TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 623/2023/HS-ST NGÀY 28/12/2023 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 992/2023/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5849/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Cấn Lê D; giới tính: nam; sinh năm: 1979 tại tỉnh Ninh Thuận; nơi đăng ký thường trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; chỗ ở: đường 46, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Cấn Văn H (chết) và bà Lê Thị Ngọc Y; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không có.
Nhân thân: Ngày 14/3/2016, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 07/6/2016 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm y án. Ngày 08/4/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 04/5/2023 (có mặt).
2. Cao Minh Đ; giới tính: nam; sinh năm: 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 94/1/3 V, phường A, quận L, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không có; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Cao Minh N và bà Nguyễn Thị Như L; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền sự: không có.
Tiền án:
- Ngày 11/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Ch, tỉnh Tây Ninh xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 107/2015/HSST). Ngày 15/5/2019, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 27/8/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 106/2020/HS- ST). Ngày 20/01/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 04/5/2023 (có mặt).
3. La Thành L; giới tính: nam; sinh năm: 1996 tại tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; chỗ ở: Phòng O, nhà số 31 đường A, phường A, quận L, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; con ông La S và bà Nguyễn Thị M (chết); hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 03/5/2023 (có mặt).
Những người tham gia tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Hoàng Mỹ H1, sinh năm 1995 Thường trú: 30/23 đường số H, phường K, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người bào chữa:
1. Ông Nguyễn Minh Ch - Luật sư Văn phòng luật sư Đ thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa chỉ định cho bị cáo Cấn Lê D (có mặt).
2. Bà Lê Thị Minh N - Luật sư Công ty Luật TNHH N Lê thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa chỉ định cho bị cáo Cao Minh Đ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 55 phút ngày 03/5/2023, công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến khu vực đường N, phường N, quận A phát hiện La Thành L và Phạm Thị Thanh T đang ngồi uống nước tại quán cà phê số 214 N, phường N, quận A có biểu hiện nghi vấn nên đã mời về trụ sở làm việc. Tại đây, La Thành L tự lấy trong túi nylon đang cầm trên tay 01 gói nylon có in chữ “Ricola” bên trong chứa 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7,7867gram, loại Methamphetamine và 01 gói nylon có in chữ “KF94” bên trong chứa 01 khẩu trang y tế màu trắng được cuộn tròn chứa 01 gói tinh thể không màu có khối lượng 6,0975gram, không tìm thấy ma túy. La Thành L khai số ma túy bị thu giữ mua của Cao Minh Đ với mục đích để bán. Ngoài ra, còn tạm giữ của La Thành L 02 điện thoại di động và số tiền 400.000 đồng.
Lúc 16 giờ 00 phút ngày 03/5/2023, công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của La Thành L tại phòng số O, nhà số 31 A, phường A, quận L, thu giữ:
01 hộp nhựa màu đen bên trong chứa 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2938 gram Methamphetamine.
Mở rộng điều tra, phát hiện Cao Minh Đ đang điều khiển xe gắn máy biển số 72C2-xxxxx chở Trần Lê Thanh Tú T1 đến trước nhà số 31 A, phường A, quận L nên mời Cao Minh Đ, Trần Lê Thanh Tú T1 về làm việc. Tại đây, Cao Minh Đ lấy trong balo 01 bịch nylon chứa 03 gói nylon, bên trong mỗi gói đều chứa ma túy ở thể rắn, có khối luợng 23,9788 gram loại Methamphetamine và 01 gói nylon chứa 05 viên nén màu xanh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6423gram loại MDMA. Cao Minh Đ khai số ma túy này mua của Cấn Lê D. Ngoài ra, công an còn tạm giữ của Cao Minh Đ: 01 điện thoại di động; 01 balo, 01 xe gắn máy biển số 72C2-xxxxx.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cao Minh Đ tại địa chỉ số 94/1/3 đường V, phường A, quận L không thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án.
Qua truy xét, công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cấn Lê D tại đường 46, phường H, thành phố Thủ Đức, thu giữ:
- Tại mặt bàn gỗ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong chứa tinh thể không màu; 01 gạt tàn thuốc bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3896 gram, loại Methamphetamine.
- Trong ngăn nhỏ của bàn gỗ: 01 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, có khối lượng 13,0724 gram, loại Methamphetamine.
- Bên trong ngăn tủ của tủ gỗ đặt ở góc phòng: 01 gói nylon màu đen bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, có khối luợng 57,4938 gram, loại Methamphetamine.
Ngoài ra, công an còn tạm giữ: 03 điện thoại di động; 01 hộp nhựa; 01 cân điện tử; 01 gạt tàn thuốc lá và 15 bịch nylon. Tại thời điểm khám xét, có mặt Trần Hoàng Mỹ H1 (là bạn của Cấn Lê D) nên công an mời Trần Hoàng Mỹ H1 về trụ sở để làm rõ. Đồng thời, Cấn Lê D khai số ma túy bị thu giữ là của Cấn Lê D để bán lại kiếm lời.
Quá trình điều tra, Cao Minh Đ, La Thành L, Cấn Lê D khai nhận như sau:
- Cao Minh Đ khai: Vào khoảng năm 2018, Cao Minh Đ quen biết với Cấn Lê D khi đang chấp hành án tại Trại giam Cây Cầy, Bộ Công an. Đến tháng 02/2023, do cần tiền tiêu xài Cao Minh Đ nhờ Cấn Lê D giới thiệu người phụ nữ tên “H2” (không rõ lai lịch) để mua ma túy đá của “H2” về bán lại kiếm lời. Ngày 18/4/2023, Cao Minh Đ sử dụng tài khoản “Minh Đ” liên hệ qua Zalo với “H2” qua tài khoản “Lặng Lẽ Giảm Cân” đặt mua 03 hộp 10 ma túy đá (khoảng 30 gram) với giá 10.500.000 đồng và mang về phân chia thành 24 gói (khoảng 1,2gram/01 gói) bán lại với giá 500.000 đồng/01 gói. Lần này, Cao Minh Đ đã bán cho La Thành L 02 gói, mỗi lần 01 gói ma túy đá vào các ngày 29/4/2023 và ngày 01/5/2023; còn lại 22 gói Cao Minh Đ đã bán hết cho nguời nghiện (không rõ lai lịch) tại khu vực quận L, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 02/5/2023, La Thành L tiếp tục đặt mua 10 gram ma túy đá nhưng không liên hệ được với “H2” nên Cao Minh Đ đã gọi Cấn Lê D đặt mua 30gram ma túy đá với giá 10.500.000 đồng (Cấn Lê D phân chia sẵn cho Cao Minh Đ thành 03 gói, mỗi gói khoảng 10gram) và 05 viên thuốc lắc với giá 1.000.000 đồng. Cao Minh Đ nói khi nào bán hết ma túy sẽ trả tiền cho Cấn Lê D và Cấn Lê D đồng ý. Sáng ngày 03/5/2023, Trần Lê Thanh Tú T1 (bạn gái Cao Minh Đ) đến chỗ ở của Cao Minh Đ chơi, Cao Minh Đ rủ Trần Lê Thanh Tú T1 cùng đón xe ôm công nghệ đến nhà Cấn Lê D. Khi đến nơi, Trần Lê Thanh Tú T1 đứng ở ngoài còn Cao Minh Đ đi bộ vào phòng trọ gặp Cấn Lê D và Cấn Lê D chỉ cho Cao Minh Đ biết số ma túy đã phân chia sẵn, cất giấu trong hộp tăm bông để trên bàn tại phòng khách. Cao Minh Đ đến lấy đủ 03 gói ma túy đá và 01 gói chứa 05 viên thuốc lắc rồi ra về. Khi ra khỏi phòng trọ của Cấn Lê D, Cao Minh Đ lấy 01 gói ma túy đá đổ phần lớn sang gói nylon in chữ “Ricola” mà Cao Minh Đ đã chuẩn bị sẵn và cho tất cả số ma túy đá này cùng với 05 viên thuốc lắc vào trong balo của Cao Minh Đ. Sau đó, Cao Minh Đ đi bộ ra trước hẻm nói Trần Lê Thanh Tú T1 bắt xe ôm công nghệ đến chỗ ở của La Thành L. Cao Minh Đ giao cho La Thành L 01 gói ma túy đá in chữ “Ricola” và mượn xe gắn máy biển số 72C2- xxxxx của La Thành L chở Trần Lê Thanh Tú T1 đi ăn sáng. Cùng ngày, Cao Minh Đ chở Trần Lê Thanh Tú T1 quay lại trả xe và lấy tiền bán ma túy thì bị công an kiểm tra, thu giữ số ma túy còn lại trong balo mà Cao Minh Đ chưa kip bán. Cao Minh Đ khai Trần Lê Thanh Tú T1 không biết và không liên quan đến việc mua bán ma túy của Cao Minh Đ.
- La Thành L khai phù hợp với Cao Minh Đ về việc La Thành L đã nhiều lần mua ma túy của Cao Minh Đ. Sau khi mua ma túy, La Thành L phân ra để bán lại cho người tên D1 (không rõ lai lịch). Vào sáng ngày 03/5/2023, Cao Minh Đ đến giao ma túy cho La Thành L và đến khoảng 10 giờ 55 phút cùng ngày, La Thành L mang ma túy đi bán cho D1 thì bị công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ ma túy có khối lượng 7,7867gram Methamphetamine.
- Cấn Lê D khai: Khoảng tháng 3/2023, Cấn Lê D quen biết người phụ nữ tên “H2” (không rõ lai lịch) bán ma túy đá tại khu vực đường C, quận H. Khi Cao Minh Đ gọi mua ma túy, Cấn Lê D đã giới thiệu “H2” cho Cao Minh Đ để Cao Minh Đ trực tiếp mua của H2. Do H2 còn thiếu nợ Cấn Lê D 30.000.000 đồng nên từ giữa tháng 3/2023 đến tháng 4/2023, Cấn Lê D đã nhiều lần đến khu vực đường C, quận H lấy ma túy đá của H2 để trừ nợ, khi có người mua ma túy thì Cấn Lê D bán lại kiếm lời. Lần cuối, Cấn Lê D gặp H2 lấy 01 gói ma túy đá; 06 viên thuốc lắc và 01 cân điện tử đem về chỗ ở cất giấu, sau đó bán cho Cao Minh Đ 30gram ma túy đá cùng với 05 viên thuốc lắc như đã nêu trên, số ma túy còn lại Cấn Lê D chưa kịp bán thì bị công an khám xét thu giữ. Đối với 01 viên thuốc lắc còn lại (bị vỡ thành 02 mảnh), ngày 03/5/2023, Cấn Lê D đặt trên bàn phòng khách rồi đi vệ sinh. Khi Trần Hoàng Mỹ H1 đến phòng trọ của Cấn Lê D do cửa phòng trọ mở sẵn và khi đến bàn phòng khách thấy 01 mảnh thuốc lắc nên Trần Hoàng Mỹ H1 đã sử dụng còn 01 mảnh kia Cấn Lê D không biết ai lấy cho đến khi bị khám xét. Trần Hoàng Mỹ H1 không biết việc Cấn Lê D mua bán ma túy.
Kết quả ghi lời khai Trần Hoàng Mỹ H1: Bản thân là người nghiện ma túy, quen biết Cấn Lê D từ khoảng tháng 4/2023. Ngày 03/5/2023, Cấn Lê D hẹn Trần Hoàng Mỹ H1 đến phòng trọ để làm lại simcard cho Cấn Lê D. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Trần Hoàng Mỹ H1 đến phòng thấy cửa mở sẵn nên đi vào, Trần Hoàng Mỹ H1 nhìn thấy trên bàn có 02 mảnh thuốc lắc và lấy 01 mảnh sử dụng tại phòng trọ của Cấn Lê D cho đến lúc công an kiểm tra như trên.
Tại bản cáo trạng số 640/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Cấn Lê D và Cao Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo La Thành L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với Trần Hoàng Mỹ H1, Phạm Thị Thanh T và Trần Lê Thanh Tú T1, không biết, không liên quan đến số ma túy thu giữ của Cấn Lê D, La Thành L và Cao Minh Đ nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với các đối tượng trên.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố nêu quan điểm luận tội:
- Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng như nội dung bản cáo trạng.
- Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị:
+ Xử phạt Cấn Lê D từ 17 đến 19 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng.
+ Xử phạt Cao Minh Đ từ 15 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng.
+ Xử phạt La Thành L từ 07 đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng.
- Về vật chứng, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Cấn Lê D nêu ý kiến: Thống nhất về tội danh và điều khoản áp dụng truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mặc dù bị cáo từng bị kết án về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo cũng đã có hơn 06 năm đoạn tuyệt với ma túy, sinh sống lương thiện, có việc làm ổn định. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội xuất phát từ việc H2 mượn tiền bị cáo đã nhiều năm nhưng không trả mà đề nghị cấn trừ nợ bằng ma túy nên hành vi phạm tội của bị cáo có phần bị động, lệ thuộc. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên phạt mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát để tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về nuôi con nhỏ.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Cao Minh Đ nêu ý kiến: Thống nhất về tội danh và điều khoản áp dụng truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử căn nhắc bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, chưa hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành hình phạt tù của các bản án trước. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã ăn năn về hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, hợp tác với cơ quan điều tra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, điều tra viên và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, luật sư, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các biên bản hoạt động điều tra khác có đủ cơ sở xác định:
Từ tháng 3/2023, thông qua sự giới thiệu của Cấn Lê D, Cao Minh Đ nhiều lần mua ma túy đá của người phụ nữ tên “H2” (Không rõ lai lịch) sau đó đem về chỗ ở cất giấu, phân nhỏ và bán lại kiếm lời. Ngày 02/5/2023, do không liên lạc được với “H2” nên Cao Minh Đ mua của Cấn Lê D 03 gói ma túy đá (khoảng 30 gram) cùng 05 viên thuốc lắc với giá 11.500.000 đồng. Ngày 03/5/2023, Cao Minh Đ bán lại 01 gói ma túy đá cho La Thành L. La Thành L tiếp tục đem bán lại cho D1 (không rõ lai lịch) thì bị bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Cấn Lê D trực tiếp lấy ma túy của đối tượng “H2” để bán lại kiếm lời trong đó có bán cho Cao Minh Đ. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với toàn bộ số ma túy thu giữ tại chỗ ở là 58,9558 gram Methamphetamine và số ma túy đã bán cho Cao Minh Đ là 31,7655 gram Methamphetamine và 1,6423 gram MDMA, tổng cộng 92,3636 gram ma túy ở thể rắn. Cao Minh Đ trực tiếp mua ma túy của đối tượng “H2” và Cấn Lê D sau đó bán lại kiếm lời trong đó có bán cho La Thành L. Do đó, Cao Minh Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với khối lượng ma túy bị thu giữ quả tang là 23,9788 gram Methamphetamine, 1,6423 gram MDMD và số lượng ma túy đã bán cho La Thành L là 8,0805 gram Methamphetamine, tổng cộng 33,7016 gram ma túy ở thể rắn. Do đó, cần áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, để xử phạt đối với các bị cáo Cấn Lê D và Cao Minh Đ.
La Thành L nhiều lần mua ma túy của Cao Minh Đ sau đó bán lại kiếm lời, qua khám xét và bắt quả tang thu giữ của bị cáo 8,0805 gram Methamphetamine. Do đó, cần áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự để xử phạt với mức án tương xứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gieo rắc nọc độc, làm tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy, tạo tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Đối với Cấn Lê D và Cao Minh Đ đều đã bị xét xử về tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn tiếp tục phạm cùng loại tội với mức độ nghiêm trọng hơn. Riêng Cao Minh Đ, đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện ăn năn hối cải. Bị cáo La Thành L phạm tội lần đầu nên xem xét giảm cho các bị cáo một mức hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[3] Về xử lý vật chứng và đồ vật thu giữ:
- Ma túy là vật cấm lưu hành; bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gạt tàn thuốc lá, hộp nhựa, balo, cân điện tử, bịch nylon không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Điện thoại di động thu giữ của các bị cáo là phương tiện liên lạc, thực hiện hành vi phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- Điện thoại di động thu giữ của bà Trần Hoàng Mỹ H1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho bà Trần Hoàng Mỹ H1.
- Xe gắn máy biển số 72C2-xxxxx Cao Minh Đ mượn của La Thành L, bị cáo La Thành L khai mượn của người không rõ nhân thân, lai lịch. Kết quả điều tra, chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản nói trên nên cần tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu trong thời gian nhất định. Nếu hết thời gian trên, vẫn không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- Số tiền 400.000 đồng thu giữ của La Thành L không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Cấn Lê D 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2023.
+ Buộc bị cáo Cấn Lê D nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng.
- Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Cao Minh Đ 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2023.
+ Buộc bị cáo Cao Minh Đ nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng.
- Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: La Thành L 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2023.
+ Buộc bị cáo La Thành L nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
+ 03 bì thư được niêm phong bên ngoài ghi số 1035 (4634) Gói 1; 1035 (4634) Gói 2 và 1035 (4634) Gói 3 có chữ ký của Giám định viên Lê Thị H (PC09) và Điều tra viên Nguyễn Thanh S (PC04) bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.
+ 01 hộp nhựa màu đen, bên trong không chứa gì.
+ 01 bì thư được niêm phong bên ngoài ghi số 1036/23 (4635) có chữ ký của Giám định viên Lê Thị H (PC09) và Điều tra viên Nguyễn Thanh S (PC04), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.
+ 01 balo, màu xanh, bên trong không chứa gì.
+ 03 bì thư được niêm phong bên ngoài ghi số 1037/23 (4036) Gói 1, 1037/23 (4036) Gói 2 và 1037/23 (4036) Gói 3 có chữ ký của Giám định viên Lê Thị H (PC09) và Điều tra viên Nguyễn Thanh S (PC04), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.
+ 01 hộp giấy được niêm phong bên ngoài ghi số 1037/23 (4036) Gói 4 có chữ ký của Giám định viên Lê Thị H (PC09) và Điều tra viên Nguyễn Thanh S (PC04), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.
+ 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 gạt tàn thuốc lá; 01 hộp nhựa, không chứa gì.
+ 15 bịch nylon, bên trong không chứa gì.
+ 01 cân điện tử.
* Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, thu giữ của La Thành L (không kiểm tra Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
+ 01 điện thoại di động, màu đỏ, thu giữ của La Thành L (thực nhận 01 điện thoại lưng màu đỏ, không rõ nhãn hiệu, bể nát màn hình, lưng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, bể nắp lưng, thu giữ của Cao Minh Đ (bể nát lưng, màn hình, không kiểm tra Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
+01 điện thoại Samsung, màu đen, thu giữ của Cấn Lê D (...851/2, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
+ 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu trắng, thu giữ của Cấn Lê D (không kiểm tra Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xám, thu giữ của Cấn Lê D (...3307, trầy xước, cũ, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) * Trả lại bà Trần Hoàng Mỹ H1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu hồng, thu giữ của Trần Hoàng Mỹ H1 (...3434, cũ, trầy xước, màn hình, lưng, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
* Trả lại cho bị cáo La Thành L số tiền 400.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
* Tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu, nếu hết thời gian trên không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước đối với: Xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: EXCITER, dung tích xi lanh: 150, biển số 72C2- xxxxx, SK: RLCUG0610HY601050, SM: G3D4E626175 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).
(Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/079 ngày 30/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền ngày 02/8/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh nộp vào Kho bạc Nhà nước Quận 10).
Mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 623/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 623/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 28/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về