Bản án về tội môi giới mại dâm số 230/2022/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 230/2022/HS-ST NGÀY 19/12/2022 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 19 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 217/2022/TLST-HS ngày 02/12/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2022/QĐXXST-HS ngày 07/12/2022 đối với bị cáo:

Hà Thị M; sinh năm: 1985; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; con ông: Hà Văn P và con bà: Xa Thị M; có chồng: Lò Văn Q và có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 23/9/2022 đến ngày 02/10/2022 hủy bỏ tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh X là trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hà Nội. “Có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lò Thị T, sinh năm 1984; trú tại: thôn S, xã C, huyện Đ, Hòa Bình.

“Có mặt”.

2. Chị Bùi Thị L, sinh năm 1998; trú tại: thôn T, xã Y, huyện L, Hòa Bình. “Vắng mặt”.

3. Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1995; trú tại: Thôn V, xã C, huyện K, Hà Nội. “Vắng mặt”.

4. Anh Nguyễn Mạnh Đương, sinh năm 2000; trú tại: thôn S, xã L, huyện K, Hà Nội. “Vắng mặt”.

Người làm chứng:

Anh Trần Văn T, sinh năm 1984; trú tại: Số H, thị trấn Y, huyện K, Hà Nội. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hà Thị M quen biết xã hội với Lò Thị T và Bùi Thị L và quen biết qua mạng xã hội với Nguyễn Bá T. Khoảng 21 giờ ngày 22/9/2022, T sử dụng tài khoản zalo tên “Nguyễn T” nhắn tin vào tài khoản zalo tên “X” của M với nội dung: Trưa ngày 23/9/2022 bố trí cho hai em đi “chén nhanh” (tức quan hệ tình dục mua bán dâm). Tùng và M thỏa thuận thống nhất tiền mua dâm là 1.000.000 đồng/ người/1 lượt; 500.000 đồng tiền xe taxi và 1.000.000 đồng tiền trả công M môi giới. Sau đó, M sử dụng tài khoản zalo tên “X” nhắn tin vào tài khoản zalo của L tên “ H” để rủ Linh đi bán dâm cho khách với giá 500.000 đồng/người/lượt thì L đồng ý. Đến khoảng 11 giờ ngày 23/9/2022, M gặp và rủ T đi bán dâm cho khách với giá 500.000 đồng/người/lượt thì Thi đồng ý. Sau đó M và T thuê xe taxi đến quán cà phê số Z để gặp T và Đ. Lúc này L cũng tự mình đi đến quán cà phê. Trong lúc đang ngồi uống nước thì T đưa cho M số tiền 3.500.000 đồng gồm: 2.000.000 đồng là tiền mua dâm của T và Đ; 500.000 đồng là tiền đi xe taxi và 1.000.000 đồng là tiền công môi giới của M. Sau đó, M ngồi ở quán cà phê chờ còn T, Đ thuê nhà nghỉ H tại địa chỉ số G, thị trấn Y, huyện K, Hà Nội do anh Trần Văn T: sinh năm 1984, trú tại thôn P, xã H, huyện B, tỉnh H làm chủ để T, Đ, L, T mua bán dâm. T và T thuê phòng X còn Đ và L thuê phòng Y. Khi T và T, Đ và L đang quan hệ tình dục thì bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện K kiểm tra. Tại Cơ quan điều tra, Hà Thị M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 02 (hai) bao cao su đã qua sử dụng gồm: 01 bao cao su đã qua sử dụng thu tại phòng 104 và 01 bao cao su đã qua sử dụng thu tại phòng 102.

Thu giữ của Hà Thị M: 01 điện thoại OPPO F11 Pro bên trong lắp sim số 03521920xx và số tiền 3.500.000 đồng.

Thu giữ của Nguyễn Bá T: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S10 Plus bên trong lắp sim số 09627929xx.

Thu giữ của Bùi Thị L: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, bên trong lắp sim số 03522387xx.

Tại bản cáo trạng số 218/CT/VKS-KSĐT ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Hà Thị M về tội: “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Thị M từ 38 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 23/9 đến 02/10/2022).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su; tịch thu sung quỹ Nhà nước 3.500.000 đồng và 01 điện thoại OPPO trong lắp sim liên lạc.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại Cơ quan Điều tra, bị cáo đã ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm đoàn tụ với gia đình.

Ý kiến của người bào chữa: Đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế; thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; lần đầu phạm tội; con của bị cáo bị bệnh tim; bị cáo là lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] . Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện K, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản kiểm tra; vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Hồi 15 giờ 45 phút, ngày 23/9/2022, tại số H, thị trấn Y, huyện K, Hà Nội, bị cáo Hà Thị M nhận số tiền 3.500.000 đồng của Nguyễn Bá T để dẫn dắt cho Nguyễn Bá T, Lò Thị T, Nguyễn Mạnh Đ và Bùi Thị L thực hiện hành vi mua bán dâm để hưởng lợi. Khi T, Đ, T, L thực hiện xong hành vi mua bán dâm thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt giữ. Vì vậy bị cáo phạm tội: “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng sức khỏe con người, gây mất trật tự, trị an xã hội, gây bât bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự đây là lần đầu tiên phạm tội. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; con bị cáo bị bệnh tim quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về gia đình nuôi dạy con cái.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 bao cao su đã qua sử dụng mà Nguyễn Bá T và Nguyễn Mạnh Đ sử dụng khi mua bán dâm với Lò Thị T và Bùi Thị L không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 điện thoại OPPO F11 Pro bên trong lắp sim số 03521920xx và số tiền 3.500.000 đồng thu giữ của Hà Thị M liên quan hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

- Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S10 Plus bên trong lắp sim số 09627929xx thu giữ của Nguyễn Bá T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, bên trong lắp sim số 03522387xx thu giữ của Bùi Thị L liên quan đến việc xử lý vi phạm hành chính của Công an huyện K đã giải quyết hai chiếc điện thoại trên nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4]. Về vấn đề khác:

- Đối với hành vi của Nguyễn Bá T và Nguyễn Mạnh Đ cùng nhau góp tiền để đi mua dâm. Ngày 22/11/2022, Công an huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “mua dâm” quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt 1.500.000 đồng;

- Đối với hành vi của Lò Thị T và Bùi Thị L đồng ý đi bán dâm cho Nguyễn Bá T và Nguyễn Mạnh Đ. Ngày 22/11/2022, Công an huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “bán dâm” quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt 400.000 đồng.

Việc xử lý trên của Công an huyện K phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với anh Trần Văn T là chủ nhà nghỉ Hải Dương tại số H, thị trấn Y, K, Hà Nội cho thuê phòng nhưng không biết mục đich của Nguyễn Bá T và Nguyễn Mạnh Đ thuê để mua bán dâm với Lò Thị T và Bùi Thị L nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh Trinh.

[5]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hà Thị M phạm tội: “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Thị M 39 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 23/9/2022 đến 02/10/2022).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại OPPO F11 Pro bên trong lắp sim số 03521920xx và số tiền 3.500.000 đồng.

Toàn bộ số tài sản, vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận tài sản, vật chứng lập ngày 16/12/2022 giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K và Biên lai thu tiền số 0055197 ngày 06/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị L, anh Đ, anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

48
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội môi giới mại dâm số 230/2022/HS-ST

Số hiệu:230/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/12/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về