Bản án về tội môi giới mại dâm số 67/2020/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 67/2020/HS-PT NGÀY 07/07/2020 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 07 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2020/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Trịnh Thị L, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số 07/2020/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trịnh Thị L (tên gọi khác: Trịnh Thị Thanh H); sinh năm 1978; nơi sinh và cư trú: Thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đình P và bà Lê Thị N; chồng là Nguyễn Văn K (đã ly hôn); có 01 con; tiền án , tiên sư : không; bị tạm giữ từ ngày 23/12/2019 đến ngày 26/12/2019; hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 23/12/2019, L đang ở quán thì có Nguyễn Ngọc C ở xã K, huyện H và anh Vũ Bá M ở xã A, huyện H đến quán L uống nước. Tại đây, C đặt vấn đề mua dâm, L thỏa thuận với C giá 300.000 đồng/người/lượt, C đưa cho L 400.000 đồng (trong đó 300.000 đồng tiền mua dâm; 50.000 đồng tiền thuê nhà nghỉ; 50.000 đồng tiền công trả L). L cầm tiền rồi gọi điện thoại cho S đến nhà nghỉ Q để bán dâm, S đến nhà nghỉ Q thuê phòng 207 rồi gọi điện thông báo cho L biết. Lúc này, L lấy 01 bao cao su nhãn hiệu Condom Hualei đưa cho C rồi bảo đến phòng 207 nhà nghỉ Q để mua dâm. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi C và S đang mua, bán dâm (quan hệ tình dục) thì bị Công an kiểm tra hành chính và phát hiện bắt quả tang.

Tại bản án sơ thẩm số 07/2020/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2020, Tòa án nhân dân huyện H áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử phạt Trịnh Thị L 12 tháng tù về tội Môi giới mại dâm, được trừ 03 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 27 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/4/2020 bị cáo L kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

- Bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với tội danh như cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo cung cấp biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội Môi giới mại dâm theo điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS là đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy: Tại cấp sơ thẩm bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Thấy rằng bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Tại cấp phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp trước án phí sơ thẩm, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật. Bị cáo có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo nên đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn quy định tại Điều 333 BLTTHS nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 23/12/2019, tại quán bán nước giải khát của Trịnh Thị L ở thôn N, xã C, huyện H, L đã nhận số tiền 400.000 đồng của Nguyễn Ngọc C rồi dẫn dắt cho Lê Thị S bán dâm cho C tại phòng 207 của nhà nghỉ Q ở thôn N, xã C, huyện H. Khi C và S đang mua bán dâm thì bị phát hiện bắt giữ. Tòa án nhân dân huyện H xét xử bị cáo về tội Môi giới mại dâm theo khoản 1 Điều 328 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy:

Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên tại cấp sơ thẩm được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cấp phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp trước án phí hình sự sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết tại khoản 1 Điều 51 BLHS; không có tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng; nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội nên cần chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

[3]Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Thị L; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dương.

- Áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử phạt: Bị cáo Trịnh Thị L12 (Mười hai) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 07/7/2020.

Giao bị cáo Trịnh Thị L cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Trịnh Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 07/7/2020.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

71
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội môi giới mại dâm số 67/2020/HS-PT

Số hiệu:67/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về