TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 27/2024/HS-ST NGÀY 29/02/2024 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 19/02/2024 đối với bị cáo:
1. Nguvễn Tuấn T; Tên gọi khác: Tuấn N, sinh năm 2002 tại Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: 198/7, khu phố F, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và con bà Trần Thị T1, sinh năm 1980; vợ: Võ Đặng Lan A, sinh năm 2004 (sống chung như vợ chồng). Có 1 con chung sinh năm 2021. Tiền án: không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/8/2023.
Nhân thân:
Ngày 26/10/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 99/2021/HSST. Ngày 19/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của T, xử phạt T 01 năm tù.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Tuấn Đ; Tên gọi khác: Không, sinh năm 2005 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T2, sinh năm: 1979 (còn sống) và con bà Võ Thế Thoại L, sinh năm: 1981 (còn sống); Tiền án: không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/8/2023.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Tôn Thất D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường B, thành phố L, Đồng Nai (vắng mặt).
2. Bà Võ Đặng Lan A, sinh năm 2004. Địa chỉ: Khu phố F, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt).
- Người làm chứng:
1/ Ông Sinh Hằm T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu phố B, phường X, thành phố L, Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tuấn T có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Tuấn Đ và thường xuyên đi chơi với nhau và rủ nhau đi bán ma túy kiếm tiền lời. Vào khoảng 15 giờ ngày 31/8/2023, T điện thoại kêu Đ mang 01 gói ma túy đá có số tiền 500.000đ đi bán cho một người tên L1 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực ngã tư đường T - H thuộc khu phố B, phường X, thành phố L để bán. Đ cầm gói ma túy đến điểm hẹn đứng đợi thì bị Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Qua làm việc Đ khai nhận gói ma túy mà Công an thu giữ là của T đưa cho Đ đem đi bán. Sau đó Công an thành phố L mời T về làm việc.
Quá trình điều tra xác định: Từ đầu tháng 8 năm 2023, T nảy sinh ý định mua ma túy về bán cho những người nghiện trên địa bàn thành phố L lấy tiền lời. T rủ Đ đi bán ma túy cho T để được nhận tiền công, Đ đồng ý. Ngày 30/8/2023, T mua ma túy của một người đàn ông tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực phường B, thành phố L với số tiền 1.500.000đ được 01 gói ma túy đá đem về phòng trọ tại khu phố A, phường X, thành phố L rồi phân chia ra thành 05 gói nhỏ khác nhau đưa cho Đ để Đ đem đi bán, khi nào có người mua ma túy thì liên hệ qua điện thoại với T thì T điện thoại kêu Đ đem ma túy đi giao cho người mua, nếu khách đưa tiền thì T nhận đem về đưa lại cho T hoặc Đ tự tìm người mua ma túy để bán. Từ ngày 14/8/2023 đến ngày 30/8/2023, T đã 03 lần giao ma túy cho Đ để đi bán. Cụ thể:
Lần 1: Ngày 14/8/2023, T đưa cho Đ 04 gói ma túy đá tại nhà trọ của T và nói cho Đ biết số tiền bán mỗi gói là 200.000đ để Đ mang đi bán, sau đó Đ mang số ma túy trên đi bán cho những người nghiện trên địa bàn thành phố L và lấy tiền đưa về cho T. Sau khi Đ bán hết số ma túy trên T đã cho Đ 500.000đ tiền công bán ma túy.
Lần 2: Ngày 20/8/2023, T đưa cho Đ 03 gói ma túy đá tại nhà trọ của T và nói cho Đ biết số tiền bán mỗi gói là 200.000đ. Sau đó T điện thoại cho Đ kêu Đ mang ma túy đến địa điểm mà T hẹn để giao cho người mua và lấy tiền đem về cho T. Sau khi Đ bán hết số ma túy trên được 600.000đ, T đã cho Đ 300.000đ tiền công đi bán ma túy.
Lần 3: Khoảng 19 giờ ngày 30/8/2023, Đ đến nhà trọ của T gặp T thì T đưa 05 gói ma túy đá với mục đích để Đ đi bán cho người nghiện. T nói giá tiền cho Đ có 01 gói bán với số tiền 200.000đ, 03 gói bán giá tiền là 300.000đ và 01 gói số tiền bán là 500.000đ, nếu có ai điện thoại cho T thì T sẽ điện thoại cho Đ mang ma túy đến giao cho người mua và lấy tiền, sau đó mang tiền về đưa cho T. Sau khi lấy 05 gói ma túy đá từ T thì Đ cất giấu trong người đề đem đi bán. Trong đó, Đ đã tự đi bán ma túy cho một người tên B1 không rõ lai lịch ở khu vực cầu vượt X, phường X, thành phố L và bán cho một người tên B2 ở khu vực phường B, thành phố L, còn lại 01 gói giá 500.000đ, Đ cất giấu trong người. Đ đà đưa tiền bán ma túy cho T số tiền là 1.100.000đ, còn 01 gói ma túy giá 500.000đ, đến khoảng 15 giờ ngày 31/8/2023, T kêu Đ mang đi bán thì bị Công an thành phố L bắt quả tang. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, T và Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 1969/KL-KTHS, ngày 06/9/2023, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4570 gam, loại: Methamphetamine.
Về vật chứng thu giữ và xử lý:
- 01 đoạn ống hút nước nhựa màu xanh hàn kín bên trong có chứa ma túy đá, thu giữ trong túi quần bên trái Đ đang mặc trên người. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 1969/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- 01 điện thoại di động hiệu s A12, màu xanh, có số sim 0586.132.4xx, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tuấn Đ dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số 60B2-126.xx là tài sản của Nguyễn Tuấn Đ mượn của Nguyễn Tuấn T và vợ T là chị Võ Đặng Lan A dùng làm phương tiện đi bán ma túy.
Hiện các vật chứng trên đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 24/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn T và Nguyễn Tuấn Đ2 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn T và Nguyễn Tuấn Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn T từ 08 (T) năm đến 09 ( chín) năm tù.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ từ 07 ( Bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.
- Về vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống hút nước nhựa màu xanh hàn kín bên trong có chứa ma túy đá, niêm phong số 1969/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu xanh của Nguyễn Tuấn Đ dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số 60B2-126.xx là tài sản của Nguyễn Tuấn T và vợ T là chị Võ Đặng Lan A dùng làm phương tiện đi bán ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 31/8/2023, Nguyễn Tuấn T gọi điện thoại cho Nguyễn Tuấn Đ đem 01 gói ma túy đá, có khối lượng là 0,4570 gam, loại: Methamphetamine, để bán cho một người tên L1 (chưa xác định nhân thân, lai lịch) với giá 500.000đ tại khu vực ngã ba đường T - H thuộc khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an thành phố L bắt quả tang.
Ngoài ra, từ ngày 14/8/2023 đến ngày 30/8/2023, tại địa bàn thành phố L, T đã 03 lần giao ma túy đá cho Đ tại nhà trọ của T để Đ đi bán cho người nghiện trên địa bàn thành phố L lấy tiền về đưa lại cho T và nhận tiền công, cụ thể: Lần 1: Ngày 14/8/2023, T đưa cho Đ 04 gói ma túy, giá mỗi gói 200.000đ, sau khi bán hết số ma túy trên T đã cho Đ 500.000đ tiền công; Lần 2: Vào ngày 20/8/2023, T đưa cho Đ 03 gói ma túy đá, giá mỗi gói 200.000đ, sau khi bán hết ma túy trên T cho Đ 300.000đ tiền công đi bán ma túy; Lần 3: Khoảng 19 giờ ngày 30/8/2023, T đưa cho Đ 05 gói ma túy đá để đi bán, gồm: 01 gói bán giá 200.000đ, 03 gói bán với giá 300.000đ, 01 gói bán giá 500.000đ, Đ đã bán hết 04 gói được số tiền 1.100.000đ, đã đưa cho T còn 01 gói giá 500.000đ T kêu Đ mang đi bán cho L1 thì bị Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy các bị cáo đã phạm tội nhiều lần nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng mà còn là tác nhân gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, khả năng lao động của người sử dụng. Các bị cáo nhận thức được việc mua bán ma túy là pháp luật nghiêm cấm, nhận thức được những tác hại của ma túy. Song do các bị cáo xem thường pháp luật đã đi mua ma túy về để bán lại kiếm lời, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy.
Đây là vụ án đồng phạm, bị cáo T có vai trò là người chủ mưu, bị cáo Đ là người thực hành. Nguồn gốc ma túy là của bị cáo T, T giao cho bị cáo Đ đi bán cho các đối tượng khác. Trong thời gian bị cáo T chờ xét xử phúc thẩm của bản án số 99/2021/HS-ST ngày 26/10/2021 về tội “cố ý gây thương tích” thì bị cáo T lại tiếp tục thực hiện tội phạm vào ngày 31/8/2023. Ngày 19/9/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai không chấp nhận kháng cáo của T và xử phạt bị cáo T 01 năm tù. Bản thân bị cáo T có nhân thân xấu nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo Đ.
Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi của các bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú về những hành vi phạm tội trước đó là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[4] Về vật chứng:
Đối với 01 đoạn ống hút nước nhựa màu xanh hàn kín bên trong có chứa ma túy đá, niêm phong số 1969/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu xanh của Nguyễn Tuấn Đ. Đ đã dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhăn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số 60B2-126.xx mà Đ mượn của bà Lan A, thì đây là tài sản của Nguyễn Tuấn T và vợ là Võ Đặng Lan A. Trên phiếu xác minh thì xe này đứng tên ông Tôn Thất D, tuy nhiên ông D xác nhận đã bán cho người khác và không có tranh chấp gì. Theo lời khai của T thì đây là xe của vợ T mua lại của người khác không làm giấy tờ sang tên. Mặc dù bà Lan A cho rằng không biết T và Đ bán ma túy, nhưng T là người giao ma túy cho Đ đi bán và chiếc xe là tài sản chung của vợ chồng T nên cần tịch thu chiếc xe để sung công quỹ nhà nước.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/1/2024 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh.
[5] Về vấn đề khác:
Đối với các đối tượng mua, bán ma túy như “Ngựa”, “L1”, “ Bin” , “Bé” không rõ nhân thân, lai lịch Cơ quan điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
[6] Về án phí: Bị cáo T và bị cáo Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
[7] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn T và bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ theo điểm b khoản 2, Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017) - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn T 08 (T4) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2023.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ 07 (B3) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2023.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống hút nước nhựa màu xanh hàn kín bên trong có chứa ma túy đá niêm phong số 1969/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu xanh, có số sim 0586.132.4xx và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển số 60B2-126.xx.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/1/2024 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh.
4. Về án phí: Bị cáo T, Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng những người vắng mặt thì quyền kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hợp lệ./.
Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 27/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 27/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Long Khánh - Đồng Nai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về