TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 286/2024/HS-ST NGÀY 19/06/2024 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 19 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; tại điểm cầu thành phần phòng xét xử trực tuyến trại tạm giam Chí Hòa (T30) - huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 325/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2922/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Thị Thảo N, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 60/3/3C L, phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 114/18B N, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Hứa Thị Hiếu T; có chồng và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 12/5/2023, có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: bà Lê Thị Minh Nguyệt, Luật sư của Công ty Luật TNHH Nguyệt Lê thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Phạm Thanh Hải T, sinh năm: 2000, địa chỉ: 114/18B N, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
Tại điểm cầu thành phần, thành phần tham gia gồm:
Bị cáo Phạm Thị Thảo N; cán bộ chiến sĩ của tổ áp giải gồm các đồng chí: Trần Thiện Đức, Hứa Minh Tiến và Nguyễn Tấn Lộc.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 50 phút ngày 12/5/2023, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Phạm Thị Thảo N tại trước địa chỉ số 15B/97 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận M, có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác bên trái của N có 02 gói nylon in chữ “CHALI” chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 1,4136 gam loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; 03 gói nylon màu xanh dương có in chữ “CRISPY FRUIT” chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 17,8909 gam loại Methamphetamine, MDMA; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 1,7608 gam loại Ketamine. Tổ công tác đã phối hợp với Công an phường Bến Nghé lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N, thu giữ số ma túy trên, 01 xe máy biển số 59T2 - xxxx, 01 điện thoại di động Oppo và số tiền 1.000.000 đồng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị Thảo N tại nhà số 114/18B đường N, phường N, Quận M thu giữ 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, khối lượng 5,4406 gam, loại Methamphetamine; 01 hộp giấy hình chữ nhật đựng: 05 gói nylon in chữ “CHALI” chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 3,8654 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; 04 gói nylon in chữ "CRISPY FRUIT" chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 18,4516 gam, loại Methamphetamine, MDMA; 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, khối lượng 27,1523 gam, loại Ketamine; 01 gói nylon chứa bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,4205 gam, loại Ketamine; 01 gói nylon chứa 01 mảnh vụn viên nén màu cam là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,1894 gam, loại MDMA và 02 mảnh vụn viên nén màu tím là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,3814 gam, loại MDMA và nhiều gói nylon chưa qua sử dụng.
Số ma túy thu giữ trong vụ án đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 5100/KL-KTHS ngày 19/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh (bút lục 33-34).
Quá trình điều tra, Phạm Thị Thảo N khai nhận:
Khoảng tháng 01/2023, Phạm Thị Thảo N quen biết với người đàn ông tên Dương (không rõ lai lịch), sử dụng tài khoản Zalo tên “Minh Dương” (không rõ số điện thoại đăng ký). Đến tháng 4/2023, Dương đặt vấn đề với N phụ giúp Dương cất giấu ma tuý để bán cho khách của Dương, mỗi lần giao ma tuý thành công, Dương sẽ trả công cho N 200.000 đồng và được N đồng ý. Dương giao ma túy cho N tại trước hẻm 116 Nguyễn Cư Trinh, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 gồm các loại ma tuý đá, nước vui, Ketamine và thuốc lắc. Khi có khách mua ma tuý thì Dương nhắn qua zalo loại, số lượng ma tuý để N soạn, đi giao trực tiếp cho khách, nhận tiền mặt hoặc khách sẽ chuyển khoản tiền mua ma tuý cho Dương. N đã nhận ma túy của Dương 03 lần và bán ma tuý cho nhiều người ở khu vực Quận M, Quận 4 nhưng không nhớ địa chỉ và lai lịch người mua. Quá trình bán ma túy cho Dương, N đã được hưởng tiền công từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng và đã tiêu xài hết. Vào ngày 12/5/2023, khi N đang đi giao ma túy thì bị phát hiện kiểm tra và bắt quả tang như trên.
Đối với tên Dương cung cấp ma túy cho N để bán và những người mua ma túy của N do N khai không rõ lai lịch, đồng thời Cơ quan điều tra đã yêu cầu công ty viễn thông xác minh số điện thoại của N và tài khoản Zalo của Dương nhưng chưa có kết quả, nên không có căn cứ xác minh, truy tìm.
Vật chứng của vụ án:
- Được liệt kê theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/330 ngày 10/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã nhập kho vật chứng thuộc Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh tất cả vật chứng trên chờ xử lý theo quy định.
- Số tiền 1.000.000 đồng (đã nộp kho bạc nhà nước).
Tại bản Cáo trạng số 239/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 11/4/2024, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị can Phạm Thị Thảo N có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Phần tranh tụng tại phiên tòa:
- Bị cáo xác nhận bản Cáo trạng truy tố là đúng với hành vi phạm tội, không có oan sai.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm h khoản 3 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thảo N từ 15 năm đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước; Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: thống nhất với quan điểm truy tố về tội danh và điều khoản của bản Cáo trạng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; gia đình có hoàn cảnh khó khăn mà cho bị cáo hưởng mức án nhẹ và miễn phạt tiền.
- Bị cáo đồng ý với phần trình bày bào chữa của luật sư, không bổ sung.
- Kiểm sát viên đối đáp: luật sư đã thống nhất với quan điểm truy tố về tội danh và điều khoản của bản Cáo trạng, còn về mức án và phạt tiền thì xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng ma túy thu giữ nên bảo lưu luận tội.
- Lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của họ xin được giảm nhẹ hình phạt tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Xét lời khai nhận của bị cáo Phạm Thị Thảo N tại phiên tòa cơ bản phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai cũng như bản tự khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 13 giờ 50 phút ngày 12/5/2023, tại trước địa chỉ số 15B/97 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Phạm Thị Thảo N có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác bên trái của N có 02 gói nylon in chữ “CHALI” chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 1,4136 gam loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; 03 gói nylon màu xanh dương có in chữ “CRISPY FRUIT” chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 17,8909 gam loại Methamphetamine, MDMA; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 1,7608 gam loại Ketamine. N khai đang trên đường đi giao ma túy cho khách mua ma túy của Dương. Nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N, thu giữ số ma túy trên, 01 xe máy biển số 59T2 - xxxx, 01 điện thoại di động Oppo và số tiền 1.000.000 đồng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị Thảo N tại nhà số 114/18B đường N, phường N, Quận M thu giữ 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, khối lượng 5,4406 gam, loại Methamphetamine; 01 hộp giấy hình chữ nhật đựng: 05 gói nylon in chữ “CHALI” chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 3,8654 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; 04 gói nylon in chữ "CRISPY FRUIT" chứa chất bột là ma túy ở thể rắn, khối lượng 18,4516 gam, loại Methamphetamine, MDMA; 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, khối lượng 27,1523 gam, loại Ketamine; 01 gói nylon chứa bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,4205 gam, loại Ketamine; 01 gói nylon chứa 01 mảnh vụn viên nén màu cam là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,1894 gam, loại MDMA và 02 mảnh vụn viên nén màu tím là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,3814 gam, loại MDMA và nhiều gói nylon chưa qua sử dụng. Số ma túy thu giữ qua khám xét tại nơi ở của bị cáo cất giấu cho Dương để bán.
Như vậy, bị cáo Phạm Thị Thảo N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với khối lượng ma túy bị thu giữ qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng: 42,3539 gam loại Methamphetamine, MDMA và 34,6126 gam (gồm 5,279 gam loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam và 29,3336 gam loại Ketamine).
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình nhưng do cần tiền tiêu xài nên bị cáo phụ giúp Dương (không rõ lai lịch) cất giấu ma tuý để bán cho khách của Dương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.
Đối với tên Dương cung cấp ma túy cho N để bán và những người mua ma túy của N do N khai không rõ lai lịch, đồng thời Cơ quan điều tra đã yêu cầu công ty viễn thông xác minh số điện thoại của N và tài khoản Zalo của Dương nhưng chưa có kết quả, nên chưa có căn cứ xác minh, truy tìm.
Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Phạm Thị Thảo N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét ma túy ở thể rắn mà bị cáo mua bán, tàng trữ trái phép nhằm mục đích bán cho người khác có khối lượng như đã nêu trên là dấu hiệu định khung được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thì bị phạt tù 15 năm đến 20 năm).
Xét bị cáo phạm tội lần đầu.
Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự về hình phạt đối với bị cáo là tù có thời hạn mới đủ sức giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo số tiền nhất định để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Xét Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo Phạm Thị Thảo N về khung, điều luật và tội danh như đã viện dẫn trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Với lập luận tại đoạn [1] là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận hay không chấp nhận phần luận tội của Kiểm sát viên, luận cứ bào chữa của luật sư cho bị cáo, trình bày của bị cáo.
[3] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Xét về xử lý vật chứng, án phí: [4.1] Về xử lý vật chứng:
- 03 (ba) gói nylon (vụ số 1099/23): mỗi gói bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định, bên ngoài được niêm phong có chữ ký, chữ viết của đồng chí Nguyễn Hoàng Anh và chữ ký, hình dấu tên của giám định viên Nguyễn Xuân Sang, nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trậng máy móc bên trong), bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
- 01 (một) cân điện tử sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
- 01 (một) hộp nhựa màu đỏ; 01 (một) hộp giấy; nhiều gói nylon rỗng là vật sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: HONDA; số loại: AIR BLADE; dung tích xi lanh: 124,9; biển số: 59T2-xxxx, số khung: RLHJF6332MZ105832, số máy: JF94E-0244425 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra). Kết quả giám định: số khung, số máy không đổi. Kết quả xác minh xe máy trên do Phạm Thanh Hải T (em ruột của N) đứng tên trên giấy đăng ký xe. Ngày 12/5/2023, Phạm Thị Thảo N mượn đi công việc cá nhân, Thành không biết N mượn xe đi đâu, làm gì nên họ không có lỗi. Do đó, trả lại xe cho chủ sở hữu.
- Số tiền 1.000.000 đồng (đã nộp kho bạc nhà nước). N khai là tiền cá nhân của N, nhưng bị cáo bán ma túy không có nghề nghiệp nên xác định đây là tiền do phạm tội mà có. Cho nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền này.
Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4.2] Về án phí: bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm h khoản 3 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thảo N 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2023.
Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng. Tịch thu và tiêu hủy:
- 03 (ba) gói nylon (vụ số 1099/23): mỗi gói bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định, bên ngoài được niêm phong có chữ ký, chữ viết của đồng chí Nguyễn Hoàng Anh và chữ ký, hình dấu tên của giám định viên Nguyễn Xuân Sang;
- 01 (một) hộp nhựa màu đỏ; 01 (một) hộp giấy; nhiều gói nylon rỗng. Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
- 01 (một) cân điện tử;
- Số tiền 1.000.000 đồng (theo giấy nộp tiền ngày 10/5/2024 tại Ngân hàng Công thương Việt Nam - Phòng giao dịch Hòa Bình chi nhánh 5 TP.HCM);
Trả lại cho ông Phạm Thanh Hải T: 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: HONDA; số loại: AIR BLADE; dung tích xi lanh: 124,9; biển số: 59T2-xxxx, số khung: RLHJF6332MZ105832, số máy: JF94E-0244425 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra), (Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/330 ngày 10/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 286/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 286/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 19/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về