Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 07/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 07/2024/HS-ST NGÀY 30/01/2024 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HS, ngày 18/01/2024, đối với các bị cáo:

1. Mạc Cao T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 13/9/1964, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 05/10; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Mạc Cao T1, sinh năm 1939 và bà Ma Thị T2, sinh năm 1939; vợ: Ngọc Thị T3, sinh năm 1963; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1993.

Tiền án: 02 tiền án.

+ Bản án số 12/2015/HSST ngày 29/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Mạc Cao T 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (nộp xong án phí ngày 25/8/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018).

+ Bản án số 51/2019/HSST ngày 13/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Mạc Cao T 04 năm 03 tháng tù về tội Tàng trừ trái phép chất ma túy, (nộp xong án phí ngày 04/10/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/10/2022).

Nhân thân: Bản án số 16/HSST ngày 18/3/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, xử phạt Mạc Cao T 09 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (nộp xong án phí ngày 06/5/2005, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2011).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

2. Hoa Văn B, tên gọi khác: Không, sinh ngày 03/12/1965, tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn;

Nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/10; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Hoa Văn L (đã chết) và bà Bế Thị Đ (đã chết); vợ: Bàn Thị H, sinh năm 1X; con: Có 01 con, sinh năm 1991.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 11/HSST ngày 25/10/1984 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Thái xử phạt Hoa Văn Bạo 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội đánh bạc (đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngọc Văn P, sinh năm 1972. Nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, Mạc Cao T (đã có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích) sử dụng điện thoại di động số thuê bao (0328190964) gọi đến số thuê bao (0354304X) của Hoa Văn B đề hỏi mua Heroine với giá 1.000.000 đồng. Bạo đồng ý và hẹn gặp T tại đoạn đường nhựa thuộc tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Sau đó B một mình điều khiển xe mô tô biển số 97F1-X (xe của bà Bàn Thị H, sinh năm 1X, trú tại thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn - vợ B) đi từ nhà đến ngã tư thuộc tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, gặp và hỏi mua được 01 gói Heroine có đặc điểm, bên ngoài là lớp giấy bạc màu vàng, tiếp đến là lớp nilong màu trắng, trong cùng chứa chất bột vón cục màu trắng của một người đàn ông không quen biết tự giới thiệu tên H1 với giá 500.000 đồng.

Khoảng 21 giờ cùng ngày T điều khiển xe mô tô biển số 22H2-X (xe của Mạc Cao T4, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang - con trai T) đến điểm hẹn để gặp B. Khi gặp nhau T đưa cho B số tiền 1.000.000 đồng. B cầm tiền, rồi đưa cho T 01 gói Heroine (vừa mua được trước đó). Sau khi mua được H2, T điều khiển xe mô tô đi về nhà, trên đường về T lấy gói Heroine vừa mua được san ra một ít để sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể, số Heroine còn lại T gói lại như cũ và cất giấu vào túi quần T đang mặc rồi đi về nhà.

Khoảng 10 giờ, ngày 20/09/2023, T cho gói H2 (mua của B) vào túi quần đang mặc rồi đi bộ từ nhà đến quán bán hàng trong thôn đề mua thức ăn. Khi T đi đến khu vực đập tràn thuộc thôn N, xã Y, huyện C thì gặp Ngọc Văn P, P hỏi T “Anh còn không để cho em hai trăm”, ý P hỏi T là có Heroine không, bán cho P 200.000 đồng, T trả lời “Còn cỏ đúng hai trăm, đưa tiền đây”. Ngay sau đó P đưa cho T số tiền 200.000 đồng, T cầm tiền rồi lấy 01 gói Heroine từ túi quần đang mặc, chia ra thành 02 gói nhỏ (bên ngoài gói bằng lớp giấy bạc màu vàng) sau đó đưa cho p 01 gói; còn 01 gói T để trong túi quần đang mặc mục đích đề sử dụng. Khoảng 13 giờ cùng ngày T mang theo gói H2 đi bộ đến khu vực thôn N, xã Y, huyện C thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, nghi ngờ T có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu dừng lại đề kiểm tra. Quá trình làm việc T khai nguồn gốc số Heroine và tự giác giao nộp gói Heroine có đặc điểm nêu trên, tổ công tác tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi Tàng trừ trái phép chất ma túy. Số tiền 200.000 đồng do bán Heroine mà có T sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Mở rộng điều tra, ngày 21/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở và ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoa Văn B về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy; về vật chứng quá trình khám xét không phát hiện thu giữ gì thêm. Đối với số tiền 1.000.000 đồng do bán Heroine mà có B sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Tại các biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đối với Mạc Cao T, kết quả (+) dương tính với chất ma túy. Hoa Văn B (-) âm tính với chất ma túy.

Bản kết luận giám định số: 1262/GĐKTHS, ngày 25/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mau vật thu giữ của Mạc Cao T gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (H), khối lượng 0,033g (không phẩy không ba ba gam).

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSCH, ngày 09 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa đã truy tố: Bị cáo Mạc Cao T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoa Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Mạc Cao T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Hoa Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt chính:

Áp dụng điểm q khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mạc Cao T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm a khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mạc Cao T từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Mạc Cao T phải chịu hình phạt chung theo quy định, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20/9/2023.

Áp dụng khoản 1 điều 251, điềm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoa Văn B từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 21/9/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo Mạc Cao T, Hoa Văn B mang tính chất vụ lợi nên đề nghị áp dụng Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo Mạc Cao T, Hoa Văn B từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

- Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Đề nghị Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu mận đỏ (không kiểm tra chất lượng máy), điện thoại cũ đã qua sử dụng có gắn 01 thẻ sim số (0328190964) của Mạc Cao T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen (không kiểm tra chất lượng máy), điện thoại cũ đã qua sử dụng, có gắn 01 thẻ sim số (0354304X) của Hoa Văn B.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bao gói còn lại sau giám định.

Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Mạc Cao T số tiền 200.000 đồng; bị cáo Hoa V Bạo số tiền 1.000.000 đồng do phạm tội mà có.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mạc Cao T, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nên không đề nghị xem xét.

- Đối với Ngọc Văn P, sau khi mua được 01 gói Heroine (có khối lượng 0,193 gam) của Mạc Cao T mục đích đề sử dụng, trên đường P đi về đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện và khởi tố, điều tra và xét xử trong một vụ án khác nên không đề nghị xem xét.

- Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho Hoa V Bạo quá trình điều tra không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với Bàn Thị H, Mạc Cao T4 không biết T, B sử dụng xe mô tô của mình đề sử dụng vào việc phạm tội do vậy không đề cập xử lý

- Áp dụng các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ƯBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Mạc Cao T, Hoa Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án.

Tại phiên tòa các bị cáo Mạc Cao T, Hoa Văn B tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, không có tình tiết mới. Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định. Các bị cáo nhất trí luận tội, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì đề bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Mạc Cao T, Hoa Văn B thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ, ngày 08/9/2023 tại tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, Hoa Văn B đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Mạc Cao T, với giá 1.000.000 đồng (bao gồm khối lượng 0,193 gam Heroine Mạc Cao T đã bán cho Ngọc Văn P; 0,033 gam Heroine Thắng tàng trữ mục đích để sử dụng và số Heroine T khai đã sử dụng cho bản thân từ ngày 08/9/2023 đến ngày 20/9/2023, không nhớ số lần và không xác định được khối lượng).

Khoảng 10 giờ, ngày 20/09/2023, Mạc Cao T thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroine (khối lượng 0,193 gam) cho Ngọc Văn P, với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Bị cáo Mạc Cao T đã từng bị xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 12/2015/HSST ngày 29/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (nộp xong án phí ngày 25/8/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018). Tại Bản án số 51/2019/HSST ngày 13/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt Mạc Cao T 04 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, (T nộp xong án phí ngày 04/10/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/10/2022). Như vậy lần phạm tội này bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự với dấu hiệu định khung “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Khoảng 13 giờ ngày 20/9/2023 tại thôn N, xã Y, huyện C, Mạc Cao T đã có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, tiếp tục có hành vi Tàng trữ trái phép 0,033 gam (không phẩy không ba ba gam) Heroine mục đích để sử dụng (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự).

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố bị cáo Mạc Cao T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoa Văn B về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Lần phạm tội này của bị cáo Mạc Cao T được xác định là tái phạm nguy hiểm, dấu hiệu định khung quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo đều là dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; riêng bị cáo Hoa V Bạo có bố đẻ Hoa Văn L (B1) được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Pháp hạng nhì nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an, tạo dư luận xấu tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác.

Bị cáo Mạc Cao T là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng cố ý trái phép chất ma túy cho Ngọc Văn P, bị truy cứu trách nhiệm hình sự với dấu hiệu định tội, định khung “tái phạm nguy hiểm”; đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo T, tuy khối lượng bị cáo tàng trữ dưới mức định lượng mà điều luật quy định nhưng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa được xóa án tích, bị cáo nhiều lần phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong thời gian dài về tội mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó là bài học kinh nghiệm, không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện, coi thường pháp luật nên cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm minh đối với cả hai tội danh. Căn cứ nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251, điểm a khoản 1 Điều 249, Điều 50 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với từng tội danh như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội theo quy định.

Đối với Hoa Văn B, bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn bị cáo T, chưa có tiền án, tiền sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, khiến tệ nạn ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến hạnh phúc của nhiều gia đình và nền kinh tế xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm minh, trên mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Mạc Cao T, H Bạo phạm tội cố ý, với mục đích vụ lợi, tuy bị cáo T thuộc hộ cận nghèo, bị cáo B không có tài sản riêng có giá trị nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung theo Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự nhằm góp phần cải tạo, răn đe đối với các bị cáo.

[6]. Về vật chứng:

Đối với số Heroine thu giữ của bị cáo Mạc Cao T đã được sử dụng giám định hết khối lượng thu giữ, bao gói còn lại sau giám định là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu mận đỏ (không kiểm tra chất lượng máy), điện thoại cũ đã qua sử dụng có gắn 01 thẻ sim số (0328190964) của Mạc Cao T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen (không kiểm tra chất lượng máy), điện thoại cũ đã qua sử dụng, có gắn 01 thẻ sim số (0354304X) của Hoa Văn B, xét các bị cáo Mạc Cao T, Hoa Văn B sử dụng điện thoại để liên lạc bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Truy thu sung Ngân sách nhà nước đối với bị cáo Mạc Cao T số tiền 200.000 đồng; Hoa Văn Bạo 1.000.000 đồng do phạm tội mà có.

[7]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mạc Cao T Công an huyện C đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, nên không xem xét xử lý. Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Ngọc Văn P, đã bị truy tố, xét xử trong vụ án khác nên không xem xét.

[8]. Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho Hoa Văn B, do không xác định được họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.

[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Áp dụng điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điềm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Mạc Cao T;

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoa Văn B;

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Mạc Cao T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Hoa Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính:

Xử phạt Mạc Cao Thắng 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Mạc Cao T phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/9/2023.

Xử phạt bị cáo Hoa V Bạo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 21/9/2023.

3. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Mạc Cao T, Hoa Văn B, mỗi bị cáo bị phạt tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

4. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Mạc Cao T, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhăn hiệu VIVO, màu mận đỏ (không kiểm tra chất lượng máy), điện thoại cũ đã qua sử dụng có gắn 01 thẻ sim số (0328190964) của Mạc Cao T; 01 điện thoại di động nhăn hiệu NOKIA, màu đen (không kiểm tra chất lượng máy), điện thoại cũ đã qua sử dụng, có gắn 01 thẻ sim số (0354304X) của Hoa Văn B.

Truy thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng do Mạc Cao T phạm tội mà có.

Truy thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng do Hoa Văn B phạm tội mà có.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa ngày 26/01/2024.

4. Về án phí: Bị cáo Mạc Cao T, Hoa Văn B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

95
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 07/2024/HS-ST

Số hiệu:07/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về