Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 413/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 413/2023/HS-ST NGÀY 29/08/2023 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và tại điểm cầu thành phần phòng xét xử trực tuyến thuộc Trại tạm giam Chí Hoà (T30), Ấp 5, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 467/2023/HSST ngày 21/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3075/2023/QĐXXST-HS ngày 01/8/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Chí L, sinh năm 1981 tại tỉnh V; nơi thường trú: 82 Nguyễn L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Phòng 4, Nhà số 4 Phó Đức C, Phường B, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu N và bà Phạm Thị H; có vợ Võ Thị Hồng C; có 02 con sinh năm 2007 và năm 2011; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại bản án số 303/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/3/2020. Bị bắt, tạm giam ngày 04/10/2022 (có mặt).

Người bào chữa: Các Luật sư Nguyễn Minh H và Trần Ngọc H1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Nguyễn Chí L (Luật sư Minh H có mặt, Luật sư Ngọc H1 vắng mặt do bị cáo từ chối).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1997; trú tại: 343 Phan Xích L, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, tại trước nhà số 12 Nguyễn X, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Chí L đang điều khiển xe máy biển số 59E2-090.xx có biểu hiện nghi vấn nên bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện thu giữ tại vị trí để chân xe gắn máy L đang điều khiển 01 gói ny lon màu xanh, chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma tuý ở thể rắn có khối lượng 50,2366 gam, loại Methamphetamine và 01 thùng giấy màu trắng có quần áo cũ có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma tuý ở thể rắn có khối lượng 13,9344 gam, loại Methamphetamine. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Chí L cùng vật chứng về Công an Phường F, quận B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong toàn bộ số tang vật trên.

Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 04/10/2022, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Chí L tại Phòng 401 Nhà số 4 Phó Đức C, Phường B, quận B, thu giữ: 01 gói nylon chứa chất tinh thể không màu; 01 gói giấy màu vàng chứa 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 gói giấy màu đỏ chứa 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 52,9269 gam, loại Methamphetamine; 01 cân điện tử; 02 muỗng nhựa màu trắng và màu hồng; 30 gói nylon không chứa gì. Tại thời điểm khám xét trong Phòng 401 có mặt của Nguyễn Hồng Nhựt H, kết quả xét nghiệm H “âm tính” với ma túy. H khai không biết và không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B không xử lý đối với H.

Toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án đã được trưng cầu giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 5737/KLGĐ-H ngày 13/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Chí L khai nhận: L mua bán ma túy từ tháng 9/2022 và đã 02 lần mua ma túy để bán lại cho khách kiếm lời, cụ thể:

- Lần thứ nhất: giữa tháng 9/2022, qua bạn bè giới thiệu, L quen một người tên S (không rõ lai lịch) bán ma túy, L đã liên hệ mua 65 gam ma túy đá với giá 12.500.000 đồng ở khu vực đường Trường S, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Số ma túy này, L đã lấy ra 15 gam bán cho khách với giá 6.000.000 đồng, số còn lại L phân chia thành 03 gói nhỏ rồi cất giấu tại chỗ ở để tiếp tục bán nhưng chưa kịp bán thì bị kiểm tra, thu giữ.

- Lần thứ hai: vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 03/10/2022, L đang ở tại phòng 40, nhà số 4 Phó Đức C, Phường B, quận B thì người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 03333536xx gọi cho L hỏi mua 15 gam ma túy đá. Do sợ ma túy ở phòng kém chất lượng H1 không mua nên L nói với H1 đợi có hàng sẽ báo lại sau. Khoảng 21 giờ cùng ngày, tiếp tục có người phụ nữ tên L (không rõ lai lịch) gọi điện cho L hỏi mua 50 gam ma túy đá, L cũng nói với L là sẽ báo lại sau. Sau đó, L điều khiển xe gắn máy biển số 59E2-090.xx sang quận Phú Nhuận gặp người đàn ông tên “C” (không rõ lai lịch) để nhờ hỏi mua giùm 65 gam ma túy đá. “C” báo giá 12.500.000 đồng và nói L đến khu vực đường Phan Xích L, quận P sẽ có người giao ma túy. L đi theo chỉ dẫn của “C” đến điểm hẹn nhận ma túy và trả tiền cho người giao. Sau khi nhận ma túy, L mang về chỗ ở phân chia thành 02 gói nylon có khối lượng 50 gam và 15 gam. Sau đó, L liên hệ lại với H1 nói đã có ma túy và báo giá 15 gam giá 6.000.000 đồng. H1 đồng ý mua và nói L ra nhà xe Đ gửi cho H1 theo địa chỉ: Ngã 4 Tuy P, B, ghi người nhận H1, số điện thoại 03333536xx, L đã thực hiện theo thông tin H1 chỉ dẫn. L tiếp tục liên hệ với L1 nói đã có ma túy và bán 50 gam giá 16.500.000 đồng, L đồng ý mua và hẹn giao dịch mua bán tại khu vực Phường 28, quận B. L lấy gói ma túy 50 gam còn lại bỏ vào túi nylon màu đen rồi bỏ vào hộp giấy mang cùng với hộp đựng 15 gam ma túy để đi giao cho L1 và gửi cho H1 như thỏa thuận trước đó. Khi L điều khiển xe đến trước nhà số 12 Nguyễn X, Phường F, quận B thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Vật chứng vụ án, gồm có: 03 gói niêm niêm phong ghi vụ 5737(1166)/22 (Gói 1), (Gói 2), (Gói 3), bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 01 điện thoại di động hiệu iphone màu đen; 01 túi nilon màu xanh, 01 hộp giấy màu trắng, 01 gói nylon màu đen, 01 gói nylon màu trắng; 01 thùng giấy có dán chữ “Gửi P 09335486xx - Nhận: H1 03333536xx - Ngã 4 Tuy P - xe Đ”; một quần màu xanh, một quần màu cam, một áo màu vàng; một áo màu trắng; 01 hộp sắt màu xanh in chữ ROYAL; 02 gói giấy màu vàng; 01 gói giấy màu đỏ; 01 cân điện tử màu đỏ trắng MarLLono; 01 muỗng nhựa màu hồng; 30 gói nylon rỗng; 01 xe gắn máy nhãn hiệu HONDA loại Vision màu đen biển 59E2-090.xx.

Tại bản Cáo trạng số 364/CTr-VKS-P1 ngày 13/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Chí L khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng, không oan sai.

Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo cùng với các tài liệu chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Chí L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Chí L 20 năm tù; buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Luật sư Nguyễn Minh H trình bày bài bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo được tặng thưởng giấy khen khi tham gia đội công tác trật tự đô thị tại UBND Phường A, quận B; đã tham gia lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng; gia đình có hoàn cảnh khó khăn có 02 con còn nhỏ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã truy tố.

Bị cáo Nguyễn Chí L thống nhất với lời bào chữa của vị luật sư, không tranh luận gì thêm.

Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Chí L thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình, hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, luật sư và bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí L không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Chí L đã khai nhận toàn bộ những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở xác định: Vì động cơ tư lợi, Nguyễn Chí L đã mua ma túy của các đối tượng tên S và C (không rõ lai lịch) để bán cho người khác kiếm lời. Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, tại trước nhà số 12 Nguyễn X, Phường F, quận B, L đang điều khiển xe gắn máy biển số 59E2-090.xx đi giao ma túy cho người mua là L (không rõ lai lịch) và gửi ma túy cho H1 (không rõ lai lịch) thì bị kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại vị trí để chân xe gắn máy L đang điều khiển 01 gói nylon màu xanh và 01 thùng giấy màu trắng có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma tuý ở thể rắn có tổng khối lượng là 54,1710 gam, loại Methamphetamine. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L tại Phòng 401 Nhà số 4 Phó Đức C, Phường B, quận B thu giữ nhiều gói nylon, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 52, 9269 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy đã thu giữ của bị cáo là 117,0979 gam, loại Methamphetamine. (Theo Kết luận giám định số 5737/KLGĐ-H ngày 13/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh).

Với hành vi cất giấu 117,0979 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, mục đích để bán cho người khác nhằm kiếm lời, xét đã có cơ sở để kết tội bị cáo Nguyễn Chí L phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma túy, không những gây mất trật tự trị an, sức khỏe con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập trong xã hội mà còn gây khó khăn trong việc phòng chống tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, sau khi được tái hoà nhập cộng đồng lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Bị cáo khai đã một lần bán ma túy và thu được 6.000.000 đồng, nhưng ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh nên không buộc bị cáo phải nộp lại số tiền này.

Đối với đối tượng tên S, C là người bán ma túy và đối tượng tên Loan, H1 là người mua ma túy. Do L khai không rõ nhân thân lai lịch, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý là có căn cứ.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Đối với các gói ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và các vật dụng gồm: túi nylon, hộp giấy, gói nylon, thùng giấy, quần, áo cũ, hộp sắt, gói giấy, muỗng nhựa không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với điện thoại hiệu Iphone và 01 cân điện tử, bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua bán ma tuý, sử dụng cân điện tử để phân chia ma túy. Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu HONDA loại Vision, biển 59E2- 090xx, số khung: RLHJF5834LY045115, số máy: JF86E-2323918. Qua xác minh xe có số khung, số máy nguyên thủy do Nguyễn Thị Minh T đứng tên sở hữu. Qua xác minh, Nguyễn Thị Minh T vắng mặt tại địa phương. L khai L và T có quan hệ tình cảm, đầu năm 2002 L mượn xe của T để đi lại. Ngày 04/10/2022, L sử dụng xe để đi mua bán ma túy thì bị kiểm tra, thu giữ. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có ai đến liên hệ giải quyết. Do đã xác định được chủ sở hữu xe là bà Nguyễn Thị Minh T và chưa có căn cứ để xác định bà T có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo L nên trả lại xe cho bà T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH 

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Chí L 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2022.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 5737(1166)/22 Gói 1, 5737(1166)/22 Gói 2, 5737(1166)/22 Gói 3, có chữ ký của giám định viên Thiếu tá Trần Đình H và cán bộ Bùi Tiến Nh, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) túi nylon màu xanh; 01 (một) hộp giấy màu trắng; 01 (một) gói nylon màu đen; 01 (một) gói nylon màu trắng; 01 (một) thùng giấy có dán chữ “Gửi P 0933548xxx - Nhận: H1 0333353xxx -Ngã 4 Tuy P - xe ”; 01 (một) quần màu xanh; 01 (một) quần màu cam; 01 (một) áo màu vàng; 01 (một) một áo màu trắng; 01 (một) hộp sắt màu xanh in chữ ROYAL; 02 (hai) gói giấy màu vàng; 01 (một) gói giấy màu đỏ; 01 (một) muỗng nhựa màu trắng; 01 (một) muỗng nhựa màu hồng; 30 (ba mươi) gói nylon rỗng.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone màu đen, khay sim ghi số 3572680976521xx, đã qua sử dụng, kèm 01 sim (màn hình bể, không kiểm tra Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) cân điện tử màu đỏ trắng Marllono.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Minh T: 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, dung tích xi lanh: 108, BS: 59E2-090.xx, SK: RLHJF5834LY045115, SM: JF86E-2323918 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/339 ngày 21/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

104
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 413/2023/HS-ST

Số hiệu:413/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về