TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 300/2023/HS-ST NGÀY 21/12/2023 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 317/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 321/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023, đối với:
Triệu Minh T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1983, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: đường Đ, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Triệu T1 (chết) và bà Nguyễn Kim Q; Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 17/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 592/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng. Chấp hành xong ngày 04/01/2022; Nhân thân: Ngày 13/9/2012, bị Ủy ban nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 7101/QĐ-UBND áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 04/9/2014.
Bị bắt từ ngày 14/6/2023.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/6/2023, Triệu Minh T đang ở nhà thì có 01 phụ nữ tên Liễu (chưa rõ lai lịch) gọi qua Zalo cho T đặt mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng và 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, T đồng ý. Sau đó, T gọi điện cho người đàn ông tên U (chưa rõ lai lịch) đặt mua 600.000 đồng ma túy đá và yêu cầu chia thành 02 bịch, U đồng ý. Sau đó, T đến điểm hẹn tại đường K thuộc Ấp TA, xã V, huyện B gặp và mua được của U 02 bịch ma túy được đựng trong 01 gói nylon màu đỏ nâu với giá 600.000 đồng. T cất giữ số ma túy vừa mua được vào túi áo bên trái rồi đặt xe ôm qua ứng dụng Grab để đến địa điểm hẹn bán ma túy cho L tại trước Nhà thuốc Đ2 thuộc đường V, xã V, huyện B. Khi anh Nguyễn Văn G là tài xế xe Grabbike chở T trên đường, đến khoảng 16 giờ 10 phút ngày 14/6/2023, đến trước bãi đất trống thuộc Tổ J, Ấp IA, xã V, huyện B thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang. Triệu Minh T khai việc T cất giữ ma túy trong người thì anh G không biết và không liên quan.
Kết luận giám định số 6523/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định:
Tinh thể không màu trong 02 bịch nylon thu giữ của Triệu Minh T đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,6187 gam, loại Methamphetamine.
Ngoài ra, T khai trước đây bản thân đã bán được cho nhiều người (không rõ lai lịch). Khi có người liên lạc đặt mua ma túy thì T gặp U mua ma túy rồi đem số ma túy đó đi bán kiếm lời. Ngoài U ra thì T còn mua ma túy của 02 người khác có tài khoản Facebook là “N” và “H” (đều không rõ lai lịch). Mỗi lần bán ma túy, T thu lợi từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.
Qua làm việc, anh Nguyễn Văn G khai phù hợp với lời khai của Triệu Minh T. Anh Giáp không biết việc T giấu ma túy trong người và không biết T đặt xe Grabike là để đi bán ma túy.
Vật chứng thu giữ:
- 02 bịch nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6187 gam, loại Methamphetamine.
- 01 gói nylon màu đỏ nâu.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S cùng 02 sim mà Triệu Minh T sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 297/CT-VKS-BC ngày 17/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố Triệu Minh T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1, Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Triệu Minh T thừa nhận hành vi phạm tội, tự nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Triệu Minh T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; để xử phạt bị cáo Triệu Minh T từ 03 năm đến 04 năm tù, phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Vào lúc 16 giờ 10 phút ngày 14/6/2023, tại trước bãi đất trống thuộc Tổ 7, ấp 1A, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh, Triệu Minh T có hành vi tàng trữ 0,6187gram ma túy, loại Methamphetamine để bán.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận Triệu Minh T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với các đối tượng tên U, N, H bán ma túy cho T; đối tượng tên Liễu mua ma túy của T chưa rõ nhân thân lai lịch nên tiếp tục làm rõ, xử lý sau. Đối với Nguyễn Văn Giáp là tài xế Grabbike không liên quan đến hành vi phạm tội của Triệu Minh T.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Triệu Minh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Đối với việc Triệu Minh T tự khai nhận đã bán ma túy cho nhiều người khác, ngoài lời khai của Triệu Minh T không có chứng cứ nào khác để chứng minh nên không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” hay “Đối với 02 người trở lên” đối với Triệu Minh T. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[4] Về xử lý vật chứng:
- 01 gói nylon màu đỏ nâu, 02 bịch nylon chứa ma túy: Cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 Điện thoại hiệu Oppo: Dùng để liên hệ mua và bán ma túy, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[5] Về án phí: Bị cáo Triệu Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố Triệu Minh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng khoản 1 Khoản 5 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Triệu Minh T: 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023.
Phạt bổ sung: Buộc Triệu Minh T phải nộp số tiền 5.000.000 đồng vào Ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015, + Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon màu đỏ nâu, 02 bịch nylon chứa ma túy.
+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại hiệu Oppo.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh) - Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Triệu Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 300/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 300/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 21/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về