TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 244/2023/HS-ST NGÀY 25/05/2023 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Th phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 272/2023/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1921/2023/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 5 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Vũ Ngọc K, sinh năm 1996 tại Th phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 242/60/1 H, Phường C, Quận M, Th phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc H và bà Lê Thị Thúy H; có chồng và 02 con (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 20/7/2022, có mặt.
2. Lưu Vĩ T, sinh năm 1982 tại Th phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 402/33 H, Phường N, Quận M, Th phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Đông Th và bà Trương Tuyết Ng; có vợ chưa có con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 19/7/2022, có mặt.
- Người bào chữa:
1. Ông Ngô Anh T, Luật sư của Công ty Luật TNHH K thuộc Đoàn Luật sư Th phố Hồ Chí Minh bào chữa chỉ định cho bị cáo Vũ Ngọc K, có mặt.
2. Ông Đàm Thanh Sáu, Luật sư của Văn phòng Luật sư Lục Hoàng Minh Tr thuộc Đoàn Luật sư Th phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Lưu Vĩ T, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1983, địa chỉ: 90A/22 A, Phường B, Quận T, Th phố Hồ Chí Minh, có mặt.
2. Bà Phạm Thị Kim L, sinh năm 1984, địa chỉ: 167B T, Phường B, Quận S, Th phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 19/7/2022, tại trước nhà số 345C Trần Hưng Đạo, phường Cầu Kho, Quận 1, Th phố Hồ Chí Minh. Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 1, Th phố Hồ Chí Minh phát hiện Lưu Vĩ T đang điều khiển xe mô tô biển số 59U1-X chở Phạm Thị Kim L (vợ của T, sinh năm 1984; nơi thường trú: 167B T, Phường B, Quận S, Th phố Hồ Chí Minh) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trong thùng đựng đồ ở vị trí baga của xe mô tô có (BL: 52 đến 61):
- 01 túi nylon màu hồng bên ngoài có dán mảnh giấy ghi chữ “345 Trần Hưng Đạo Quận 1”, bên trong có: 01 hộp giấy màu xám, bên trong có 02 cục pin (loại pin tiểu nhãn hiệu con Ó) và 01 gói giấy bên trong có 01 gói giấy bạc, trong gói giấy bạc có 01 bao giấy đựng 01 gói nylon chứa 05 viên nén là ma túy, có khối lượng 2,2545 gam, loại MDMA; 01 hộp giấy màu đen bên trong có 02 cục pin (loại pin tiểu nhãn hiệu con Ó) và 01 gói giấy bên trong có 01 gói giấy bạc, trong gói giấy bạc có 01 bao giấy đựng 01 gói nylon chứa ma túy, có khối lượng 2,1895 gam, loại Ketamine.
- 01 túi nylon màu hồng bên ngoài có dán mảnh giấy ghi chữ “13 Hồ Biểu Chánh Phú Nhuận”, bên trong có 01 hộp giấy màu nâu chứa 02 cục pin (loại pin tiểu nhãn hiệu con Ó) và 01 gói giấy bên trong có 01 gói giấy bạc, trong gói giấy bạc có 01 bao giấy đựng 01 gói nylon chứa 03 viên nén là ma túy, có khối lượng 1,3374 gam, loại MDMA.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lưu Vĩ T tại địa chỉ 402/33 H, Phường N, Quận M, Th phố Hồ Chí Minh không phát hiện thu giữ đồ vật liên quan đến ma túy.
Qua truy xét ngày 20/7/2022, Công an Quận 1, Th phố Hồ Chí Minh xác định Vũ Ngọc K là người đã đưa ma túy cho Lưu Vĩ T đi bán nên đã mời K về Cơ quan để làm việc. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của K tại Phòng số 03 nhà số 26/9G H, phường T, Quận B, Th phố Hồ Chí Minh phát hiện thu giữ trên sàn sát tường tại vị trí đối diện hướng cầu thang từ tầng trệt đi lên tầng 1 có 03 thùng giấy gồm (BL: 64, 65):
- Thùng thứ nhất: bên trong có tổng cộng 128 hộp giấy, bên trong mỗi hộp giấy đều có pin “con Ó” và 01 gói giấy màu trắng quấn 01 gói giấy bạc quấn 01 phong bì, bên trong phong bì có đựng 01 gói nylon chứa nhiều viên nén và mảnh vụn viên nén. Trong các gói nylon có tổng cộng: 36 viên nén hình con nhộng là ma túy, có khối lượng 5,7875 gam, loại MDMA; 49 viên nén màu xám là ma túy, có khối lượng 27,8728 gam, loại MDMA; 16 viên nén màu xanh nước biển là ma túy, có khối lượng 6,4875 ga, loại MDMA; 48 viên nén màu tím là ma túy, có khối lượng 23,9591 gam, loại MDMA; 50 viên nén màu hồng, hình mặt cười là ma túy, có tổng khối lượng 19,8927 gam, loại MDMA; 25 viên nén màu xám (hình khiên) là ma túy, có khối lượng 9,9005 gam, loại MDMA; 42 viên nén màu cam là ma túy, có tổng khối lượng 18,8884 gam, loại MDMA; 58 viên nén màu xanh da trời (hình kim cương) là ma túy, có khối lượng 26,0717 gam, loại MDMA; 56 viên nén màu canh da trời (in chữ EA) là ma túy, có khối lượng 32,8641 gam, loại MDMA; 47 viên nén màu vàng là ma túy, có khối lượng 18,3080 gam, loại MDMA; 07 viên nén màu xám (in chữ LV) là ma túy, có khối lượng 3,8417 gam, loại MDMA; Nhiều viên nén và mảnh vụn viên nén màu xám là ma túy, có khối lượng 26,9907 gam, loại MDMA; Nhiều viên nén màu hồng và mảnh vụn viên nén màu hồng là ma túy, có khối lượng 21,6307 gam, loại MDMA.
- Thùng thứ hai: bên trong có tổng cộng 106 hộp giấy, bên trong mỗi hộp giấy đều có pin “con Ó” và 01 gói giấy màu trắng quấn 01 gói giấy bạc quấn 01 phong bì, bên trong phong bì có đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, bột màu trắng và viên nén. Trong phong bì có: 53 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy, có khối lượng 105,96 gam, loại Methamphetamine; 30 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy, có khối lượng 16,8776 gam, loại Ketamine; 03 gói nylon, mỗi gói chứa 01 viên nén màu xám là ma túy, có khối lượng 1,5084 gam, loại MDMA; 79 gói nylon chứa bột màu trắng là ma túy, có khối lượng 61,2819 gam, loại Ketamine.
- Thùng thứ ba: bên trong có tổng cộng 18 hộp giấy, bên trong mỗi hộp giấy đều có pin “con Ó” và 01 gói giấy màu trắng quấn 01 gói giấy bạc quấn 01 phong bì, bên trong mỗi phong bì đựng 01 gói nylon chứa nhiều viên nén. Trong các gói nylon có: 34 viên nén màu xanh là ma túy, có khối lượng 11,8042 gam, loại MDMA; 29 viên nén màu hồng là ma túy, có khối lượng 10,0722 gam, loại MDMA.
Toàn bộ số ma túy thu giữ của Vũ Ngọc K và Lưu Vĩ T trong vụ án đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 4147/KL-KTHS và 4150/KL- KTHS ngày 28/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Th phố Hồ Chí Minh (BL: 74, 75 và 77, 78).
Quá trình điều tra Lưu Vĩ T khai nhận khoảng tháng 3/2022, T bắt đầu phụ giúp người phụ nữ tên Vũ Quỳnh Gia H đi giao ma túy. H thường sử dụng số điện thoại 0981886X liên lạc với T theo số 0936355X, gọi T đến nhà của H tại địa chỉ 29 - 31 Huỳnh Thị Phụng, Phường 4, Quận T, Th phố Hồ Chí Minh nhận ma tuý để đi giao cho người mua, mỗi ngày T giao ma túy giúp H từ 2 đến 7 lần. Ngoài ra, theo sự chỉ đạo của H, T còn nhận ma tuý từ Vũ Ngọc K khoảng 10 lần tại nhà số nhà số 26/9G H, phường T, Quận B, Th phố Hồ Chí Minh để đi giao. Mỗi khi giao ma tuý xong thì T lấy tiền đem về đưa trực tiếp cho H và được H trả công mỗi lần giao ma tuý là 100.000 đồng. Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 19/7/2022, Lưu Vĩ T đang chở vợ là Phạm Thị Kim L đi ăn thì H gọi điện thoại kêu T đến địa chỉ 26/9G H, phường T, Quận B gặp K nhận ma tuý đi giao cho người mua. T điều khiển xe mô tô biển số 59U1-X chở Loan đến địa chỉ nêu trên gặp K nhận 03 túi nylon màu hồng chứa ma tuý. Sau đó, T chở Loan đến đường Thái Văn Lung, Quận 1, Th phố Hồ Chí Minh giao 01 túi nylon màu hồng chứa ma tuý cho người mua nhưng không nhận tiền, còn lại 02 túi nylon màu hồng chứa ma tuý T đang trên đường đi giao tiếp cho người mua thì bị Công an phát hiện bắt giữ như đã nêu trên. T chỉ nói cho Loan biết là đi nhận tinh dầu rồi giao cho khách nhưng không nói cho Loan biết là ma túy (BL: 263 đến 277).
Vũ Ngọc K khai nhận quen biết với người phụ nữ tên Vũ Quỳnh Gia H từ năm 2017. Khoảng tháng 3/2022, H có đặt vấn đề kêu K giữ ma túy giúp H, ma tuý H đã phân chia sẵn, đóng gói cẩn thận nên K không biết số lượng ma tuý bên trong là bao nhiêu, loại ma tuý gì. Khi nào có người mua cần thì giao ma túy theo sự chỉ đạo của H và H sẽ cho K tiền tiêu xài nên K đồng ý. Những lúc H đi xa lâu ngày thì H sẽ gửi ma túy cho Vũ Ngọc K, nhiệm vụ của K là chuẩn bị ma tuý theo chỉ đạo của H và sẽ có người đến nhận để đi giao. Sau khi H về sẽ nhận lại ma túy và kiểm tra số lượng đã bán được bao nhiêu rồi sẽ trả công cho K số tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng. Ngày 19/7/2022, theo sự chỉ đạo của H, K đưa 03 túi nylon màu hồng chứa ma tuý cho Lưu Vĩ T đi giao cho người mua. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, K bị Công an mời làm việc, sau đó khám xét chỗ ở của K và thu giữ ma túy như trên. Theo sự chỉ đạo của H, K đã 10 lần đưa ma túy cho T đi giao, lời khai của Vũ Ngọc K và Lưu Vĩ T là phù hợp với nhau (BL: 241 đến 256).
Lời khai của Phạm Thị Kim L phù hợp với lời khai của Lưu Vĩ T về việc đi cùng T nhận tinh dầu giao cho khách và không biết việc T đi nhận và giao ma tuý. Quá trình điều tra xác định Phạm Thị Kim L không liên quan đến vụ án. Kết quả xét nghiệm chất ma túy của Loan âm tính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giải tỏa đối với Loan theo quy định (BL: 221 đến 226).
Đối với Vũ Quỳnh Gia H, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Th phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định truy tìm nhưng đến nay chưa xác định được đối tượng đang cư trú tại đâu, khi nào tìm được sẽ tiếp tục đấu tranh làm rõ và xử lý sau.
Đối với các số điện thoại có liên quan trong vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Th phố Hồ Chí Minh đã có Công văn gửi Công ty Dịch vụ Mobifone Khu vực 2, Ban Thanh tra – Kiểm toán Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội, Tổng Công ty Hạ tầng mạng VNPT (Vinaphone) và Công ty cổ phần viễn thông Đông Dương Telecom để xác minh nhưng chỉ nhận được kết quả trả lời của Tổng Công ty Hạ tầng mạng VNPT (Vinaphone) và Công ty cổ phần viễn thông Đông Dương Telecom; Còn Công ty Dịch vụ Mobifone Khu vực 2 và Ban Thanh tra - Kiểm toán Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội chưa có kết quả trả lời.
Vật chứng vụ án đã được liệt kê theo Phiếu nhập kho vật chứng số 425/PNK/2022 ngày 07/12/2022 và số 477/PNK/2022 ngày 19/12/2022 của Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp (PC10), Công an thành phố Hồ Chí Minh (BL số 162 và 165).
Tại bản Cáo trạng số 209/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 11/4/2023, Viện kiểm sát Nhân dân Th phố Hồ Chí Minh truy tố các bị can (có lý lịch nêu trên):
- Vũ Ngọc K, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Lưu Vĩ T, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Phần tranh tụng tại phiên tòa:
Bị cáo đồng ý với Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bà Nguyễn Thị Hồng P trình bày: xe gắn máy biển số 59U1-X là tài sản do bà đứng tên chủ sở hữu, việc bị cáo K dùng xe vào việc phạm tội bà không biết nên xin trả lại xe cho bà.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Th phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc K tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt bổ sung bị cáo K 30.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước;
Căn cứ điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Vĩ T từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt bổ sung bị cáo T 10.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước; Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo K trình bày: thống nhất với quan điểm truy tố về tội danh và điều khoản của bản Cáo trạng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội khi đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi mà cho bị cáo hưởng mức án, phạt bổ sung nhẹ hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên.
Luật sư bào chữa cho bị cáo T gửi bài luận cứ bào chữa trình bày: thống nhất với quan điểm truy tố về tội danh và điều khoản của bản Cáo trạng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo; chưa có tiền án, tiền sự; đã chỉ điểm ra đồng phạm; mức độ tham gia trong vụ án chỉ là người đi giao ma túy, nhận thức pháp luật có phần hạn chế mà cho bị cáo hưởng mức án 07 năm tù.
Bị cáo K, T đồng ý với phần trình bày bào chữa của luật sư, không bổ sung.
Kiểm sát viên đối đáp: luật sư đều xin giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử, tuy nhiên xét tính chất, mức độ phạm tội của hai bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự Kiểm sát viên bảo lưu luận tội về hình phạt.
Luật sư không tranh luận bổ sung.
Lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận thức được sai trái của hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Xét lời khai nhận của bị cáo Lưu Vĩ T và bị cáo Vũ Ngọc K tại phiên tòa cơ bản phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng, biên bản chỉ điểm, lời khai cũng như bản tự khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 20 giờ 20 phút, tại trước nhà số 345C Trần Hưng Đạo, phường Cầu Kho, Quận 1, Th phố Hồ Chí Minh. Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 1, Th phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang bị cáo Lưu Vĩ T đang trên đường đi bán ma túy, thu giữ 3,5919 gam, loại MDMA và 2,1895 gam, loại Ketamine. Nguồn ma túy mà bị cáo T đem đi bán là do bị cáo Vũ Ngọc K cung cấp. Qua điều tra truy xét, khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Vũ Ngọc K tại phòng số 03 nhà số 26/9G H, phường T, Quận B, Th phố Hồ Chí Minh phát hiện thu giữ 265,8802 gam, loại MDMA; 105,96 gam, loại Methamphetamine và 78,1595 gam, loại Ketamine do bị cáo K cất giấu để bán lại.
Nguồn ma túy của bị cáo K bị thu giữ là do người phụ nữ tên Vũ Quỳnh Gia H giao để bán.
Bị cáo K đã giao ma túy cho bị cáo T 10 lần, lần cuối cùng là vào ngày 19/7/2022, bị cáo K đưa 03 túi nylon màu hồng chứa ma tuý cho bị cáo T đi giao cho người mua nhưng bị cáo T chưa kịp bán thì bị bắt quả tang thu giữ như đã nêu. Như vậy:
- Bị cáo Lưu Vĩ T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy bị bắt quả tang cất giấu để bán là 3,5919 gam, loại MDMA và 2,1895 gam, loại Ketamine.
- Bị cáo Vũ Ngọc K phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số ma túy bị khám xét thu giữ và giao cho bị cáo Lưu Vĩ T đem đi bán thì bị bắt quả tang, tổng cộng là 269,4721 gam, loại MDMA; 105,96 gam, loại Methamphetamine;
80,349 gam, loại Ketamine.
Xét hành vi của hai bị cáo T và K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Hai bị cáo nhận thức được hành vi của mình nhưng do cần tiền tiêu xài nên bị cáo Vũ Ngọc K đã nhận ma túy từ người phụ nữ tên Vũ Quỳnh Gia H và giao cho bị cáo Lưu Vĩ T giao cho người cần mua ma túy theo chỉ đạo của tên H.
Đối với Vũ Quỳnh Gia H, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Th phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định truy tìm nhưng đến nay chưa xác định được đối tượng đang cư trú tại đâu, khi nào tìm được sẽ tiếp tục đấu tranh làm rõ và xử lý sau là có căn cứ.
Đối với 10 lần đã mua bán trước đây giữa bị cáo K và T, do chỉ có lời khai của hai bị cáo, ma túy không thu giữ được, ngoài ra không còn chứng cứ nào khác để chứng minh nên không xác định được khối lượng ma túy của những lần mua bán này để xử lý mà chỉ xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vũ Ngọc K và là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với bị cáo Lưu Vĩ T.
Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lưu Vĩ T và bị cáo Vũ Ngọc K đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét ma túy ở thể rắn mà bị cáo K mua bán, tàng trữ trái phép nhằm mục đích bán cho người khác có khối lượng như đã nêu trên là dấu hiệu định khung hình phạt được quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình).
Xét hai bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là dấu hiệu định khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thì bị phạt tù 07 năm đến 15 năm) đối với bị cáo T, và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo K, nhưng có xem xét do hai bị cáo tự thú khai ra.
Xét trong vụ án này có đồng phạm, qua lời khai, nhận dạng, chỉ điểm của hai bị cáo T và K. Xác định đối tượng Vũ Quỳnh Gia H là người cầm đầu (đang bị Cơ quan điều tra truy tìm), hai bị cáo T và K là người thực hành, giúp sức, trong đó tính chất và mức độ của bị cáo K cao hơn bị cáo T. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt cho từng bị cáo.
Xét hai bị cáo thành khẩn khai báo; tự thú khai ra các lần phạm tội trước; quá trình điều tra hai bị cáo T và K đã khai ra đồng phạm giúp Cơ quan điều tra nhanh chóng phát hiện thu giữ ma túy và truy tìm đồng phạm; chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo K phạm tội khi đang có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s điểm r điểm t khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của hai bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự về hình phạt đối với hai bị cáo là phải nghiêm, phạt tù có thời hạn mới đủ sức giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo số tiền nhất định để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Xét cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân Th phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo Lưu Vĩ T và bị cáo Vũ Ngọc K về khung, điều luật và tội danh như đã viện dẫn trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Với lập luận tại đoạn [1] là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận hay không chấp nhận phần luận tội của Kiểm sát viên, luận cứ bào chữa của luật sư cho bị cáo, trình bày của bị cáo, đương sự.
[3] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của họ. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Xét về xử lý vật chứng, án phí:
[4.1] Về xử lý vật chứng Vật chứng thu giữ của bị cáo Vũ Ngọc K:
- 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số 4150 (882/22) Q1 (G1, G2, G3), có chữ ký ghi tên của Giám định viên Phạm Hoàng Th và ĐTV Bành Trọng H, bên trong là ma túy còn lại sau giám định nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số Imei trên khe sim: 350141789789763 (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xanh, số Imei trên khe sim: 350141789789763, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) là tài sản của bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
- 03 (ba) thùng giấy; nhiều hộp giấy nhỏ, giấy bạc, bì thư, gói giấy và pin hiệu con Ó; Nhiều túi nylon màu hồng chưa sử dụng là vật dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, dung tích xi lanh 108, biển số 59U1-X, số khung: RLHJF2706BY085659, số máy: JF27E0819887 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra), kết luận giám định xe có số khung và số máy không đổi, phù hợp với kết quả xác minh, xe do Nguyễn Thị Hồng P (sinh năm 1983; nơi thường trú: 90A/22 A, Phường B, Quận T, Th phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Bà Phượng trình bày mua xe vào khoảng tháng 7/2019 và để cho thuê. Ngày 06/5/2022, bà Phượng cho Ngô Hồng T (sinh năm 1983; chỗ ở: 241 Phạm Ngũ Lão, Quận 1) thuê nhưng sau đó T đã không quay lại để trả xe. Xác minh tại Công an phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 được biết tại địa chỉ số 241 Phạm Ngũ Lão không có Ngô Hồng T sinh sống. Bị cáo K khai xe mô tô này là của bạn tên Ngô Hồng T (không rõ lai lịch) cho K mượn sử dụng từ tháng 6/2022 đến ngày bị bắt và thu giữ. Do đó, chủ sở hữu xe này không liên quan đến vụ án nên trả lại xe cho họ.
Vật chứng thu giữ của bị cáo Lưu Vĩ T:
- 02 (hai) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số 4147 (879/22)Q1 (gói 1,2), có chữ ký ghi tên của Giám định viên Phạm Hoàng Th và ĐTV Bành Trọng H, bên trong là ma túy còn lại sau giám định nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số Imei trên khe sim: 352831110864909 (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen, số Imei trên khe sim: 352831110864909, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) là tài sản của bị cáo T không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho họ;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, số Imei 354449064020572 (model A1549, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) là tài sản của bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
- 01 (một) túi nylon màu hồng bên ngoài có dán giấy ghi chữ “13 Hồ Biểu Chánh Phú Nhuận”; 01 (một) túi nylon màu hồng bên ngoài có dán giấy ghi chữ “345 Trần Hưng Đạo Quận 1” là vật dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy;
- Số tiền 1.300.000 đồng đã gửi vào tài khoản tạm gửi của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Th phố Hồ Chí Minh tại Ngân hàng Th mại cổ phần - Công thương Việt Nam là tài sản của bị cáo T không liên quan đến phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án;
- 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: ECXITER, dung tích xi lanh: 149, biển số 59U1-X, số khung: RLCUG0610FY129275, số máy: G3D4E-141883 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra), kết luận giám định xe có số khung và số máy không đổi, phù hợp với kết quả xác minh do bị cáo Lưu Vĩ T đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo T sử dụng xe này vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
Vật chứng thu giữ của bà Phạm Thị Kim L: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số Imei trên khe sim 353844088598358 (model A1778, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) là tài sản của bà Loan không liên quan đến phạm tội nên trả lại cho họ;
Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4.2] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 251, điểm s điểm r điểm t khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng đối với bị cáo Vũ Ngọc K);
Căn cứ điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251, điểm s điểm r điểm t khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng đối với bị cáo Lưu Vĩ T);
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc K 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/7/2022.
Phạt bổ sung bị cáo K 10.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Lưu Vĩ T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/7/2022.
Phạt bổ sung bị cáo T 5.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số Imei trên khe sim: 350141789789763 (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone màu xanh, có số Imei trên khe sim: 350141789789763, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, số Imei 354449064020572 (model A1549, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
- 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: ECXITER, dung tích xi lanh: 149, biển số 59U1-X, số khung: RLCUG0610FY129275, số máy: G3D4E-141883 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra);
Tịch thu và tiêu hủy:
- 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số 4150 (882/22) Q1 (G1, G2, G3), có chữ ký ghi tên của Giám định viên Phạm Hoàng Th và Đtv Bành Trọng H, bên trong là ma túy còn lại sau giám định;
- 02 (hai) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số 4147 (879/22)Q1 (gói 1,2), có chữ ký ghi tên của Giám định viên Phạm Hoàng Th và Đtv Bành Trọng H, bên trong là ma túy còn lại sau giám định;
- 03 (ba) thùng giấy; nhiều hộp giấy nhỏ, giấy bạc, bì thư, gói giấy và pin hiệu con Ó; nhiều túi nylon màu hồng chưa sử dụng;
- 01 (một) túi nylon màu hồng bên ngoài có dán giấy ghi chữ “13 Hồ Biểu Chánh Phú Nhuận”; 01 (một) túi nylon màu hồng bên ngoài có dán giấy ghi chữ “345 Trần Hưng Đạo Quận 1”;
Trả lại cho:
- Bị cáo Lưu Vĩ T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số Imei trên khe sim: 352831110864909 (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen, số Imei trên khe sim: 352831110864909, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
- Bà Nguyễn Thị Hồng P: 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, dung tích xi lanh 108, biển số 59U1-X, số khung: RLHJF2706BY085659, số máy: JF27E0819887 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra);
- Bà Phạm Thị Kim L: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, số Imei trên khe sim 353844088598358 (model A1778, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), (Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/253 ngày 17/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự Th phố Hồ Chí Minh).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.300.000 đồng của bị cáo Lưu Vĩ T để bảo đảm thi hành án;
(Theo giấy nộp tiền ngày 25/5/2022 tại Ngân hàng TMCP Công Th Việt Nam - Chi nhánh 10 - TP.HCM).
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 244/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 244/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 25/05/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về