TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
BẢN ÁN 13/2024/HS-ST NGÀY 31/01/2024 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh D mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐ-TA ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đăng K, sinh năm 1971 tại thành phố C, tỉnh H; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: KDC L, phường T, thành phố C, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K và bà Đỗ Thị T; Gia đình bị cáo có 8 anh em, bị cáo là con thứ tám.
Tiền sự: Không.
Tiền án:
- Bản án số 41/2014/HSST ngày 01/8/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã C(nay là Tòa án nhân dân thành phố C) xử phạt 27 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/3/2016, K chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành xong phần án phí dân sự nhưng chưa thi hành khoản tiền phạt bổ sung 5.000.000đồng.
- Bản án số 25/2017/HSST ngày 26/4/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã C(nay là Tòa án nhân dân thành phố C) xử phạt 33 tháng về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 09/7/2019, K chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành xong phần án phí dân sự, tiền truy thu nhưng chưa thi hành khoản tiền phạt bổ sung 5.000.000đồng.
Nhân thân: Bản án số 132/2003/HS-ST ngày 10/11/2003 của Tòa án nhân dân Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/9/2023 đến ngày 02/10/2023 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh D. Có mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Hà T, sinh năm 1978. Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn C, sinh năm 1984. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 28 tháng 9 năm 2023, Nguyễn Đăng K bắt xe ôm của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch đi từ đường QL 37 đến khu vực ngã tư thị xã Đ, tỉnh Q để mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, K gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch hỏi mua 2.000.000đồng tiền ma túy. Người đàn ông đưa cho K 01 vỏ bao thuốc lá màu bạc, bên ngoài có chữ “SaiGon”, bên trong có 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, K đi xe ôm về gần đến nhà thì xuống xe đi bộ về nhà. Về nhà, K chia nhỏ gói ma túy mua được thành 12 túi nilong nhỏ, số ma túy còn lại K vẫn để trong túi nilong rồi cất tất cả ở phòng ngủ của mình. Đến khoảng 15 giờ ngày 29 tháng 9 năm 2023, Nguyễn Hà T, sinh năm 1978, địa chỉ: Khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh H gọi điện từ số điện thoại 0972.852.036 đến số điện thoại 0705.852.xxx hỏi mua ma túy. K đồng ý nên K cầm gói ma túy chưa được chia nhỏ đi bộ ra đường QL 37, bắt xe ôm của người không rõ nhân thân, lai lịch đến gần trụ sở UBND phường V thuộc địa phận KDC B, phường V, thành phố C, tỉnh H thì xuống xe, K bảo người xe ôm đứng chờ. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Tuyên chở theo Nguyễn Chơn, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, thị xã Đ, tỉnh Q đến gặp K. Lúc này, K đưa cho T gói ma túy, T đưa cho K số tiền 2.000.000đồng. Sau khi mua được ma túy, T chở C về nhà T, còn K ra chỗ người lái xe ôm đứng chờ trước đó bảo chở về nhà. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T mang số ma túy mua được của Khoa ra vườn nhà mình rồi sử dụng hết.
Đến khoảng 8 giờ 00 phút ngày 30 tháng 9 năm 2023, Nguyễn Văn K đến Cơ quan CSĐT- Công an thành phố C để tự thú về hành vi phạm tội của bản thân.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở Nguyễn Đăng K tại KDC L, phường T, thành phố C, tỉnh H, K tự nguyện lấy ở đầu giường phòng ngủ: 01 vỏ bao thuốc lá màu bạc, bên ngoài có chữ “SaiGon”, bên trong chứa 12 túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh, đều có kích thước (2x2,5)cm, bên trong các túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6310, màu đen bên trong lắp sim số 0705.852.xxx và số tiền 2.000.000đồng. Nguyễn Hà T tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Tecni spark 7T, màu xanh, bên trong lắp sim số 0972.852.036.
Tại kết luận giám định số 481/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh D kết luận:
Chất rắn(dạng tinh thể) màu trắng trong 12 túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,960gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS-CL ngày 10/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh D đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng Khoa phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38; các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Đăng K. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K từ 7 năm 3 tháng đến 7 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/9/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.000.000đồng. Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước:
01 điện thoại điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6310, màu đen bên trong lắp sim số 0705.852.xxx và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Tecni spark 7T, màu xanh, bên trong lắp sim số 0972.852.036. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lá màu bạc, bên ngoài có dòng chữ SaiGon; 0,883 gam ma túy loại Methamphetamine, 12 túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong mãu vật gửi đến giám định; Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đăng K phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Đăng K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại khu dân cư B, phường V, thành phố C, tỉnh H, Nguyễn Đăng K đã có hành vi bán trái phép ma túy cho Nguyễn Hà T 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 2.000.000đồng. Đến khoảng 8 giờ ngày 30 tháng 9 năm 2023, K tự nguyện đến cơ qua điều tra Công an thành phố C, tỉnh D để tự thú. Tiến hành khám xét chỗ ở của K, K tự nguyện giao nộp 0,960gam ma túy, loại Methamphetamine để K sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất mà Nhà nước cấm lưu hành. Năm 2017, Nguyễn Đăng Khoa bị Tòa án nhân dân thị xã C(nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí ) xử phạt 33 tháng về tội ‘Mua bán trái phép chất ma túy’ và bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm. Bị cáo K đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung. Đến ngày 29 tháng 9 năm 2023, K tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Nguyễn Đăng K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận nên vẫn cố ý mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán với mục đích kiếm lời.
Khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ sau: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự nguyện đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tự thú nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bản thân bị cáo đã từng phạm tội nhiều lần, phải đi chấp hành án nhưng không vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện, lao động mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để rèn luyện bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo, bị cáo không có tài sản, không có khả năng thi hành án nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố C đã thu giữ số tiền 2.000.000đồng là khoản tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHHS. Đối với 01 điện thoại điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6310, màu đen bên trong lắp sim số 0705.852.xxx là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với 0,883 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với 12 túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, 01 vỏ bao thuốc lá màu bạc, bên ngoài có chữ SaiGon là những vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được nên cần tịch thu và tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Tecni spark 7T, màu xanh, bên trong lắp sim số 0972.852.036 mà T sử dụng để mua ma túy, quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố C đã trả lại cho T là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
[6] Trong vụ án, K khai mua ma túy của người đàn ông không quen biết và người lái xe ôm chở K mua ma túy và bán ma túy, qua điều tra chưa xác định được những người đàn ông này là ai, cơ quan điều tra tách ra để xác minh, làm rõ và xử lý sau. Đối với Nguyễn Hà T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T là phù hợp. Đối với Nguyễn C, không biết việc T đến gặp K để mua ma túy nên Cơ quan CSĐT- Công an thành phố C không có căn cứ để xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo K bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106;
khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K 7 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30-9-2023.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.000.000đồng. Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6310, màu đen bên trong lắp sim số 0705.852.xxx. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lá màu bạc, bên ngoài có dòng chữ SaiGon; 0,883 gam ma túy loại Methamphetamine, 12 túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.
(Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố C và Chi cục THADS thành phố C ngày 15/01/2024).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đăng K phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 13/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 13/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Chí Linh - Hải Dương |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 31/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về