Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 365/2024/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 365/2024/HS-PT NGÀY 22/04/2024 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Thị H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1975, tại Thái Bình.

Nơi cư trú: Đội 05, xã Thanh H, huyện Điện B, tỉnh Điện B; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Vũ Thị N, sinh năm 1946; có chồng Cao Văn H, sinh năm 1970 và 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 25/5/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam C an tỉnh Đ. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo H1:

+ Ông Giang Hồng T - Luật sư Văn phòng Luật sư G, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.

+ Ông Trần Đình Tr và ông Trần Đinh Minh L - Luật sư Văn phòng Luật sư Vì Dân, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt Luật sư Tr; Luật sư L vắng mặt.

+ Bà Vũ Thị N, ông Lương Đức C, bà Nguyễn Thị V - Luật sư Văn phòng Luật sư C Lý V, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; Có mặt Luật sư Ng; vắng mặt Luật sư C và Luật sư V.

- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị:

1. Vì Thị T (tên gọi khác: Vì Thị Cu), sinh năm 1982, tại Đ.

Nơi cư trú: Đội 5, xã Thanh Y, huyện Điện B, tỉnh Điện B; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không đi học; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Vì Văn H (Đã chết) và bà Vì Thị P (đã chết); có chồng T, sinh năm 1982 và 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án: 01 tiền án (Ngày 13/2/2009, Th bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 11 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/8/2016); tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2019, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Thanh Xuân - Bộ công an được trích xuất về tạm giam tại Trại tạm giam C an tỉnh Đ. Có mặt.

2. Vì Văn T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1982, tại Đ.

Nơi cư trú: Đội 5, xã Thanh Y, huyện Điện B, tỉnh Điện B; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Vì Văn D (Đã chết) và bà Lò Thị ,L sinh năm 1954; có vợ T (tên gọi khác: Vì Thị C), sinh năm 1982 và 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án: 01 tiền án (Ngày 27/9/2010, T bị TAND huyện Đ áp dụng Khoản 1 Điều 194 và điểm d Khoản 2 Điều 198; điểm p Khoản 1 Điều 46, Điều 50 BLHS năm 1999. Xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 07 năm 06 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt là 09 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với T. Ngày 24/5/2017, T chấp hành xong án phạt tù); tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 28/3/2019, hiện đã bị kết án và đang giam giữ tại Trại tạm giam C an tỉnh Đ. Có mặt.

3. Bùi Văn C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 13/4/1975, tại Điện B .Nơi cư trú: Đội 11, xã Thanh N, huyện Điện B, tỉnh Điện B; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Bùi Huy C (Đã chết) và bà Doãn Thị N, sinh năm 1952; có vợ Bùi Thị Kim T, sinh năm 1975 và 01 con, sinh năm 1996; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị bắt tạm giam từ ngày 17/02/2019, hiện đang giam giữ tại Trại tạm giam C an tỉnh Đ. Có mặt.

4. Lường Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05/01/1991, tại Đ.Nơi cư trú: Đội 10, bản Na H, xã Hua T, huyện Điện B, tỉnh Điện B; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Lường Văn T, sinh năm 1960 và bà Lò Thị L, sinh năm 1961; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: 02 tiền án (Ngày 19/01/2016, Lường Văn H bị TAND thành phố Đ Phủ áp dụng Khoản 1 Điều 138 và điểm h, p Khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. Xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Ngày 13/7/2016 chấp hành xong án phạt tù. Ngày 14/11/2017, Lường Văn H bị TAND thành phố Đ Phủ áp dụng Khoản 1 Điều 138 và điểm p Khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. Xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Ngày 09/5/2018 chấp hành xong án phạt tù); tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 17/02/2019, hiện đang giam giữ tại Trại tạm giam C an tỉnh Đ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Phạm Văn N, sinh năm 1976; Địa chỉ: Đội 19, xã Thanh N, huyện Điện B, tỉnh Điện B; Hiện đã bị kết án và đang giam giữ tại Trại tạm giam C an tỉnh Đ. Có mặt.

2. Vương Văn H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ dân phố 25, phường Mường T, thành phố Đ P, tỉnh Điện B; Hiện đã bị kết án và đang giam giữ tại Trại tạm giam C an tỉnh Đ. Có mặt.

3. Lường Văn L, sinh năm 1993. Địa chỉ: Đội 12, xã Thanh N, huyện Điện B, tỉnh Điện B; Hiện đã bị kết án và đang giam giữ tại Trại tạm giam C an tỉnh Đ. Có mặt.

4. Chị Cao Thảo L, sinh năm 1994; Địa chỉ: Đội 5, xã Thanh H, huyện Điện Bi, tỉnh Đ. Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng Thái: Ông Tòng Văn Đ; Địa chỉ: Phường Noong B, thành phố Đ P, tỉnh Điện B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ đơn tố giác của các bị cáo Bùi Văn C và Phạm Văn Nh trong vụ án Giết người, Hiếp dâm, Cướp tài sản đối với chị Cao Mỹ D, Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Đ triệu tập đối tượng Vì Thị Th đến làm việc. Quá trình làm việc, Vì Thị Th thừa nhận, vào khoảng 11 giờ ngày 09/02/2019, C và Nh đến nhà Th đặt vấn đề mua 04 viên Methamphetamine, trong lúc C đang trao đổi với Th thì Nh lấy ra 200.000 đồng để ở bàn uống nước, khi đó chồng Th là Vì Văn T cũng chứng kiến. Th cầm tiền đi ra khu vực bờ mương xã Thanh Yên mua 04 viên Methamphetamine với giá 40.000 đồng/01 viên của 01 người đàn ông (Th không biết tên, địa chỉ) rồi mang về đưa cho Nh, sau đó Th ra ngoài giặt quần áo, C và Nh đã sử dụng hết số ma túy trên ngay tại bàn uống nước nhà Th; T đang ngồi xem tivi ở đó biết C, Nh sử dụng ma túy, nhưng T không nói gì. Ngoài hành vi này, Th còn khai, vào cuối tháng 5/2017, Th còn bán cho C 02 bánh Heroine với giá 300 triệu đồng.

Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra cấp sơ thẩm xác định: Vào tháng 5/2017, có một người phụ nữ đi xe máy HONDA màu đỏ, loại xe số, đến nhà C hỏi mua gà và giới thiệu tên là H1 nhà ở đội 5, xã Thanh Hưng, huyện Đ, sau đó Trần Thị H1 đặt vấn đề mua 04 bánh Heroine. C nhất trí và hai bên thỏa thuận giá là 160 triệu đồng/01 bánh. Sau đó, C đến nhà Th đặt mua 04 bánh Heroine với giá 150 triệu đồng/01 bánh. Th đồng ý rồi đến khu vực biên giới V - Lào gặp 01 người đàn ông đặt mua 04 bánh Heroine, hẹn 08 hôm sau sẽ đến giao dịch. Theo hẹn, Th đã đến gặp người đàn ông mua chịu 02 bánh Heroine với giá 90 triệu đồng/01 bánh, đồng thời mua thêm 01 gói nhỏ Heroine và 08 viên hồng phiến (Methamphetamine). Th mang số ma túy trên về nhà cất giấu trong chiếc sọt làm bằng tre để ở gầm giường ngủ và bảo với chồng là T trông coi 02 bánh Heroine để bán cho C.

Khoảng cuối tháng 5/2017, H1 đến hỏi C về Heroine, C xin số điện thoại của H1, bảo khi nào có sẽ liên lạc và hẹn gặp nhau ở khu vực nghĩa trang nhân dân xã Thanh Hưng, huyện Đ. Sau đó, C rủ Lường Văn H (sau đây viết tắt là Lường H) đi lấy Heroine về bán và hứa chia tiền lãi cho Lường H, H đồng ý. C chở Lường H đến nhà vợ chồng Th, T và mua của Th 500.000 đồng ma túy gồm 01 gói nhỏ Heroine và 08 viên hồng phiến. C và Lường H sử dụng hết số ma túy trên ngay tại bàn uống nước trong nhà Th, T ngồi chứng kiến nhưng không nói gì. Sau đó, C bảo Th lấy 02 bánh Heroine cho C. Th vào buồng ngủ lấy 02 bánh Heroine đưa cho C ngay tại bàn uống nước trước sự chứng kiến của T và Lường H. C dùng dao gọt hoa quả chích 01 ít đưa H dùng thử, H thử xong bảo chất lượng tốt. C bảo với Th cho nợ tiền, hẹn 01 đến 02 tiếng sau sẽ mang trả, Th đồng ý. C cầm túi nilon màu đen bên trong có 02 bánh Heroine để ở giữa xe máy của C rồi cùng Lường H đi đến nghĩa trang nhân dân xã Thanh Hưng. Tại đây, C gọi điện cho H1, khoảng 05 phút sau H1 đi xe máy đến bãi rác gần địa điểm hẹn, C chở Lường H đến chỗ H1 đứng cách khoảng 1,5m thì dừng lại. C xuống xe lấy túi nilon màu đen đựng 02 bánh Heroine đưa cho H1, H1 mở túi nilon ra xem rồi cho túi nilon này vào chiếc làn nhựa màu đỏ để ở giữa xe của H1, đồng thời H1 lấy túi nilon màu xanh đựng tiền đưa cho C và bảo trả trước 290 triệu đồng, còn thiếu 30 triệu đồng, H1 hẹn mấy hôm nữa sẽ lên nhà C trả nốt. Sau đó, H1 quay xe đi về hướng UBND xã Thanh Hưng còn C cất số tiền 290 triệu đồng vào túi quần bên phải, quay xe chở Lường H đến nhà Th và lấy tiền trả Th, Th đếm được 290 triệu đồng và nói còn thiếu 10 triệu đồng. C bảo Th cho nợ mấy hôm sẽ trả, Th đồng ý.

Ngoài lần mua bán ma túy trên, C còn khai nhận vào khoảng tháng 01/2019 đến đầu tháng 02/2019 C đã nhiều lần đi mua ma túy của một số người nghiện tại khu vực đội 5, xã Thanh Yên, huyện Đ mang về bán cho Phạm Văn Nh, tổng cộng 15 viên hồng phiến (Methamphetamine) với giá 50.000 đồng/01 viên, để Nh sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Th khai nhận như nội dung trên, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Th chỉ khai nhận bán cho C 04 viên hồng phiến vào đầu tháng 2/2019 chứ không bán cho C 08 viên hồng phiến và 02 bánh Heroine vào tháng 5/2017. Lý giải về việc thay đổi lời này, bị cáo Th cho rằng tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã bị ép cung, mớm cung.

Bị cáo H1 khai không quen biết và không mua bán ma túy với các bị cáo C, Lường H, Th, T.

Tại C văn số 436/C54(TT2) ngày 12/4/2018, Viện khoa học hình sự Bộ C an xác định khối lượng trung bình 01 bánh Heroine trong 06 tháng đầu năm 2017 dao động từ 350,1 gam đến 354,8 gam.

Tại C văn số 188/PC09, Phòng Kỹ thuật hình sự C an tỉnh Đ xác định khối lượng 01 viên Methamphetamine có ký hiệu WY trong 06 tháng đầu năm 2017 dao động từ 0,09 gam đến 0,11 gam.

Tại C văn số 148/PC09, Phòng Kỹ thuật hình sự C an tỉnh Đ xác định khối lượng 01 viên Methamphetamine có ký hiệu WY trong 06 tháng đầu năm 2019 dao động từ 0,09 gam đến 0,1 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 27/11/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Đ đã quyết định:

- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Xử phạt bị cáo Trần Thị H1 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2019.

Tòa án nhân dân tỉnh Đ còn xử phạt bị cáo Vì Thị Th (tên gọi khác: Vì Thị Cu) tù Chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bùi Văn C 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lường Văn H tù Chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vì Văn T tù Chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (Bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vì Văn T phải chấp hành hình phạt chung là tù Chung thân.

Ngoài ra, bản án còn quyết định truy thu của Vì Thị Th số tiền 110.640.000 đồng sung ngân sách Nhà nước, xử lý các vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/12/2019 bị cáo Trần Thị H1 kháng cáo cho rằng bị cáo bị oan vì không thực hiện hành vi mua bán trái phép 02 bánh Heroine như bản án sơ thẩm quy kết.

Ngày 04/12/2019 bị cáo Vì Thị Th kháng cáo cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi mua bán 02 bánh Heroine, 08 viên hồng phiến và 01 gói nhỏ Heroine vào tháng 5/2017.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 359/2022/HS-PT ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vì Thị Th (tên gọi khác: Vì Thị Cu); Giữ nguyên phần quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS- ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ đối với bị cáo Vì Thị Th.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Vì Thị Th (tên gọi khác: Vì Thị Cu) tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2019. Truy thu của bị cáo Vì Thị Th 110.640.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H1; Hủy phần quyết định về tội danh, hình phạt và án phí tại Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ đối với bị cáo Trần Thị H1. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ để điều tra lại theo thủ tục chung.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2023/KN-HS ngày 05/5/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 359/2022/HS-PT ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy một phần bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Thị H1 để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 15/2023/HS-GĐT ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định:

Hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 359/2022/HS-PT ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Thị H1 để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Trần Thị H1 giữ nguyên nội dung kháng cáo kêu oan và đề nghị Luật sư Vũ Thị Ng trình bày căn cứ kháng cáo thay cho bị cáo. Luật sư Vũ Thị Ng nêu căn cứ kháng cáo: Bị cáo Trần Thị H1 kháng cáo với nội dung bị cáo đã bị bản án sơ thẩm kết án oan vì bị cáo không quen biết, chưa bao giờ gặp C và H nên không có hành vi mua bán ma túy với bị cáo Bùi Văn C và bị cáo Lường Văn H, bị cáo H1 không hề quen biết bị cáo C, bị cáo Lường Văn H, bị cáo Vì Thị Th cũng như bị cáo Vì Văn T. Trong đêm 30 Tết năm 2019 khi con gái bị cáo là Cao Mỹ D bị các bị cáo trong vụ án bắt cóc, hiếp dâm và giết người đối với con gái của bị cáo thì bị cáo không hề nhận được hoặc nói chuyện điện thoại với bị cáo T như T đã khai. Việc các bị cáo trong vụ án gồm có T, C, Nh, Lường Văn H, Lường Văn Lả, Vương Văn H đã bắt cóc con gái của bị cáo, hãm hiếp rồi giết con gái của bị cáo, do các bị cáo đó không bị bắt giữ ngay nên đã có thời gian bàn bạc, đổ oan cho bị cáo về việc mua bán ma túy để họ được giảm nhẹ tội. Đề nghị xem xét lại vụ án một cách khách quan để minh oan cho bị cáo.

- Bị cáo Trần Thị H1 bổ sung và những người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm xác định: Bị cáo không quen biết và không mua bán ma túy với các bị cáo C, Lường H, Th, T. Tại bản án sơ thẩm đã dùng lời khai của C, Lường H để buộc tội bị cáo H1, tuy nhiên các lời khai này còn có nhiều điểm mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai của Th và T, nhiều nội dung thiếu logic, tại phiên tòa phúc thẩm thì chỉ còn Lường H giữ nguyên lời khai còn bị cáo T và C đều phản cung; việc nhận dạng, thực nghiệm điều tra còn nhiều nội dung chưa cụ thể, nhiều tài liệu chứng cứ cần thiết phải thu thập để phục vụ điều tra như khai thác hình ảnh, dữ liệu trong đầu DVD, các điện thoại và sim điện thoại thu giữ tại nhà H1. Với những chứng cứ thu thập được thì việc buộc tội đối với bị cáo là thiếu căn cứ pháp luật. Việc Điều tra viên cung cấp bản cung và các biên bản hoạt động tố tụng của các bị cáo khác cho H1 chứng tỏ có sự thông cung, mớm cung. Nhiều hoạt động tố tụng có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như cùng một thời điểm 01 Kiểm sát viên, 01 Điều tra viên tiến hành nhiều hoạt động khác nhau, tại nhiều nơi khác nhau là sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm sai lệch hồ sơ, có đủ căn cứ khởi tố một vụ án độc lập. Vì vậy, đề nghị hủy bản án sơ thẩm đối với bị cáo H1 và thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo H1.

- Bị cáo Vì Thị Th khai quá trình điều tra, bị cáo bị ép cung, mớm cung, buộc bị cáo phải khai nhận phù hợp với các lời khai của các bị cáo khác; bị cáo Th là người không biết chữ nhưng nhiều buổi lấy lời khai, hỏi cung không có người giám hộ, không có người bào chữa. Tòa án cấp sơ thẩm đã dùng lời khai của T, C và bị cáo Lường H để buộc tội bị cáo Th đối với hành vi mua bán trái phép 02 bánh Heroine nhưng các lời khai này còn có nhiều điểm mâu thuẫn, nhiều nội dung không hợp lý; tại phiên tòa phúc thẩm năm 2022 thì chỉ còn bị cáo Lường H giữ nguyên lời khai còn bị cáo T và C đều thay đổi lời khai; do đó bị cáo bị buộc tội oan. Thời gian cuối tháng 5 năm 2017 khi chồng bị cáo là Vì Văn T mới đi tù về thì nhà Th chưa có phòng khách, chưa có bộ bàn ghế trong lời khai của C và H như án sơ thẩm mô tả vì vậy không có việc Th bán ma túy tại bộ bàn ghế trong phòng khách như mô tả.

Bị cáo Lường Văn H thay đổi lời khai do trong cả hai vụ án bị cáo là người yếu thế nên bị các bị cáo trong cả hai vụ án đổ oan; bị cáo không hề biết chị D và bị cáo H1 là ai; lời khai ban đầu của bị cáo là do bị điều tra viên mớm cung, ép phải khai như vậy; bị cáo không nhìn thấy C nhận tiền từ bị cáo H1; khi nhận dạng H1 thì được Điều tra viên cho xem ảnh của H1 trước; trả lời câu hỏi của Luật sư bảo vệ cho bị cáo H1 thì bị cáo khai bị cáo không quen biết T và Th mà do đi cùng C nên mới biết vợ chồng T, Th.

Bị cáo Bùi Văn C khai không có hành vi mua bán 02 bánh Heroine với bị cáo H1; Việc nhận dạng H1 do được xem ảnh trước, do bị đánh quá nhiều nên tại phiên tòa năm 2022 mới thay đổi lời khai nhận tội; bị cáo không biết Cao Mỹ D; trong vụ án này bị cáo bị oan.

Bị cáo Vì Văn T khai do bị đánh đập và ép cung nên khai nhận tội thực tế bị cáo không hề quan biết H1; bị cáo xác nhận có việc Th bán cho C và H 04 viên Hồng phiến và 01 tép Heroine chứ không có việc bán cho C 02 bánh Heroine như bản án đã quy kết, bị cáo bị oan.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nêu quan điểm:

+ Đối với kháng cáo kêu oan của bị cáo H1: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo H1 đều kêu oan, không thừa nhận hành vi mua bán 02 bánh Heroine. Xét thấy, hồ sơ vụ án còn có một số vấn đề mâu thuẫn chưa được làm rõ, cụ thể là:

Tại các biên bản hỏi cung, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, Lường H đều khai H1 trả cho C 300 triệu đồng, nợ lại 20 triệu đồng, trên đường về C rút lại 10 triệu đồng, nói là để chi tiêu và mua thuốc cho vợ, chỉ đưa cho Th 290 triệu đồng; khoảng 3- 4 ngày sau thì C đưa cho Lường H 20 triệu đồng tiền công đi bán ma túy cho H1. Các lời khai này không phù hợp với lời khai của C về việc H1 mới trả C 290 triệu đồng, còn nợ lại 30 triệu đồng và C chưa trả tiền công cho Lường H. Lời khai của Lường H cũng mâu thuẫn bởi nếu Lường H được trả tiền công 20 triệu đồng thì C không được hưởng lợi gì. Khi Cơ quan điều tra cho đối chất thì Lường H lại xác định là H1 mới trả C 290 triệu đồng và chưa trả công cho Lường H. Lý do Lường H thay đổi lời khai là do nhớ nhầm. Việc Lường H khai nhớ nhầm là không thuyết phục, cần điều tra làm rõ.

T khai vào năm 2009 H1 cũng mua ma túy và nợ T 300 triệu đồng. Vào chiều 29 Tết năm 2019, T có đưa Vương Văn H đến chợ để nhận mặt H1 nhưng vào ngày 30/5/2019, khi Cơ quan điều tra cho T nhận dạng H1 thì T không nhận được H1.

C và Lường H có nhận dạng được chiếc xe máy BKS 27H1-7407 mà C và Lường H cho rằng H1 đi xe máy này khi mua Heroine của C vào tháng 5/2017 nhưng đây cũng chính là chiếc xe chị D chở gà đi bán cho Vương Văn H và bị các bị cáo chiếm giữ.

Sau 02 năm C và Lường H vẫn nhận dạng được làn nhựa nhưng không rõ làn nhựa này lấy ở đâu ra? Nguồn gốc của làn nhựa này có hợp pháp hay không? Về thời gian đòi nợ, C khai bán 02 bánh Heroine cho H1 vào tháng 5/2017, nhưng đến tháng 02/2019 sau gần 02 năm mới đòi tiền. C khai không gọi điện cho H1 mà chỉ gặp một lần để đòi nợ. Điều này không logic, tại sao C không đến nhà H1 hoặc đến nơi H1 bán gà để đòi tiền.

T khai, sau khi bắt D, T có liên lạc điện thoại với H1 song tài liệu Cơ quan điều tra thu giữ, list điện thoại của H1 trước, trong và sau ngày 04/02/2019 không thấy thể hiện.

C và T còn khai sáng mùng 03 Tết tức ngày 06/02/2019, H1 có đến nhà T chửi T về việc T giết con gái H1, việc này có ai chứng kiến không? Nhà T có camera không? Cần điều tra làm rõ.

Tại sao T cùng đồng bọn khai đã gọi điện thông báo cho H1 biết việc bắt chị Cao Mỹ D là con gái H1 mà khi T và đồng bọn giết D lại còn tạo hiện trường giả, giả vờ để Bùi Thị Kim Th là vợ C phát hiện, điều này chưa được điều tra làm rõ.

T khai nhận, chị L1 gọi điện vào điện thoại chị D vào 20 giờ 28 phút ngày 04/02/2019, cuộc gọi kéo dài 90 giây, lúc đó T nghe máy và bảo chuyển máy cho H1 và nói cho H1 biết về việc bắt cóc D và yêu cầu đòi nợ. Cuộc gọi này chưa được làm rõ.

Với những lời khai còn nhiều mâu thuẫn nêu trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với 02 bánh Heroine là chưa có cơ sở vững chắc, cần điều tra làm rõ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự, hủy một phần bản án sơ thẩm đối với bị cáo H1, chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Các nội dung khác cần thiết phải được điều tra làm rõ; việc khởi tố vụ án, cử Luật sư bào chữa, cử người chứng kiến có nhiều sai sót, thiếu căn cứ; việc cấp sơ thẩm tổ chức họp liên ngành, thống nhất đường lối giải quyết vụ án là vi phạm thủ tục tố tụng nên đề nghị HĐXX phúc thẩm thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo Th và hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, lời khai của các bị cáo, quan điểm của các Luật sư và đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Thị H1 làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Các bị cáo Vì Văn T, Bùi Văn C, Phạm Văn Nh, Lường Văn H, Lường Văn Lả, Vương Văn H đã bị xét xử tại Bản án hình sự phúc thẩm số 279/2020/HS-PT ngày 17/6/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về các tội Giết người, Hiếp dâm, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với chị Cao Mỹ D; bản án đang có hiệu lực pháp luật. Các bị cáo Vì Văn T, Bùi Văn C, Lường Văn H còn bị xét xử cùng trong vụ án này nhưng không kháng cáo; bị cáo Vì Thị Th bị xét xử trong vụ án này có kháng cáo nhưng đã không được chấp nhận kháng cáo; tại Bản án hình sự phúc thẩm số 359/2022/HS-PT ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Th. Vì vậy việc triệu tập các bị cáo này tại phiên tòa phúc thẩm để làm rõ những vấn đề có liên quan đối với bị cáo Trần Thị H1.

Về hành vi, quyết định tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Th, C, T cho rằng tại Cơ quan điều tra các bị cáo bị ép cung, mớm cung và buộc phải khai báo theo sự hướng dẫn của cán bộ điều tra, tuy nhiên các bị cáo không đưa ra được căn cứ, trong khi hầu hết các buổi ghi lời khai, hỏi cung và tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra đều có sự giám sát của các Kiểm sát viên, sự tham gia của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo; không có tài liệu xác định có dấu hiệu của việc ép cung, mớm cung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các Luật sư có chỉ ra một số vi phạm tố tụng trong việc chỉ định Luật sư, trong việc lấy lời khai, hỏi cung bị can, nhận dạng… như cùng một thời điểm một Kiểm sát viên, một Điều tra viên tham gia nhiều hoạt động tố tụng khác nhau, tại hai địa điểm khác nhau, cán bộ điều tra cung cấp bản sao các biên bản ghi lời khai và các văn bản hoạt động tố tụng cho bị cáo H1 là có dấu hiệu của việc thông cung, mớm cung, Luật sư tham gia vào các buổi ghi lời khai của các bị cáo khi chưa có quyết định cử Luật sư... Các cán bộ điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên tham gia các hoạt động tố tụng này xác định, thực tế các biên bản đó ghi đúng nội dung các hoạt động tố tụng, các hoạt động này được ghi âm, ghi hình đầy đủ. Các vi phạm này chỉ là vi phạm thủ tục hành chính tư pháp, không làm ảnh hưởng đến quyền tố tụng của các bị can, bị cáo, không làm không thay đổi bản chất sự việc.

Tại phiên tòa phúc thẩm không có thêm tài liệu, chứng cứ nào mới; do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Về nội dung, xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Trần Thị H1, HĐXX thấy: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 359/2022/HS-PT ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã nhận định: “Do đó TAND tỉnh Đ kết án bị cáo Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không xử oan bị cáo.

Đối chiếu với khối lượng ma túy và mức hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì hình phạt tù chung thân mà cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Th cũng là phù hợp; hơn nữa, bị cáo Th không kháng cáo về mức hình phạt nên HĐXX không xem xét.

Bị cáo Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên cấp sơ thẩm đã truy thu của Th số tiền thu lời bất chính là 110.640.000đ cũng là có căn cứ, đúng pháp luật.” Bản án này hiện đang có hiệu lực pháp luật, tại phiên tòa hôm nay bị cáo Th không thừa nhận hành vi như đã bị quy kết và kêu oan nhưng HĐXX không có thẩm quyền xem xét.

[2.1] Đối với kháng cáo của bị cáo Trần Thị H1: Trong suốt quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo H1 đều khai không quen biết, không mua ma túy của các bị cáo C và bị cáo Lường Văn H. Bị cáo H1 cho rằng, các bị cáo Bùi Văn C, Lường Văn H, Vì Văn T là những bị cáo đã bắt cóc, hiếp và giết con gái bị cáo H1 là Cao Mỹ D, các bị cáo không bị bắt giữ ngay nên đã có thời gian bàn bạc, đổ tội cho bị cáo H1 để biện minh nhằm giảm nhẹ cho hành vi phạm tội của các bị cáo đó.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Bùi Văn C, Lường Văn H và Vì Văn T đều thay đổi lời khai như đã khai tại phiên tòa sơ thẩm ngày 27/11/2019 và lời khai ban đầu của các bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra. Nội dung thay đổi đều cho rằng trong quá trình điều tra các bị cáo đều bị đánh, bị mớm cung ép phải khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xác định nhưng thực tế các bị cáo không hề quen biết bị cáo H1 nên không có việc bán cho H1 02 bánh Heroin năm 2017; bị cáo Lường Văn H khai không nhìn thấy C nhận tiền từ bị cáo H1; khi nhận dạng Trần Thị H1 thì được Điều tra viên cho xem ảnh của H1 trước nhưng khi trả lời câu hỏi của Luật sư bảo vệ cho bị cáo H1 thì bị cáo H khai bị cáo không quen biết T và Th mà do đi cùng C nên mới biết vợ chồng T, Th; điều này phù hợp với lời khai ban đầu của Bùi Văn C, Vì Văn T và Vì Thị Th. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bùi Văn C và Phạm Văn Nh khi bị bắt giữ để điều tra trong vụ án bắt cóc, hiếp dâm và giết người đối với nạn nhân là chị Cao Mỹ D là người có đơn tố giác hành vi của Vì Thị Th bán 04 viên Hồng phiến và 01 tép Heroine cho C và Nh chứ không có nội dung tố giác về hành vi mua bán 02 bánh Heroin giữa Th với C và H năm 2017. Tại phiên tòa hôn nay bị cáo Nh và bị cáo C vẫn khai xác định việc tố giác hành vi của Vì Thị Th là hoàn toàn tự nguyện, khách quan chứ không bị ai đánh hoặc ép cung; bị cáo Vì Văn T là chồng của bị cáo Th vẫn khai xác định có việc bị cáo Th bán 04 viên Hồng phiến và 01 tép Heroin cho C vào cuối tháng 5/2017. Tại lời khai của bị cáo Vì Thị Th vào các ngày 27, 28, 29/3/2019 và ngày 21/5/2019 khai phù hợp với nội dung tố giác của C và Nh; phù hợp với lời khai của bị cáo Lường Văn H và của chính bị cáo Vì Văn T về hành vi mua bán hồng phiến và tép Heroine như đã nêu và Th chủ động khai ra hành vi mua bán 02 bánh Heroine với H và C vào tháng 5/2017. Tại phiên tòa sơ thẩm công khai ngày 27/11/2019 các bị cáo T, C, Nh, H khai phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST các bị cáo này đã bị tuyên phạt hình phạt từ 20 năm tù đến tù chung thân nhưng các bị cáo này không kháng cáo. Do vậy, việc tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thay đổi lời khai cho rằng do bị đánh và mớm cung, ép cung nên mới khai như vậy là không có căn cứ để chấp nhận.

Mặt khác lời khai của các bị cáo Lường Văn Lả, Lường Văn H, Phạm Văn Nh, Vì Văn T, Vương Văn H tại phiên tòa sơ thẩm công khai ngày 26/12/2019 xét xử các bị cáo trong vụ án “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, “Hiếp dâm; “Giết người” mà nạn nhân chính là con gái bị cáo Trần Thị H1 thì các bị cáo này đã khai rõ động cơ, mục đích bắt cóc chị Cao Mỹ D nhằm mục đích để T đòi bị cáo Trần Thị H1 số tiền 300 triệu đồng do bán 02 bánh Heroine cho H1 từ năm 2009; Bùi Văn C đòi bị cáo H1 số tiền 30 triệu đồng H1 còn nợ khi mua 02 bánh Heroine của C vào tháng 5/2017 cùng với Lường Văn H. Lời khai của các bị cáo này thống nhất, đã được tranh tụng công khai; bản án đối với các bị cáo này hiện đang có hiệu lực pháp luật nên việc các bị cáo thay đổi lời khai tại phiên tòa hôn nay cũng không có căn cứ để chấp nhận. Hơn nữa, tại phiên tòa hôm nay chị Cao Thảo L1 cũng là con gái bị cáo Trần Thị H1 khai xác nhận nội dung vào đêm 30 Tết, chị Cao Mỹ D (là em gái chị L1) bị bắt cóc; sau khi gia đình chị đã báo cơ quan chức năng thì chị có gọi điện thoại vào máy của chị D, có người mở máy nhưng không có tiếng nói mà chỉ có tiếng như tiếng gió rít. Trong khi tại phiên tòa ngày 26/12/2019 bị cáo Vì Văn T khai chính T là người cầm và nghe điện thoại của chị D, T yêu cầu đưa máy và đã nói chuyện với bị cáo H1 nhưng H1 trả lời là không trả tiền cho T. Nhưng sau khi việc vẫn liên lạc được với điện thoại của chị D đã không được chị L1 hoặc Trần Thị H1 thông báo cho cơ quan chức năng để truy tìm dấu vết của chị D trong khi chị D đang còn mất tích.

Tại phiên tòa sơ thẩm công khai ngày 27/11/2019 các bị cáo Vì Văn T, Bùi Văn C và Lường Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng và Luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Lời khai của các bị cáo T, C, H phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra được ghi nhận tại biên bản đối chất, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản nhận dạng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó việc các bị cáo thay đổi lời khai tại phiên tòa hôm nay càng không có cơ sở để chấp nhận.

Vì vậy, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Điên Biên đã căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để xác định hành vi mua bán trái phép 02 bánh Heroine giữa bị cáo Vì Thị Th với Bùi Văn C, Lường Văn H và giữa Bùi văn C, Lường Văn H với bị cáo Trần Thị H1 vào tháng 5/2017 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và xử phạt bị cáo Trần Thị H1 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định.

Tại phiên tòa hôm nay không có thêm tài liệu, chứng cứ nào mới; Các luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Thị H1 chỉ nêu ra những vi phạm tố tụng không nghiêm trọng trong quá trình điều tra để lập luận bị cáo bị xét xử oan; đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng nêu nhiều vấn đề để đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại đối với Trần Thị H1 nhưng cũng không có tài liệu gì mới nên đều không được chấp nhận; cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm nêu trên. Những vấn đề khác Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H1; Giữ nguyên phần quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ đối với bị cáo Trần Thị H1. Cụ thể:

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H1 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2019.

[2] Về án phí: Bị cáo Trần Thị H1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ đối với bị cáo Trần Thị H1 không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

140
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 365/2024/HS-PT

Số hiệu:365/2024/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/04/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về