Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 22/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 22/2023/HS-ST NGÀY 25/10/2023 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

- Hồ Bá A, sinh ngày 24/6/1997; Nơi sinh: huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn 2, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Bá C và bà Đậu Thị N; Vợ Nguyễn Thị Trà M; Bị cáo có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2023. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Hồ Xuân T, sinh ngày 12/4/1994; Nơi sinh: huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Tổ dân phố 6, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: làm nông; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Xuân Đ (đã chết) và bà Hồ Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2023. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Xuân T: Ông Phạm Công M – Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

+ Annh Trần Duy K, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Bà Đậu Thị N, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn 02, xã K, huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

+ Bà Hồ Thị H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

+ Ông Huỳnh L, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn 10, xã E, huyện E1, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Bà Lâm Thị Mỹ H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số 112/44 Y, phường T, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Trần Đại N1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn 3, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Ông Trần Văn B, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn 02, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 23/6/2023, A gặp và nhờ T đi mua ma túy giúp và được T đồng ý. Sau đó A chuyển khoản số tiền 1.100.000 đồng từ tài khoản của A đến số tài khoản 63210000830X (ngân hàng BIDV) của T. Giữa A và T thỏa thuận số tiền mua ma túy là 1.000.000 đồng còn 100.000 đồng là tiền A cho T để ăn uống và đổ xăng đi lại.

Sau khi nhận được tiền, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Blade, biển số 47G1-X của bà Hồ Thị H (là mẹ của T) đến cửa hàng điện thoại di động Đại Ng (địa chỉ: Thôn 2, xã K, huyện M) để xe mô tô tại đây và đón xe ô tô khách lên thị trấn E1, huyện E1 để mua ma túy. Trên xe T đã chuyển khoản cho chị Lâm Thị Mỹ H (là phụ xe) số tiền 1.080.000 đồng, sau khi trừ 40.000 đồng tiền vé xe, H đưa lại cho T số tiền mặt là 1.040.000 đồng.

Khi đến thị trấn E1, T nảy sinh ý định sử dụng tiền của cá nhân để mua ma túy cho mình về bán và để lại một ít sử dụng, do không có tiền mặt nên khi đang đi bộ bên đường T gặp ông Huỳnh L đang đợi xe bên đường để gửi hàng, T đã chuyển khoản cho ông L số tiền 800.000 đồng và nhận tiền mặt từ ông L. Sau đó T gặp một người tên “L1” (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đồng ý bán ma túy cho T. Lúc này T mua 1.000.000 đồng ma túy cho A và 800.000 đồng mua ma túy cho T.

Sau khi mua ma túy xong T đón xe ô tô dịch vụ từ huyện E1 về huyện M, đến trước cửa hàng điện thoại Đại Ng lấy xe mô tô đi về nhà thì bị Công an huyện M lập biên bản bắt quả tang.

T khai nhận hành vi mua giúp ma tuý cho A. Cơ quan điều tra mời A đến làm việc và A thừa nhận toàn bộ hành vi theo như lời khai của T.

Quá trình điều tra A khai nhận, sáng ngày 20/6/2023 A đi xe buýt lên huyện E1, tỉnh Đắk Lắk gặp một người đàn ông tên Tèo (chưa xác định được nhân thân lai lịch) mua 1.200.000 đồng ma túy về sử dụng, khoảng 20 giờ cùng ngày Nguyễn Văn Đ gọi điện thoại hỏi mua ma túy thì A đồng ý bán cho Đ với số tiền 500.000 đồng, sau đó A hẹn Đ đến đoạn đường vành đai (đường tránh thị trấn M) thuộc tổ dân phố 9, thị trấn M để giao ma túy và nhận tiền. Sau khi giao ma túy cho Đ và nhận tiền thì A về nhà, đến khoảng 01 giờ ngày 21/6/2023, Trần Duy K điện thoại hỏi mua 500.000 đồng ma túy thì A đồng ý bán và hẹn K lên đoạn đường tránh phía trước nhà A để giao ma túy và nhận tiền. Thấy việc bán ma túy dễ kiếm lời nên A nảy sinh ý định tiếp tục đi mua ma túy về phân nhỏ ra để bán kiếm lời và sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 788/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có khối lượng 0,8625 gam, loại Methamphetamine. Chất rắn màu trắng bên trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có khối lượng 0,7716gam, loại Methamphetamine. (Tổng khối lượng của chất rắn màu trắng bên trong 02 gói nylon nói trên là 1,6341gam).

Mẫu vật còn lại sau giám định trong gói khối lượng 0,8625gam còn lại 0,7975gam; trong gói khối lượng 0,7716gam còn lại 0,7044gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

* Vật chứng tạm giữ:

- 01 bì niêm phong chứa 02 gói ma túy còn lại sau giám định; 01 con dao rọc giấy màu vàng; 01 ống hút bằng nhựa, màu xanh, dài 10cm, một đầu dán kín, một đầu vát chéo; 01 bộ dụng cụ gồm: 01 lọ nhựa, 01 ống thủy tinh có một đầu hình cầu, 01ống hút bằng nhựa màu trắng sọc tím; 01 gói thuốc lá nhãn hiệu COTAB, bên trong có 02 điếu thuốc, 01 con dao tự chế dài 8,3cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa hình trụ tròn màu xanh;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC Exodus 1s, kèm theo thẻ sim của Hồ Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen kèm theo sim của Hồ Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu trắng có gắn thẻ sim của Hồ Bá A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1808 màu đen, có gắn thẻ sim của Hồ Bá A.

Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Hồ Bá A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và bị cáo Hồ Xuân T bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Bị cáo A khai nhận: Ngày 20/6/2023 Bị cáo A đã lên huyện E1 mua 1.200.000đồng ma túy về sử dụng và chia nhỏ ra để bán cho Nguyễn Văn Đ 500.000 đồng và Trần Duy K 500.000 đồng. Tiếp đến, ngày 23/6/2023 Bị cáo A nhờ Bị cáo T đi mua 1.000.000đồng ma tuý nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời thì bị phát hiện.

Tại phiên toà Bị cáo T khai nhận: Bị cáo T và Bị cáo A là anh em (con cô, con cậu). Ngày 23/6/2023, Bị cáo A nhờ T mua giúp ma tuý cho Bị cáo A với số tiền là 1.000.000 đồng, Bị cáo T mua riêng cho bản thân 800.000 đồng để về bán kiếm lời, sau khi mua trên đường về bị công an huyện M phát hiện và bắt giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hồ Bá A và bị cáo Hồ Xuân T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Bá A từ 06 năm đến 06 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Xuân T từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

* Về vật chứng: Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106 của BLTTHS; Điều 47 của BLHS:

- Tịch thu tiêu huỷ 02 gói ma túy còn lại sau giám định; 01 con dao rọc giấy; 01 ống hút bằng nhựa. 01 bộ dụng cụ gồm: 01 lọ nhựa; 01 ống thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa; 01 gói thuốc lá nhãn hiệu COTAB bên trong có 02 điếu thuốc; 01 con dao tự chế dài 8,3cm, là vật chứng và vật dụng các bị cáo dùng vào việc phân nhỏ ma tuý ra để bán và sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC Exodus 1s, kèm theo thẻ sim của Hồ Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen kèm theo sim của Hồ Xuân T; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu trắng có gắn thẻ sim của Hồ Bá A; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1808 màu đen, có gắn thẻ sim của Hồ Bá A là công cụ các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Hồ Bá A thu lợi bất chính từ việc bán ma túy (số tiền do bà Đậu Thị N tự nguyện giao nộp thay cho Hồ Bá A);

- Chấp nhận Cơ quan điều tra ra quyết định trả lại xe mô tô nhãn hiệu HONDA Blade biển số 47G1-X cho bà Hồ Thị H là chủ sở hữu do bà H không biết Bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với Trần Duy K: Quá trình điều tra Hồ Xuân T khai số tiền 800.000 đồng mà T sử dụng mua ma túy cho mình là mượn của K, T nói dối K là mượn để sửa xe, tuy nhiên K không thừa nhận việc cho T mượn tiền, quá trình thu thập tài liệu chứng cứ không đủ căn cứ xác định Khánh là người cho T mượn tiền nên không có căn cứ xử lý.

Đối với người bán ma túy cho Hồ Xuân T và Hồ Bá A: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thị trấn E1, xã E2 và thị trấn E1, huyện E1 nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch, khi nào xác định rõ sẽ tiến hành xử lý sau.

Đối với ông Huỳnh L và bà Lâm Thị Mỹ H: Khi Hồ Xuân T chuyển khoản để nhận lại tiền mặt thì ông Ly và bà H không biết mục đích T lấy tiền đi mua ma túy nên không đề cập xem xét xử lý.

Đối với Nguyễn Văn Đ và Trần Duy K có hành vi mua ma túy của Hồ Bá A: Quá trình điều tra K và Đ khai nhận đã sử dụng hết số ma túy nói trên, Cơ quan điều tra không thu giữ được ma túy, qua xét nghiệm chất ma túy của K và Đ tại Trung T y tế huyện M’Drắk vào ngày 23/6/2023 xác định K và Đ dương tính với Methamphetamine. Do đó, Công an huyện M xử lý hành chính đối với Trần Duy K và Nguyễn Văn Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Người bào chữa cho bị cáo Hồ Xuân T trình bày: Đồng quan điểm với VKS về hành vi của Bị cáo T mà VKS đã truy tố, tuy nhiên đề nghị HĐXX áp dụng thêm điểm t Điều 51 BLHS, do Bị cáo T đã tích cực hợp tác trong việc phát hiện tội phạm, đã khai ra Bị cáo A. Đề nghị HĐXX xem xét xử phạt Bị cáo T dưới khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 BLHS.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài, thấy việc mua bán ma túy cho các đối tượng nghiện dễ dàng và có lời nên ngày 20/6/2023 A đã đi mua ma túy bán cho Đ và K. Tiếp đến ngày 23/6/2023 A nhờ T đi mua ma túy cho mình. Trong quá trình thực hiện hành vi mua giúp cho A thì T nảy sinh ý định mua ma túy để về bán kiếm lời nên đã bỏ ra 800.000đồng để mua ma túy, trên đường về thì bị bắt giữ.

[3] Về hành vi phạm tội: Bị cáo Hồ Xuân T thực hiện hành vi mua chất ma túy một lần vào ngày 23/6/2023, nhằm mục đích bán lại cho người khác để thu lợi bất chính đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hồ Bá A thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy hai lần vào các ngày 20/6/2023 và ngày 23/6/2023 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

a… b. Phạm tội 02 lần trở lên” [4] Về Hình Phạt: Xét tính chất, mức độ cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo có đầy đủ năng lực thì phải nhận thức được: Ma túy là dược liệu hướng thần, là chất gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý. Nhưng với ý thức coi thường pháp luật, chỉ vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân và vụ lợi cá nhân, muốn kiếm lời qua việc mua bán trái phép chất ma túy nên đã dẫn các bị cáo đến con đường phạm tội. Hành vi mua bán chất ma túy của các bị cáo đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền trật tự trị an và an toàn xã hội. Tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn ngày một gia tăng, gây mất ổn định cho cuộc sống của người dân. Gây hoang mang, lo lắng cho các gia đình có con em đến tuổi vị thành niên. Do vậy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt. Bị cáo A đã tự khai ra hành vi phạm tội của mình thực hiện mua ma túy vào ngày 20/6/2023 và bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ và Trần Duy K khi chưa bị phát hiện, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo T có thời gian phục vụ trong quân đội, gia đình các bị cáo có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, nên Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

[5] Đối với Trần Duy K: Quá trình điều tra Hồ Xuân T khai số tiền 800.000 đồng mà T sử dụng mua ma túy cho mình là mượn của K, T nói dối K là mượn để sửa xe, tuy nhiên K không thừa nhận việc cho T mượn tiền, quá trình thu thập tài liệu chứng cứ không đủ căn cứ xác định K là người cho T mượn tiền nên không có căn cứ xử lý.

[6] Đối với người bán ma túy cho Hồ Xuân T và Hồ Bá A: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thị trấn E1, xã E và thị trấn E2, huyện E1 nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch, khi nào xác định rõ sẽ tiến hành xử lý sau.

[7] Đối với ông Huỳnh L và bà Lâm Thị Mỹ H: Khi được Bị cáo T chuyển khoản để nhận lại tiền mặt đều không biết mục đích lấy tiền để mua ma túy nên không đề cập xem xét xử lý.

[8] Đối với Nguyễn Văn Đ và Trần Duy K có hành vi mua ma túy của Bị cáo A nhưng đã sử dụng hết số ma túy đã mua, qua xét nghiệm tại Trung T y tế huyện M vào ngày 23/6/2023 xác định K và Đ dương tính với Methamphetamine nên công an huyện M xử lý hành chính đối với Trần Duy K và Nguyễn Văn Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng:

- 01 bì niêm phong chứa 02 gói ma túy còn lại sau giám định; 01 con dao rọc giấy màu vàng ; 01 ống hút bằng nhựa, màu xanh, dài 10cm. 01 bộ dụng cụ gồm: 01 lọ nhựa, 01 ống thủy tinh có một đầu hình cầu, 01ống hút bằng nhựa màu trắng sọc tím; 01 gói thuốc lá nhãn hiệu COTAB, bên trong có 02 điếu thuốc nhãn hiệu COTAB, 01 con dao tự chế dài 8,3cm, lưỡi dao bằng kim loại được dùng vào việc phân nhỏ ma tuý ra để bán và sử dụng trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC Exodus 1s, kèm theo thẻ sim của Hồ Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen kèm theo sim của Hồ Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu trắng có gắn thẻ sim của Hồ Bá A; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1808 màu đen, có gắn thẻ sim của Hồ Bá A là công cụ các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước;

- Số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Hồ Bá A thu lợi bất chính từ việc bán ma túy nên cầm tịch thu sung công quỹ Nhà nước;

- Đối với xe mô tô 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Blade màu đỏ đen biển số 47G1-X của bà Hoa, bà Hoa không biết Bị cáo T sử dụng để mua ma túy, cơ quan điều tra ra quyết định trả lại xe mô tô 01 xe mô tô cho bà Hồ Thị Hoa là chủ sở hữu là phù hợp nên cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo T thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn giảm án phí, nên HĐXX xét miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo A bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hồ Bá A và bị cáo Hồ Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hồ Bá A 07(bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/6/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hồ Xuân T 03(ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/6/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong chứa 02 gói ma túy còn lại sau giám định; 01 con dao rọc giấy màu vàng ; 01 ống hút bằng nhựa, màu xanh, dài 10cm, một đầu dán kín, một đầu vát chéo. 01 bộ dụng cụ gồm: 01 lọ nhựa, 01 ống thủy tinh có một đầu hình cầu, 01ống hút bằng nhựa màu trắng sọc tím; 01 gói thuốc lá nhãn hiệu COTAB, bên trong có 02 điếu thuốc nhãn hiệu COTAB, 01 con dao tự chế dài 8,3cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa hình trụ tròn màu xanh là dùng vào việc phân nhỏ ma tuý ra để bán và sử dụng trái phép chất ma tuý;

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC Exodus 1s, kèm theo thẻ sim của Hồ Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen kèm theo sim của Hồ Xuân T; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu trắng có gắn thẻ sim của Hồ Bá A; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1808 màu đen, có gắn thẻ sim của Hồ Bá A là công cụ các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội và số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Hồ Bá A thu lợi bất chính từ việc bán ma túy;

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Đắk Lắk).

- Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M ra quyết định trả lại xe mô tô nhãn hiệu HONDA Blade màu đỏ đen biển số 47G1-X cho bà Hồ Thị H là chủ sở hữu.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hồ Xuân T. Bị cáo Hồ Bá A phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

46
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 22/2023/HS-ST

Số hiệu:22/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện M'Đrắk - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/10/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về