viên nén màu cam; 02 túi nilon chứa các viên nén màu xám; 01 túi nilon chứa các viên nén màu xanh; 07 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 14 túi nilon chứa chất bột màu hồng; 10 túi nilon chứa chất bột màu cam; 18 túi nilon chứa chất bột màu vàng; 02 cân điện tử. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Ngọc L: 01 xe máy Honda SH, BKS: 29D2 - xxxxx.

* Khám xét chỗ ở của Nguyễn Ngọc L tại số 27 ngõ 559 Kim Ngưu, phường VT, quận HBT, thành phố HN thu giữ: Tại tầng 1: 01 đầu ghi hình camera hiệu Hik Vision. Tại tầng 2: Phòng ngủ bên phải cầu thang: 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng; phòng ngủ bên trái cầu thang: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, trên bề mặt có tinh thể màu trắng; 01 túi nilon chứa thảo mộc khô màu trắng. Tại tầng 3: Trên kệ gỗ gắn tường: 1,5 viên nén màu cam; 01 túi nilon chứa chất bột màu xám; 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng chứa tinh thể màu trắng. Trong kệ gỗ gắn tường, ngăn kéo bên phải: 01 túi nilon chứa 01 viên nén màu xám; 01 túi nilon chứa 01 viên nén màu xám và 01 viên nén màu cam; 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon chứa tinh thể mịn màu trắng; 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng. Trong kệ gỗ gắn tường, ngăn kéo bên trái: 01 túi nilon chứa 01 viên nén hình tròn màu xám; 01 túi nilon chứa 01 viên nén màu xám và 01 viên nén màu tím. Trên ghế sofa bên trái phòng: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng trên bề mặt có tinh thể màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 thẻ cứng. Tại thời điểm khám xét chỗ ở của Nguyễn Ngọc L, trong nhà còn có 08 đối tượng gồm: Đinh Thị Mỹ A, Nguyễn Hải N, H A T, Lê Linh Chi (sinh năm 2000, trú tại: 85 Bùi Thị Xuân, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố H Nội); Hoàng Thị Khánh Hền (sinh năm 1998, trú tại: Thôn Yên Bình, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố H Nội); Thái A Tú (sinh năm xxxx, trú tại: 31 ngách 612/79 La Thành, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố H Nội); Lê Thu Tr (sinh năm 2002, trú tại: Số 3 hẻm 36/4 tổ 7 Thịnh Quang, quận Đống Đa, thành phố H Nội); Lê Đ Long (sinh năm 1999, trú tại: 35 đường Xuân La, tổ 11, cụm 2, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố H Nội).

Căn cứ lời khai của Nguyễn Ngọc L và các đối tượng liên quan, về việc Ngô Nhật A1 là người thuê Nguyễn Ngọc L đi nhận ma túy mang về nơi ở của L cân, chia ma túy vào các túi nilon mang bán cho khách theo chỉ đạo của A1, việc tham gia mua bán trái phép chất ma túy cùng L, còn có các đối tượng Nguyễn Đ H, Đinh Thị Mỹ A, H A T, Nguyễn Hải N, Nguyễn Hồng Th, Trần Hồng Ngọc D, Đỗ Tuấn A, Sỹ Thị Hền Tr và Ngô Bá T. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đinh Thị Mỹ A, H A T, Nguyễn Hải N, Nguyễn Hồng Th và Trần Hồng Ngọc D. Ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Ngô Nhật A1, Nguyễn Đ H, Ngô Bá T, Sỹ Thị Hền Tr và Đỗ Tuấn A.

* Khám xét chỗ ở của Nguyễn Hồng Th tại số 9 ngõ 208 Đội Cấn, phường Đội Cấn, Ba Đình, H Nội thu giữ: 01 túi nilon bên trong có 02 viên nén màu xám; 05 xe máy; 16 điện thoại.

* Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Hồng Ngọc D tại phòng 804 số 9 ngách 34/68 Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, H Nội thu giữ: 01 đĩa sứ dính chất bột màu trắng; 01 thẻ ATM dính chất bột màu trắng; 01 ống hút dính chất bột màu trắng; 01 túi nilon chứa mảnh viên nén màu ghi; 02 mảnh viên nén màu hồng; 02 túi nilon dính tinh thể màu trắng; 01 mảnh viên nén màu nâu; 01 viên nén màu nâu.

- Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ của H A T: 01 điện thoại Iphone; 01 xe máy BKS: 29B2 - 00849; Nguyễn Hải N: 01 điện thoại Iphone.

* Bản kết luận giám định số 2027 ngày 06/04/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H Nội, kết luận:

- Tang vật thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Ngọc L: Các viên nén màu cam bên trong 03 túi nilon đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 2.676,120 gam. Các viên nén màu xám bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 67,550 gam. Các viên nén màu xanh bên trong 01 túi nilon là ma túy loại MDMA, khối lượng 21,680 gam. Tinh thể màu trắng bên trong 07 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 1.258,350 gam.

02 cân điện tử đều dính ma túy loại Ketamine. Chất bột màu hồng nhạt bên trong 14 túi nilon đều có tìm thấy ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 331,340 gam. Chất bột màu cam bên trong 10 túi nilon đều có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA, ma túy loại Ketamine và có Nimetazepa, tổng khối lượng 61,730 gam. Chất bột màu vàng bên trong 18 túi nilon đều có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA, ma túy loại Ketamine và có Nimetazepam, tổng khối lượng 19,940 gam. Tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Ngọc L là 3.096,69 gam ma túy loại MDMA; 1.258,350 gam ma túy loại Ketamine; 81,67 gam ma túy gồm Methamphetamine, MDMA, Ketamine và Nimetazepa.

- Tang vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Ngọc L: Tang vật thu giữ tại tầng 2: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng 11,110 gam; tinh thể màu trắng bên trên 01 đĩa sứ hình tròn là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,290 gam; thảo mộc khô bên trong 01 túi nilon là Cần sa, khối lượng 2,550 gam. Tang vật thu giữ tại tầng 3: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 2,440 gam; 1,5 viên nén màu cam là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,710 gam; tinh thể màu trắng bên trong 01 gói bằng tờ tiền 2.000 đồng là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,900 gam; chất bột màu xám bên trong 01 túi nilon là ma túy loại MDMA, khối lượng 4,790 gam; 01 viên nén màu tím là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,400 gam; 01 viên nén màu xám là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,410 gam; 01 viên nén hình tròn màu xám là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,400 gam; tinh thể màu trắng bên trong 07 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 104,650 gam; 01 viên nén màu cam là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,480 gam; 02 viên nén màu xám đều là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,890 gam; 02 tờ tiền 10.000 đồng, 01 tờ tiền 100.000 đồng, 01 tờ tiền 200.000 đồng, 01 thẻ cứng và 01 đĩa sứ đều dính ma túy loại Ketamine. Tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Ngọc L là 119,39 gam ma túy loại Ketamine; 8,08 gam ma túy loại MDMA; 2,550 gam thảo mộc cần sa.

* Bản kết luận giám định số 2028 ngày 06/04/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H Nội, kết luận: Tang vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Hồng Ngọc D: 01 đĩa sứ; 01 thẻ ATM; 01 ống hút đều dính ma túy loại Ketamine; 01 mảnh viên nén màu ghi là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,290 gam; 01 mảnh viên nén màu hồng là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,240 gam; 01 mảnh viên nén màu hồng là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,250 gam; 01 viên nén màu nâu và 01 mảnh viên nén màu nâu đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,280 gam.

* Bản kết luận giám định số 2026 ngày 06/04/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H Nội, kết luận: Tang vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Hồng Th: 02 viên nén màu xám bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,802 gam.

* Hnh vi phạm tội của các bị cáo: Ngô Nhật A1, Nguyễn Ngọc L, Đinh Thị Mỹ A, Nguyễn Đ H, H A T, Nguyễn Hải N, Nguyễn Hồng Th, Đỗ Tuấn A, Ngô Bá T, Sỹ Thị Hền Tr và Trần Hồng Ngọc D.

Khoảng cuối tháng 12/2022, qua mối quan hệ xã hội Nguyễn Ngọc L quen biết Ngô Nhật A1 là người mua bán trái phép chất ma túy, A1 đã trao đổi và thuê L bán ma túy cho A1. Để tránh bị Cơ quan Công an phát hiện, việc giao nhận ma túy, A1 và L không gặp nhau trực tiếp mà sẽ liên hệ qua điện thoại. A1 sử dụng nhiều số điện thoại trong đó có số 0343673942 hoặc qua tài khoản zalo có tên “happy”, qua tài khoản Telegram có tên “Du do du”. Ngô Nhật A1 sẽ giấu ma túy vào trong các bọc, thùng catton để tại các điểm công cộng rồi gọi điện thoại hướng dẫn L đến lấy, sau đó L mang ma túy về nơi ở của L cất giấu. Khi có khách hỏi mua ma túy thì sẽ liên lạc với A1 về khối lượng, loại ma túy cần mua, sau đó A1 gọi điện, nhắn tin cho L chỉ đạo việc cân chia ma túy và giao cho khách. Tiền mua ma túy khách trả trực tiếp cho A1. Khi L bận không đi giao được ma túy thì L sẽ thuê H A T đi giao, hoặc thuê dịch vụ Grab giao hàng. L giấu các túi ma túy vào hộp khăn ướt, dán băng dính kín bên ngoài. Khi L hoặc T đi giao ma túy, nếu thấy không phải là khách quen thì L và T không tiếp xúc giao ma túy mà sẽ để gói hàng có ma túy tại vị trí công cộng như gốc cây, chân tường, cột điện...và chụp ảnh, nhắn tin qua ứng dụng Telegram báo cho A1 biết để A1 báo lại cho khách mua. Đến tháng 3/2023, khi A1 đã tin tưởng L, có khách hỏi mua ma túy thì A1 gửi số điện thoại của khách cho L để L trực tiếp giao dịch, đóng hàng và giao hàng theo yêu cầu của khách. A1 thỏa thuận trả công cho L 300.000đ/1 lần giao hàng trong nội thành H Nội. Nếu đi xa hơn thì tùy quãng đường mà A1 trả cho L từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng/1 đơn hàng. Cuối mỗi ngày, A1 và L chốt lại các đơn hàng đã giao. Cứ khoảng 2 tuần 1 lần, A1 trả tiền công cho L bằng cách chuyển tiền từ tài khoản số:

190387347xxxx Techcombank, tên chủ tài khoản là LE THI NIU và nhiều tài khoản ngân hàng khác nhau đến tài khoản số: 03597943101 TPBank của L. Nếu khách hàng phản ảnh lại với A1 là L cân thiếu ma túy thì A1 trừ tiền vào công vận chuyển của L. Đối với Đinh Thị Mỹ A quen Nguyễn Ngọc L khi cả 2 cùng trọ gần khu vực phường Phúc Tân. Sau đó, Mỹ A là người đi tìm và rủ L thuê toàn bộ căn nhà 27 ngõ 559 Kim Ngưu, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, H Nội. L sinh hoạt toàn bộ tầng 2, Mỹ A sử dụng toàn bộ tầng 3, tầng 1 là bếp và phòng khách sử dụng chung. L rủ cả em trai là Nguyễn Đ H đến ở cùng tại 01 phòng ở tầng 2. Từ ngày 8/3/2023, H vào Sài Gòn sinh sống, đã giới thiệu Nguyễn Hải N đến ở cùng L tại căn phòng mà trước đó H đã ở, hàng ngày N nấu ăn phục vụ L và Mỹ A. Quá trình sinh sống cùng nhau, Mỹ A, H và N đều biết Nguyễn Ngọc L mua bán trái phép chất ma túy. Khi có đối tượng cần mua ma túy, Mỹ A, H và N đặt vấn đề mua ma túy của L bán lại kiếm lời rồi trả tiền sau cho L, L đồng ý. Mỹ A, H, N sẽ thỏa thuận giá cả với người mua, yêu cầu thanh toán tiền trước sau đó báo chủng loại, số lượng, khối lượng ma túy cho L. L sẽ đóng hàng và đưa cho Mỹ A, H và N để Mỹ A, H và N tự đi giao, hoặc nếu có yêu cầu L đi giao thì L sẽ đi giao hoặc tìm người đi giao hàng và tính tiền công thêm vào giá bán. L để một số lượng ma túy tại phòng của Mỹ A để khi cần, Mỹ A có thể tự lấy đóng gói cho khách mua hoặc khi A1 yêu cầu giao hàng, nếu L không ở nhà, L sẽ nhờ Mỹ A lấy ma túy đó đóng gói và đưa cho T đi giao. Mỹ A biết H A T thường đi giao ma túy cho L nên thuê T đi giao ma túy cho khách của mình. N thuê Hoàng Mạnh Q (sinh năm 2005, HKTT: 3/30 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố H Nội) đi giao ma túy cho mình. Tài liệu điều tra xác định ngoài số ma túy thu giữ trong thùng catton khi bắt quả tang Nguyễn Ngọc L; số ma túy thu giữ khi khám xét chỗ ở tại tầng 2, tầng 3 số nhà 27 ngõ 559 Kim Ngưu thì L cùng đồng phạm còn mua bán trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy như sau:

Vụ thứ 1: Hnh vi mua bán 02 chỉ “Ke” (03 gam Ketamine) của Ngô Nhật A1, Nguyễn Ngọc L, Đỗ Tuấn A cho Phạm Trọng Đ ngày 13/3/2023: Ngày 13/3/2022, Phạm Trọng Đ (sinh năm xxxx, HKTT: Nhà A3 TT nhà hát chèo, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố H Nội), có nhu cầu mua 2 chỉ Ketamine. Đ có quan hệ họ hàng xa với Đỗ Tuấn A (tức Tuấn chép), biết Tuấn A là người chơi nhạc tại các quán bar nên nhờ Tuấn A mua hộ. Đỗ Tuấn A quen Ngô Nhật A1 tại 01 quán bar từ cuối năm 2022, A1 giới thiệu có ma túy bán, nếu có ai mua sẽ để rẻ cho. Do đó khi Đ nhờ mua ma túy, Tuấn A gọi điện qua tài khoản “Du do đu” Telegram của A1 hỏi giá, A1 báo giá 2 chỉ “ke” giá 5.000.000 đồng, tiền công vận chuyển giao hàng thêm 300.000 đồng nữa và cho Tuấn A số tài khoản 190387347xxxx ngân hàng Techcombank, tên chủ tài khoản là LE THI NIU . Tuấn A báo giá, Đ đồng ý mua, nhắn tin cho Tuấn A số điện thoại 090945xxxx của mình và địa chỉ giao hàng là 168 Nguyễn Xiển. Tuấn A nhắn tin cho Đ số tài khoản 190387347xxxx ngân hàng Techcombank của A1, đồng thời nhắn số điện thoại, địa chỉ giao hàng cho A1. Sau khi nhận được 5.300.000 đồng do Đ chuyển khoản đến, A1 sử dụng tài khoản “Du do du” Telegram nhắn tin cho L “300s ke đa 168 Nguyễn Xiển 090945xxxx”. L cân 03gam Ketamin cho vào 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long đặt Grab đem đến 168 Nguyễn Xiển, Thanh Xuân, H Nội giao cho Đ. Số ma túy mua được, Đ đã sử dụng hết. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ trong điện thoại của L nội dung tin nhắn từ tài khoản “Du do đu” Telegram của A1 “300s ke đa 168 Nguyễn Xiển 090945xxxx”. Nguyễn Ngọc L là người cân ma túy trước khi giao cho khách, L khai 02 chỉ ke có khối lượng tương đương với 03 gam Ketamine. Do vậy có căn cứ xác định 02 chỉ Ketamine các bị cáo bán cho Phạm Trọng Đ có khối lượng là 03 gam Ketamine.

Vụ thứ 2: Hnh vi mua bán 05 gói ma túy tổng hợp “nước vui” của Ngô Nhật A1, Nguyễn Ngọc L, Đỗ Tuấn A, H A T cho Phạm A Trung ngày 13/3/2023: Ngày 13/3/2022, Phạm A Trung (sinh năm 1994, HKTT: Số 150 Phó Đ Chính, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố H Nội) có nhu cầu mua 05 gói “nước vui” có nhãn hiệu “Deadpool”(ma túy tổng hợp). Trung đã nhờ Đỗ Tuấn A (tức Tuấn chép) mua hộ ma túy. Tuấn A gọi điện qua tài khoản “Du do đu” Telegram của A1 hỏi giá, A1 báo giá 5 gói nước vui có giá 10.000.000 đồng, tiền công vận chuyển giao hàng thêm 300.000 đồng. Tuấn A thông báo giá lại cho Trung, Trung đồng ý mua và nhắn tin cho Tuấn A số điện thoại 096895xxxx của Trung và địa chỉ giao hàng là Tòa D Imperia Minh Khai. Theo yêu cầu của Tuấn A, Trung chuyển khoản 10.300.000 đồng từ tài khoản số 0011004301194 ngân hàng Vietcombank của Trung đến số tài khoản 190387347xxxx ngân hàng Techcombank tên chủ tài khoản LE THI NIU của A1. Sau đó, Trung di chuyển về nhà mẹ đẻ tại 150 phố Phó Đ Chính, Ba Đình, H Nội nên bảo Tuấn A là chuyển ma túy về đó, Tuấn A báo lại cho A1 về địa chỉ giao ma túy. Ngô Nhật A1 chỉ đạo Nguyễn Ngọc L đóng hàng 5 gói ma túy “nước vui” chuyển đến địa chỉ theo yêu cầu của Trung. L cho 5 gói ma túy “nước vui” vào hộp giấy ướt và giao cho H A T đến giao cho Trung tại 50 Phó Đ Chính. Cơ quan điều tra thu giữ nội dung tin nhắn trong điện thoại của Nguyễn Ngọc L “5 siêu nhân Tòa D Impe minh khai 096895xxxx” và “Đổi địa chỉ e nha 5 siêu nhan 150 phó đức chính 096895xxxx”. Phạm A Trung xác định được H A T chính là người giao 5 gói ma túy “nước vui” cho mình. T cũng nhận ra Trung là người mua ma túy mà mình đã giao hàng. Số ma túy “05 gói nước vui” Trung đã khai đã sử dụng hết. Do không xác định được số ma túy “05 gói nước vui” các bị cáo mua bán thuộc loại ma túy nào trong số ma túy đã thu giữ nên chưa đủ cơ sở để tính về khối lượng ma túy. Do vậy, chỉ xác định về số lần các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy.

Vụ thứ 3: Hnh vi mua bán trái phép 01 chỉ Ketamine (1,5 gam Ketamine) của Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Đ H và Nguyễn Hải N ngày 28/3/2023: Ngày 28/3/2023, có khách hỏi mua ma túy của Nguyễn Đ H (em trai của Nguyễn Ngọc L), lúc này H đang ở TP Hồ Chí Minh đã gọi điện cho Nguyễn Ngọc L để bảo L đóng gói và chuyển ma túy cho người mua nhưng L ngủ không nghe điện thoại. H nhắn tin cho Nguyễn Hải N (đang ở cùng L) thông tin của khách mua ma túy: “096895xxxx. Ct11 Kim Văn, Kim Lũ”; “1 kim 4v” rồi điện thoại bảo N gọi L dậy đóng đơn hàng ma túy trên giao cho khách. Sau đó khách mua ma túy của H đổi địa điểm nên H nhắn lại cho N “Đặt e ct10B Đại Thanh”. H điện thoại cho N nói khách mua đã đổi địa điểm nhận hàng và nhờ N báo lại cho L biết. N hiểu nội dung tin nhắn là: Người có số điện thoại 096895xxxx cần mua 1 chỉ ma túy ketamin và 4 viên thuốc lắc. N nhắn lại cho L qua Mesenger Facebook toàn bộ tin nhắn H đã nhắn cho N, đồng thời gọi L dậy đóng gói số ma túy trên để đi bán cho khách. L đã đóng ma túy theo yêu cầu, giấu vào túi giấy ướt rồi thuê Grab đi giao ma túy cho khách mua. Cơ quan điều tra thu được trên máy điện thoại của L nội dung tin nhắn mua bán ma túy giữa N và L như trên qua ứng dụng Messenger. Lời khai của Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Hải N phù hợp với nội trên, Nguyễn Ngọc L là người cân ma túy bán cho khách. Do vậy có căn cứ xác định 01 chỉ Ke có khối lượng là 1,5 gam Ketamine; đối với 04 viên ma túy tổng hợp bán cho khách, do L không cân nên không xác định được về khối lượng.

Vụ thứ 4: Hnh vi mua bán trái phép 3,572 gam ma túy loại MDMA;

0,912 gam ma túy loại Ketamine của Nguyễn Hải N, Nguyễn Ngọc L, Đinh Thị Mỹ Angày 04/03/2023: Ngày 4/03/2023, bạn của Nguyễn Hải N là Tuấn A (chưa xác minh được lai lịch) có nhờ N mua cho 04 viên ma túy và ½ chỉ Ke; một người khác cũng gọi cho N hỏi mua 04 viên ma túy. N thông báo cho L là 02 đơn hàng đặt mua ma túy chuyển đến 34 Hng Gà, phường Hng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố H Nội và 4/29 Nguyễn Chí Thanh. Lúc đó L không có nhà, L bảo N nói với Mỹ A đưa ma túy cho N. Mỹ A đang ngủ tại tầng 3 số nhà 27 ngõ 559 Kim Ngưu, chỉ cho N số ma túy L để nhờ tại phòng của Mỹ A, trong hộp trang sức trên bàn trang điểm bảo N tự lấy. N lấy 4 viên ma túy cho vào một túi túi nilon; túi còn lại gồm 04 viên ma túy và ½ chỉ ke rồi gọi điện cho Hoàng Mạnh Q (sinh năm 2005, HKTT: Số 3 ngõ 30 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố H Nội, là bạn của em gái của N). N bảo Q đi giao ma túy tại 02 địa chỉ trên cho khách, Q đồng ý và nhờ bạn là Nghiêm Đ L (sinh năm 2005, HKTT: 238 Đội Cấn, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, thành phố H Nội) dùng xe máy chở Q đi. Khi đến số 34 Hng Gà thì bị Công an phường Hng Buồm kiểm tra thu giữ số ma túy trên. Ngày 31/5/2023, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án số 109/2023/HSST tuyên phạt Hoàng Mạnh Q 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (3,572 gam ma túy loại MDMA;

0,912 gam ma túy loại Ketamine). Lời khai của Nguyễn Hải N, Nguyễn Ngọc L và Đinh Thị Mỹ Aphù hợp với nội dung nêu trên.

Vụ thứ 5: Hnh vi mua bán trái phép 4,5 gam ma túy loại Ketamine của Ngô Nhật A1, Nguyễn Ngọc L, H A T cho Trần Hồng Ngọc D ngày 5/3/2023; ngày 15/3/2023 và 26/3/2023: Qua mối quan hệ xã hội, khoảng tháng 7/2022, Trần Hồng Ngọc D được bạn bè giới thiệu mua ma túy của Ngô Nhật A1. Diệp liên hệ với A1 qua ứng dụng Telegram đăng ký bằng số điện thoại 0899779595 và đặt tên tài khoản của A1 là “Ke Kim Tuyến”. Khi có nhu cầu Diệp sử dụng tài khoản Telegram của Diệp có tên “Ngọc Diệp” đăng ký số điện thoại 091698xxxx để liên hệ với A1 và yêu cầu chuyển ma túy đến nhà của Diệp tại 9/68 ngõ 34 Hoàng Cầu, liên hệ với Diệp bằng số điện thoại trên của Diệp. Sau đó, Diệp thuê dịch vụ chuyển tiền mua ma túy đến số tài khoản 190387347xxxx ngân hàng Techcombank tên chủ tài khoản LE THI NIU. Sau khi đã nhận đủ tiền, A1 nhắn tin qua ứng dụng Telegram cho Nguyễn Ngọc L để L đóng hàng theo yêu cầu về khối lượng ma túy (ketamin) Diệp đặt mua. L giao cho T giao ma túy đến địa chỉ nhà ở của Diệp. Tài liệu điều tra xác định Diệp đã 3 lần mua ma túy của A1, L, cụ thể như sau: Ngày 4/3/2023, Diệp nhắn tin cho A1 đặt mua 1 triệu đồng “ke kim tuyến”. A1 nhắn cho L qua ứng dụng Telegram “ 150s kim 091698xxxx. Sn9 ngách 68 ngõ 34 Hoàng Cầu”. Song L bận chưa giao ma túy được. Đến ngày hôm sau (5/3/2023), A1 nhắn tin nhắc lại nội dung trên, L đóng 1,5g (150 số - tức chỉ số trên cân điện tử là 150) Ketamin và giao cho H A T đến giao cho Diệp tại nhà (Số nhà 9 ngách 68 ngõ 34 Hoàng Cầu). Ngày 15/3/2023, Diệp nhắn tin cho A1 đặt mua tiếp 1 triệu đồng “ke kim tuyến”. A1 nhắn cho L qua ứng dụng Telegram “150s kim. Sn9 ngách 68 ngõ 34 Hoàng Cầu 091698xxxx.”. L đóng 1,5g (150 số) ketamine và giao cho H A T đến giao cho Diệp tại nhà. Ngày 26/3/2023, Diệp nhắn tin cho A1 đặt mua tiếp 1 triệu đồng “ke kim tuyến”. A1 nhắn cho L qua ứng dụng Telegram “ 150s kim 091698xxxx. Sn9 ngách 68 ngõ 34 Hoàng Cầu.”. L đóng 1,5g (150 số) ketamine và giao cho H A T đến giao cho Diệp tại nhà. Kiểm tra điện thoại của L, có nội dung thông tin các tin nhắn như trên giữa L và A1 qua tài khoản Telegram “Du do du” của A1. Nguyễn Ngọc L là người cân ma túy để bán cho Trần Hồng Ngọc D theo chỉ đạo của Ngô Nhật A1. Do vậy, có căn cứ xác định Ngô Nhật A1, Nguyễn Ngọc L, H A T đã bán cho Trần Hồng Ngọc D 4,5 gam ma túy loại Ketamine. Số ma túy mua trên, Diệp khai đã một sử dụng hết.

Vụ thứ 6: Hnh vi mua bán trái phép 12 viên ma túy tổng hợp của Nguyễn Hồng Th, Đinh Thị Mỹ A, Nguyễn Ngọc L và H A T ngày 27/3/2023: Ngày 27/3/2023, Nguyễn Thị Mai P (chưa xác minh được lai lịch) nhờ Nguyễn Hồng Th mua 12 viên “kẹo” (tức ma túy tổng hợp). Qua giới thiệu của nhân viên cùng làm tại quán bar (Th không nhớ chính xác là ai), Th sử dụng tài khoản Telegram có tên “Cu” của mình nhắn tin liên hệ với tài khoản Telegram của H (chưa xác minh được lai lịch) mà Th tự đặt tên là “Nút” đặt mua 12 viên ma túy. “Nút” báo giá 320.000 đồng/ 1 viên và 300.000 đồng tiền công vận chuyển, tổng số 4.140.000 đồng/ 12 viên, yêu cầu Th phải chuyển tiền vào tài khoản số: 106666666xxxx MBBank, chủ tài khoản PHUNG THI THU HA. Th nhắn tin báo giá với P 400.000 đồng 1 viên và 300.000 đồng tiền phí vận chuyển, tổng số là 5.100.000 đồng/ 12 viên để hưởng lời 960.000 đồng. P đồng ý mua và chuyển khoản 5.100.000 đồng đến tài khoản số: 2724982xxxx TPBank của Th và yêu cầu đem ma túy đến giao tại 55 Linh Lang, Ba Đình, H Nội. Th chuyển 4.140.000 đồng đến tài khoản 106666666xxxx MBBank của H. Mỹ A quen H do H làm nghề chăm sóc móng chân, móng tay, Mỹ A nói với H mình bán ma túy, nếu có khách mua thì giới thiệu. Do đó khi Th liên hệ đặt vấn đề mua 12 viên ma túy. H nhận lời và hỏi mua của Mỹ A. H nhắn tin cho Mỹ A qua ứng dụng Telegram nội dung: “C ơi 12c thôi nhé”,“ 55 Linh Lang”, “0372376726”. Mỹ A mua của L giá 200.000 đồng/ 1 viên ma túy, thỏa thuận bán cho H với giá 250.000 đồng/ 1 viên x 12 viên + 300.000 đồng tiền công vận chuyển, tổng số 3.300.000 đồng, yêu cầu H chuyển khoản đến tài khoản số 1903344980xxxx ngân hàng Techcombank của Mỹ A. H đã chuyển 3.300.000 đồng từ tài khoản số 106666666xxxx ngân hàng MBBank của H đến tài khoản trên của Mỹ A, chụp ảnh hóa đơn đã chuyển tiền qua App cho Mỹ A biết. Sau khi nhận đủ tiền, Mỹ A lấy ma túy của L và thuê H A T đi đưa cho Th. Đến phố Linh Lang, T sợ công an sử dụng Th để bắt mình nên T không để ma túy tại 55 Linh Lang mà để phong bì đựng ma túy tại ngõ 60 Linh Lang và nhắn tin qua zalo cho Th, nội dung: “Trong ngõ 60 Linh Lang” “Cột điện đối diện nhà số 6” “ Có cái phong bì chỗ mình khoanh tròn”. T chụp màn hình ảnh vị trí để ma túy và nội dung tin nhắn cho Th gửi lại qua zalo cho Mỹ A và nhắn lại cho Mỹ A nội dung “Xong Linh Lang ạ” Ngõ này thông ra Phan Kế Bính” “Nen em chui vào ngõ này” “E chị để ý làm chị yên tâm nha”. Tài liệu thu giữ trong điện thoại của Mỹ A nội dung Mỹ A nhắn tin qua ứng dụng Telegram với H (Mỹ A đặt tên là E H Nail) và nhắn tin qua zalo với H A T nội dung như nêu trên. Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc L khai do bán cho Mỹ A nhiều loại ma túy khác nhau nên không xác định được 12 viên ma túy trên thuộc loại ma nào và khối lượng là bao nhiêu. Do vậy, lần mua bán này chỉ xác định để tính về số lần các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy với nhau.

Vụ thứ 7: Hnh vi mua bán trái phép 2,005 gam ma túy loại MDMA, của Nguyễn Hồng Th và Ngô Bá T ngày 17/2/2023: Nguyễn Hồng Th và Ngô Bá T đều là nhân viên phục vụ tại quán Bar Club One (88 Lò Đúc, H Nội) nên biết nhau. Khoảng 3h ngày 17/02/2023, người phụ nữ tên P (chưa xác minh được nhân thân) gọi điện và nhắn tin từ tài khoản zalo có tên “P P” đến tài khoản zalo có tên “Nguyễn Th” của Th nhờ mua cho 5 viên ma túy. Th nhắn tin cho T nhờ mua hộ. T nhờ H Thế Tùng (sinh năm 1999, HKTT: Thôn Chùa, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) cũng là nhân viên quán Club One mua hộ. T báo với Th giá 400.000 đồng/ 1 viên x 5 viên = 2.000.000 đồng, cộng thêm 300.000 đồng tiền vận chuyển, tổng số tiền là 2.300.000 đồng. Th nhắn tin qua zalo cho T báo giao ma túy tại địa chỉ 17 ngõ 228 đường Tam Trinh, số điện thoại của người nhận ma túy là 039670xxxx (do P nhắn cho Th). T chuyển tiếp nội dung tin nhắn của Th cho Tùng, đồng thời nhắn tài khoản số 688xxxx4xxxx4 ngân hàng MBBank của T cho Th yêu cầu chuyển tiền trước. Th nhắn số tài khoản của T cho P. P chuyển 2.300.000 đồng từ số tài khoản 020014444xxxx ngân hàng MBBank tới số tài khoản 688xxxx4xxxx4 ngân hàng MBBank của T với nội dung “Nguyễn Thị Mai P chuyển khoản” và gửi hình ảnh giao dịch chuyển tiền thành công của App cho Th biết. T chuyển khoản 2.050.000 đồng đến số tài khoản xxxx105098888 MBBank của Tùng. Ngày hôm sau, P nhắn tin cho Th thông báo ma túy không “ngon”, mới sử dụng 3 viên, còn 2 viên muốn trả lại, lấy lại tiền, Th báo cho T và đề nghị cho đổi trả. Th nhận 2 viên ma túy từ P để đưa T trả lại nhưng chưa kịp đưa cho T thì bị Cơ quan điều tra khám xét chỗ ở của Th thu giữ 2 viên ma túy trên. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hồng Th, Ngô Bá T khai phù hợp với nội dung trên. T tự đi sao kê tài khoản, có nội dung Nguyễn Thị Mai P chuyển khoản cho T 2.300.000 đồng. Đối với H Thế Tùng, Cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng Tùng không có mặt tại địa phương. Kết luận giám định 02 viên ma túy thu giữ của Th (trong số 05 viên), là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,802 gam. Do vậy có căn cứ để xác định khối lượng 05 viên ma túy như sau: Khối lượng trung bình 01 viên ma túy là 0,401 x 5 viên = 2,005 gam ma túy loại MDMA.

Vụ thứ 8: Hnh vi mua bán trái phép 02 chỉ Ke (03 gam Ketamine) của Đinh Thị Mỹ A, Nguyễn Ngọc L cho Vũ Kiều A ngày 18/03/2023: Vũ Kiều A (sinh năm xxxx, HKTT: Số 3 ngõ 67 Cảm Hội, phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng, thành phố H Nội) quen biết với Đinh Thị Mỹ Atừ cuối năm 2020 do cả 2 cùng làm tại câu lạc bộ Fame Club. Năm 2021, Mỹ A ở trọ cùng Kiều A tại 32 ngõ 651, ngách 26, hẻm 9 phố Minh Khai, phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, thành phố H Nội. Sau đó Mỹ A dọn ra ở riêng để tiện cho việc mua bán ma túy. Ngày 18/3/2023, Vũ Kiều A sử dụng tài khoản messenger “Kim Cương Xanh” nhắn tin cho Mỹ A qua ứng dụng mesenger “MyA Đinh” của Mỹ A, hỏi mua 2 chỉ ma túy Ketamine với giá 6.000.000 đồng. Kiều A nhờ một người bạn tên là Tuấn (hiện chưa xác minh được lai lịch) chuyển khoản 6 triệu đồng đến tài khoản số 2631108xxxx TP Bank của Mỹ A. Mỹ A thuê xe Grap chuyển đến cho Kiều A tại đường Trương Định. Số ma túy này, Kiều A đã sử dụng hết. Đinh Thị Mỹ Akhai 02 chỉ ke trên mua của Nguyễn Ngọc L với giá 02 triệu đồng/1 chỉ Ke; bán lại cho Vũ Kiều A với giá 03 triệu đồng/1 chỉ Ke. Kiểm tra điện thoại của Mỹ A, có nội dung tin nhắn qua ứng dụng mesenger giữa Mỹ A và Kiều A, nội dung: Kiều A hỏi: “Có đi đơn ko” “Lấy tôi 2c kim” “Ship ngay đuôi cá” “Tôi đang đây r”. Mỹ A trả lời “Để đặt Grab” “T vừa về ngủ rui” Kiều A nhắn cụ thể địa chỉ cho Mỹ A “Số nhà 19 ngõ 785 trương định, đuôi cá”, “cổng bến xe tải” và hỏi giá “Nhắn stk sang” “Tổng bn để tôi ck” Mỹ A nhắn “Tp bank 2631108xxxx” và cung cấp tên chủ tài khoản là Đinh Thị Mỹ A, “2 chỉ kim” “6tr”. Do vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi mua bán trái phép 03 gam Ketamine của Đinh Thị Mỹ Avà Nguyễn Ngọc L cho Vũ Kiều A.

Vụ thứ 9: Hnh vi mua bán trái phép chất ma túy của Đinh Thị Mỹ A, Nguyễn Ngọc L cho Lê Đ Long ngày 06/3/2023: Lê Đ Long (sinh năm 1999, HKTT: Tổ 11 cụm 2, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố H Nội) qua mối quan hệ xã hội Long biết Đinh Thị Mỹ Abán ma túy và đã nhiều lần mua ma túy của Mỹ A để sử dụng. Khi cần mua ma túy, Long liên lạc với Mỹ A qua ứng dụng Telegram báo chủng loại, khối lượng ma túy cần mua. Mỹ A báo giá để Long chuyển tiền đến tài khoản của mình rồi thuê H A T hoặc Grab chuyển ma túy đến cho Long. Tài liệu điều tra xác định, ngày 6/3/2023, Mỹ A bán cho Long 1 gói nước vui “siêu nhân” (ma túy tổng hợp) giá 2.200.000 đồng; Ngày 9/3/2023, Mỹ A bán cho Long 1 gói nước vui, nửa chỉ Ketamin, 5 viên ma túy “kẹo”, nửa “uốn” Ketamin “đá” và tiền vận chuyển, tổng số 15.200.000 đồng. Kiểm tra điện thoại của Mỹ A, phát hiện Mỹ A và Long nhắn tin qua ứng dụng Telegram nội dung mua bán ma túy như nêu trên. Mỹ A khai số ma túy trên mua của Nguyễn Ngọc L. Quá trình điều tra chưa xác định được loại ma túy bán cho Lê Đ Long là ma túy gì; khối lượng là bao nhiêu nên lần mua bán này chỉ lấy làm căn cứ để tính về số lần các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy.

Vụ thứ 10: Hnh vi mua bán trái phép 01 gói “nước vui” của Đinh Thị Mỹ A, Sỹ Thị Hền Tr, Nguyễn Ngọc L cho đối tượng Ng ngày 13/3/2023: Khoảng 6h20’ ngày 13/3/2023, đối tượng Ng (chưa xác minh được lai lịch) là bạn của Lê Đ Long cần mua ma túy gọi điện cho Long để nhờ Long mua hộ ma túy nhưng Long tắt máy điện thoại nên Ng điện cho Sỹ Thị Hền Tr nói là gọi điện cho Long định nhờ mua hộ cho 01 gói “nước vui” nhưng không gọi được và hỏi Tr có biết chỗ nào bán thì mua hộ cho Ng. Tr nhận lời và gọi điện hỏi Mỹ A. Mỹ A báo giá 2.500.000 đồng 1 gói nước vui. Tr báo địa chỉ và số điện thoại của Ng là “29/34 Âu Cơ.

081337xxxx” cho Mỹ A. Nhưng sau đó Ng báo là đã đặt được ship nên Tr nhắn địa chỉ nhà Mỹ A (số 27 ngõ 559 Kim Ngưu) để Ng thuê người đến lấy ma túy. Đối với số tiền mua bán ma túy, khoảng 13h15 cùng ngày, Ng chuyển khoản đến số 08223xxxx ngân hàng MBBank của Tr số tiền 2.500.000 đồng. Sau khi nhận được tiền của Ng, Tr chuyển khoản số tiền 2.500.000 đồng từ tài khoản số 08223xxxx ngân hàng MBBank của Tr đến số tài khoản 1903344980xxxx ngân hàng Techcombank của Mỹ A. Đinh Thị Mỹ Akhai 01 gói ma túy “nước vui” trên mua của Nguyễn Ngọc L. Do chưa xác định được gói ma túy “nước vui” mà các bị cáo bán cho đối tượng Ng thuộc loại ma túy gì; khối lượng là bao nhiêu nên lần mua bán này chỉ xác định để tính về số lần các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy.

11. Vụ thứ 11: Hnh vi mua bán trái phép 01 gói “nước vui” của Đinh Thị Mỹ A, Sỹ Thị Hền Tr, Nguyễn Ngọc L cho đối tượng Ng ngày 28/3/2023: Khoảng 7h25’ ngày 28/3/2023, đối tượng Ng (chưa xác định được) gọi điện cho Sỹ Thị Hền Tr nói bạn của Ng ở nhà 37a, ngách 12a/23, 23 Xuân La, Tây Hồ, H Nội, số ĐT: 0922xxxx cần mua 01 gói “nước vui” (ma túy tổng hợp). Tr gọi điện cho Đinh Thị Mỹ Ađặt mua 01 gói nước vui. Mỹ A bảo nếu Tr có khách, Mỹ A sẽ bán rẻ cho Tr nhiều loại ma túy để Tr bán kiếm lời. Đối với 01 gói nước vui, Mỹ A chỉ bán cho Tr giá 2.200.000 đồng. Song Tr báo đúng giá trên cho Ng. Ng chuyển khoản 2.200.000 đồng đến tài khoản số 08223xxxx ngân hàng MBBank của Tr. Tr chuyển tiếp 2.200.000 đồng đến số tài khoản 1903344980xxxx Techcombank của Mỹ A để bán ma túy cho Ng. Gói ma túy “nước vui” trên Mỹ A và Tr bán cho Ng là mua của Nguyễn Ngọc L. Kết quả kiểm tra điện thoại của Mỹ A, phát hiện Mỹ A và Tr nhắn tin qua ứng dụng Telegram (Mỹ A lưu tên của Tr là “C Tr Tr”) nội dung phù hợp việc trao đổi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên. Cũng như vụ mua bán trái phép chất ma túy (vụ thứ 10), vụ mua bán này xác định về số lần các bị can mua bán trái phép chất ma túy.

Vụ thứ 12: Hnh vi tàng trữ trái phép 2,06 gam ma túy loại MDMA của Trần Hồng Ngọc D ngày 29/3/2023: Ngày 29/3/2023, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Hồng Ngọc D tại Phòng 804 số 9 ngách 34/68 Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, H Nội thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ ATM tên Trương Thùy Dương, 01 ống hút và 02 túi nilon đều có dính ma túy loại Ketamin; 01 mảnh viên nén màu ghi có khối lượng 0,29g là loại ma túy MDMA; 01 mảnh viên nén màu hồng có khối lượng 0,24g là loại ma túy MDMA; 01 mảnh viên nén màu hồng có khối lượng 0,25g là loại ma túy MDMA; 01 viên nén màu nâu và 01 mảnh viên nén màu nâu có khối lượng 1,28g đều là loại ma túy MDMA. Trần Hồng Ngọc D khai: Số Ketamin trên đĩa, các viên nén ma túy thu giữ trên là của đối tượng tên Dung (chưa xác minh được lai lịch), mang đến nơi ở của Diệp. Số ma túy này do Dung đi quán bar sử dụng còn thừa mang về. Diệp không sử dụng đến số ma túy này. Quá trình điều tra còn xác định ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên thì Nguyễn Ngọc L và Đinh Thị Mỹ Acòn 02 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho H A T, Nguyễn Hải N, Lê Linh Chi và Lê Đ Long tại nơi ở của L và Mỹ A (tầng 3 số nhà 27 ngõ 559 Kim Ngưu), như sau:

Vụ thứ 13: Ngày 12/3/2023, Nguyễn Ngọc L và Đinh Thị Mỹ Arủ nhau sử dụng trái phép chất ma túy và cho Nguyễn Hải N sử dụng cùng. Ma túy sử dụng L và Mỹ A lấy lại của Ngô Nhật A1 khoảng 0,5g ke với giá 6.500.000 đồng và 02 viên ma túy màu xám hình quả lựu đạn, giá 500.000 đồng/2 viên, tổng số tiền là 7 triệu đồng. Tại phòng của Mỹ A ở tầng 3 số nhà 27 ngõ 559 Kim Ngưu, có L, Mỹ A và N sử dụng ma túy. L sử dụng 01 viên “kẹo”, còn Mỹ A và N sử dụng ma túy ke đá. Sau khi sử dụng, vẫn còn khoảng 0,2g ma túy ke đá và 01 viên “kẹo”.

Vụ thứ 14: Từ khoảng 1h đến 7h sáng ngày 27/3/2023 (tại phòng tầng 3 của Đinh Thị Mỹ A), Nguyễn Ngọc L và Đinh Thị Mỹ Atiếp tục tổ chức sử dụng số ma túy còn lại của hôm trước cho Nguyễn Hải N, H A T, Lê Đ Long và Lê Linh Chi. Nguyễn Ngọc L sử dụng 01 viên “kẹo” rồi đi ngủ trước; còn Mỹ A, N, Long và Chi tiếp tục sử dụng số ma túy “Ke đá” đến khoảng 7 sáng cùng ngày thì đi nghỉ. Kết quả khám xét tại tầng 3 nhà 27 ngõ 559 Kim Ngưu, thu giữ 02 tờ tiền 10.000 đồng, 01 tờ tiền 100.000 đồng, 01 tờ tiền 200.000 đồng, 01 thẻ cứng và 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 25cm là của Mỹ A để N, T, Long và Chi cùng sử dụng ma túy rạng sáng ngày 27/3/2023. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu ngày 29/3/2023 xác định: Lê Đ Long, H A T, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Hải N, Lê Linh Chi, và Đinh Mỹ A đều dương tính với chất ma túy. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Hải N, H A T, Lê Linh Chi và Lê Đ Long về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với Ngô Nhật A1, Nguyễn Đ H hiện đang bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã, tách hồ sơ vụ án. Khi nào bắt được xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 290/2024/HS-ST ngày 29/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố H Nội đã quyết định:

1. Căn cứ: Điểm h khoản 4 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 40, Điều 55, Điều 17 Điều 58 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Ngọc L. Tuyên bố Nguyễn Ngọc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L tử hình về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 9 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung của 2 tội là tử hình. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự, đối với các bị cáo Nguyễn Hồng Th, Đỗ Tuấn A. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng Th, Đỗ Tuấn A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Phạt bị cáo Nguyễn Hồng Th 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2023.

Phạt bị cáo Đỗ Tuấn A 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Hồng Ngọc D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Phạt bị cáo Trần Hồng Ngọc D 04 năm tù, thời hạn tù từ ngày 29/3/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Đinh Thị Mỹ A, H A T, Nguyễn Hải N, Sỹ Thị Hền Tr và Ngô Bá T; quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 03/6/2024, các bị cáo Nguyễn Ngọc L và Trần Hồng Ngọc D đều có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Ngày 04/6/2024, bị cáo Đỗ Tuấn A kháng cáo hưởng án treo.

Ngày 07/6/2024, bị cáo Nguyễn Hồng Th kháng cáo giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, - Bị cáo Nguyễn Ngọc L rút kháng cáo giảm hình phạt. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ pháp luật quyết định.

- Bị cáo Đỗ Tuấn A giữ nguyên kháng cáo, đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Luật sư đề nghị giảm nhẹ hình phạt xuống mức thấp nhất cho bị cáo.

- Bị cáo Nguyễn Hồng Th giữ nguyên kháng cáo, đề nghị giảm nhẹ hình phạt xuống mức thấp nhất.

- Bị cáo Trần Hồng Ngọc D giữ nguyên kháng cáo, đề nghị giảm nhẹ hình phạt xuống mức thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại H Nội có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Hồng Th, Trần Hồng Ngọc D là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc L rút kháng cáo, đề nghị đình chỉ việc xét xử phúc thẩm; đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng Th, bị cáo Trần Hồng Ngọc D không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt mới, đề nghị bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm; đối với kháng cáo của bị cáo Đỗ Tuấn A, xem xét vai trò, nhân thân và có thêm tình tiết mới, đề nghị giảm cho bị cáo từ 01 đến 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp biên bản bắt quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với kết luận của cấp sơ thẩm như sau: Khoảng 21h15’ ngày 28/03/2023, tại khu vực ngõ 559 Kim Ngưu, phường VT, quận HBT, thành phố HN, Tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự - Công an thành phố H Nội phát hiện bắt quả tang: Đối với Nguyễn Ngọc L đi xe máy BKS: 29D2 - xxxxx chở phía sau 01 thùng cattong, bên trong có: 3.096,69 gam ma túy, loại MDMA;

1.258,350 gam ma túy, loại Ketamine; 81,67 gam ma túy gồm Methamphetamine, MDMA, Ketamine và Nimetazepa. Khám xét chỗ ở của Nguyễn Ngọc L tại số 27 ngõ 559 Kim Ngưu, phường VT, quận HBT, thành phố HN thu giữ: Tại tầng 2: 11,4 gam ma túy loại Ketamine; 2,550 thảo mộc khô là cần sa. Tại tầng 3: 8,08 gam ma túy loại MDMA; 107,99 gam ma túy loại Ketamine. Quá trình điều tra còn xác định Nguyễn Ngọc L mua bán trái phép chất ma túy với các bị cáo trong vụ án như sau: Những vụ kết luận về khối lượng chất ma túy: 03 gam Ketamine (vụ thứ 1); 1,5 gam Ketamine (vụ thứ 3);

3,572 gam MDMA, 0,912 gam Ketamine (vụ thứ 4); 4,5 gam Ketamine (vụ thứ 5); 03 gam Ketamine (vụ thứ 8). Tổng khối lượng các chất ma túy Nguyễn Ngọc L mua bán là: 3.108,342 gam ma túy loại MDMA; 1.404,74 gam ma túy loại Ketamine; 81,67 gam ma túy gồm Methamphetamine, MDMA, Ketamine và Nimetazepa; 2,550 thảo mộc khô là cần sa. Những vụ không kết luận về khối lượng chất ma túy: Vụ thứ 2; vụ thứ 6; vụ thứ 9; vụ thứ 10; vụ thứ 11.

Đối với Đinh Thị Mỹ A: Mua bán trái phép 8,08 gam ma túy loại MDMA; 107,99 gam ma túy loại Ketamine thu giữ tại tầng 3 (phòng Mỹ A ở). Quá trình điều tra xác định Đinh Thị Mỹ Acòn mua bán trái phép chất ma túy với các bị can trong vụ án như sau: Những vụ kết luận về khối lượng chất ma túy: 3,572 gam ma túy loại MDMA; 0,912 gam ma túy loại Ketamine (vụ thứ 4); 03 gam ma túy loại Ketamine (vụ thứ 8). Tổng khối lượng các chất ma túy Đinh Thị Mỹ Amua bán gồm: 11,652 gam ma túy loại MDMA; 111,902 gam ma túy loại Ketamine. Những vụ không kết luận về khối lượng chất ma túy: Vụ thứ 6; vụ thứ 9; vụ thứ 10; vụ thứ 11. Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên, Nguyễn Ngọc L và Đinh Thị Mỹ Acòn có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (vụ thứ 13; vụ thứ 14) cho Nguyễn Hải N ngày 12/3/2023; cho H A T, Lê Đ Long, Lê Linh Chi và Nguyễn Hải N ngày 27/3/2023 tại tầng 3 số nhà 27 ngõ 559 Kim Ngưu, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, H Nội. Đối với Nguyễn Hồng Th: Mua bán trái phép 2,005 gam ma túy loại MDMA (vụ thứ 7). Vụ thứ 6 (không kết luận về khối lượng chất ma túy). Đối với Đỗ Tuấn A: Mua bán trái phép 03 gam ma túy loại Ketamine (vụ 1). Vụ thứ 2 (không kết luận về khối lượng chất ma túy). Đối với Trần Hồng Ngọc D: Tàng trữ trái phép 2,06 gam ma túy loại MDMA (vụ thứ 12).

Với trọng lượng ma túy thu giữ khi bắt quả tang, khám xét nơi ở, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hnh vi của bị cáo Đinh Thị Mỹ Ađã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điểm h khoản 3 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hnh vi của các bị cáo H A T, Nguyễn Hải N, Nguyễn Hồng Th, Đỗ Tuấn A, Sỹ Thị Hền Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hnh vi của bị cáo Ngô Bá T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hnh vi của bị cáo Trần Hồng Ngọc D phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố H Nội xét xử các bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Đối với Đinh Thị Mỹ A, H A T, Nguyễn Hải N, Sỹ Thị Hền Tr, Ngô Bá T: Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

[4]. Xét kháng cáo của các bị cáo:

[4.1]. Xét kháng cáo của bị Nguyễn Ngọc L: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo giảm hình phạt; xét việc rút kháng cáo là tự nguyện phù hợp quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm và bản án sơ thẩm có hiệu lực đối với bị cáo Nguyễn Ngọc L.

[4.2]. Xét kháng cáo của Đỗ Tuấn A, Nguyễn Hồng Th, Trần Hồng Ngọc D: Hnh vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho đời sống xã hội; MDMA và Methamphetamine là các chất ma túy độc hại, tàn phá và hủy hoại sức khỏe con người, nguyên nhân chính phát sinh ra các loại tội phạm khác trong đời sống; các bị cáo nhận thức đầy đủ về tác hại của ma túy, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án, đối với hành vi mua bán ma túy các bị cáo H A T, Nguyễn Hồng Th đồng phạm với vai trò giúp sức cho bị cáo L và Mỹ A; đối với hành vi Trần Hồng Ngọc D độc lập tàng trữ trái phép 2,06 gam ma túy loại MDMA. Mặc dù không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng cấp phúc thẩm đồng tình cần thiết phải có hình phạt nghiêm minh, việc cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ. Trên cơ sở đánh giá tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, khối lượng ma túy mua bán, tàng trữ, tình tiết giảm nhẹ, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Th 08 năm tù, bị cáo Tuấn A 08 năm tù, bị cáo Diệp 04 năm tù là nghiêm khắc. Tại cấp phúc thẩm, ngoài tình tiết giảm nhẹ đã được áp dụng, xét thấy: Bị cáo Tuấn A chỉ là người giới thiệu không được hưởng lợi vật chất gì, cung cấp xác nhận tích cực tham gia các phong trào, công tác xã hội nhiều năm, gia đình người thân có công với Cách mạng; bị cáo Diệp hiện nuôi con nhỏ; các bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, bố mẹ sức khỏe yếu,.. cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Do được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên có căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, kháng cáo của các bị cáo Th, Tuấn A, Diệp có cơ sở và được chấp nhận.

[5]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại H Nội: Xét thấy, các căn cứ, lập luận và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa được chấp nhận một phần.

[6]. Về án phí: Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận, không phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm và Bản án hình sự sơ thẩm số 290/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố H Nội có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Ngọc L.

Trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày quyết định, bị cáo Nguyễn Ngọc L có quyền làm đơn lên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt N xin ân giảm án tử hình.

[2]. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Tuấn A, Nguyễn Hồng Th và Trần Hồng Ngọc D; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 290/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố H Nội, cụ thể như sau:

[2.1]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Th 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2023.

[2.2]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Tuấn A 06 (sáu) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Hồng Ngọc D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2023.

[3]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Hồng Th và Trần Hồng Ngọc D không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

254
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 800/2024/HS-PT

Số hiệu:800/2024/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về