Bản án về tội môi giới mại dâm số 142/2021/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 142/2021/HS-ST NGÀY 18/11/2021 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 18 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, T phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1030/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 9 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 1098/2021/HSST-QĐ ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị Thanh H; Sinh ngày 09 tháng 6 năm 1970 tại T phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú và hiện cư trú tại: Số X Lô A4 chung cư Thạnh Mỹ Lợi, phường Thạnh Mỹ Lợi, T phố Thủ Đức, T phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Quản lý nhà hàng; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Con ông: Không xác định và bà Huỳnh Thanh T; Có chồng và 02 con, lớn nhất sinh năm 1993; nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 17/9/1997, bị Công an Quận Bình Thạnh, T phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Kinh doanh trái phép”, sau đó hình thức xử lý hủy bỏ tạm giữ (Thông báo trả lời tiền án, tiền sự số 1029/TB-CQĐT-ĐTTH ngày 14/4/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Bình Thạnh, T phố Hồ Chí Minh); Ngày 16/01/2016, bị Công an Quận 1, T phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Môi giới mại dâm”, Tòa án nhân dân Quận 1, T phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 02 năm (Bản án số 326/2016/HSST ngày 16/8/2016); Ngày 16/8/2018, chấp hành xong thời gian thử thách, đã được xóa án tích.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 29 tháng 3 năm 2021 đến ngày 27 tháng 4 năm 2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Phương T, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Khóm X, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)

2. Ông Phạm Anh C, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Số X Tỉnh lộ 10, Khu phố 7, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, T phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

3. Ông Bùi Quang V, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Số X Tỉnh lộ 10, Khu phố 9, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, T phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

4. Bà Huỳnh Thị Kim N, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số X đường Võ Văn Kiệt, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1, T phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

5. Bà Phan Thị Tú T, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Số X đường Bình Lợi, Phường 13, quận Bình Thạnh, T phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

6. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Số X đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 21, quận Bình Thạnh, T phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

7. Ông Trịnh Quang V, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Số X đường Nguyễn Hữu Cầu, phường Tân Định, Quận 1, T phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

8. Công ty TNHH M; Địa chỉ trụ sở: Số X đường Nguyễn Hữu Cầu, phường Tân Định, Quận 1, T phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Đại Q; Địa chỉ: Số X đường Nguyễn Hữu Cầu, phường Tân Định, Quận 1, T phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thị Thanh H là quản lý của nhà hàng “M”, số X Trần Quang Khải, phường Tân Định, Quận 1. Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 25/3/2021, Nguyễn Phương T, Phạm Anh C và Bùi Quang V đến nhà hàng “X” ăn uống và hát kaorake. Huỳnh Thị Thanh H sắp xếp khách vào phòng 6 lầu 3 cùng 03 nhân viên nữ phục vụ ngồi cùng tiếp khách gồm Huỳnh Thị Kim N, Phan Thị Tú T, Nguyễn Thị N. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, do có nhu cầu mua dâm nên C đề nghị H cho các nhân viên nữ đang ngồi ra ngoài bán dâm; H thống nhất giá bán dâm 01 nhân viên là 2.000.000 đồng/01 người/01 lần mua bán dâm và H đồng ý cho N, T và N ra ngoài bán dâm thì khách phải đưa thêm tiền công môi giới 400.000 đồng/01 người, tổng cộng là 1.200.000 đồng. Thoả thuận xong, T, C, V cùng N, T, N đến thuê khách sạn T, địa chỉ số X Nguyễn Hữu cầu, phường Tân Định, Quận 1, T phố Hồ Chí Minh để thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến khoảng 00 giờ 35 phút ngày 26/3/2021, khi T và N đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng X, C và T đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng Y, V và N đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng Z của khách sạn thì bị tổ công tác Công an thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra, phát hiện giao Công an phường Tân Định, Quận 1 lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thụ lý.

Vật chứng vụ án:

- Thu giữ của Huỳnh Thị Thanh H: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, số imei: 355376081038726; Số tiền 1.200.000 đồng;

- Thu giữ của Huỳnh Thị Kim N: 01 bao cao su hiệu Doctor Young Lovers (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu Oppo A53, số imei 1: 865822056466338, số imei 2: 865822056466320; Số tiền 2.000.000 đồng;

- Thu giữ của Phan Thị Tú T: 01 bao cao su hiệu Doctor Young Lovers (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy, số imei 1: 357105106894518, số imei 2: 357106106894516; Số tiền 2.000.000 đồng;

- Thu giữ của Nguyễn Thị N: 01 bao cao su hiệu Doctor Young Lovers (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy, số imei 1: 352808093228203, số imei 2: 352809033228201; Số tiền 2.000.000 đồng;

Bản cáo trạng số 115/CT-VKSQ1 ngày 26 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, T phố Hồ Chí Minh truy tố Huỳnh Thị Thanh H về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Huỳnh Thị Thanh H về tội “Môi giới mại dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2, khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Hình sự xử phạt Huỳnh Thị Thanh H mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, phạt bị cáo 10.000.000 đồng; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị Thanh H khai nhận đã có hành vi môi giới cho Huỳnh Thị Kim N, Phan Thị Tú T, Nguyễn Thị N bán dâm cho Nguyễn Phương T, Phạm Anh C, Bùi Quang V tại nhà hàng “M”, số X Trần Quang Khải, phường Tân Định, Quận 1 với giá bán dâm là 2.000.000 đồng/01 người/01 lần và hưởng lợi tiền công môi giới 400.000 đồng/01 người, tổng cộng 1.200.000 đồng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Môi giới mại dâm”, thuộc trường hợp môi giới đối với 02 người trở lên.

[3] Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối với bị cáo Huỳnh Thị Thanh H về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội; Bị cáo đã từng bị xử lý hình sự về tội “Môi giới mại dâm” nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh, có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ T khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 03 bao cao su hiệu Doctor Young Lovers đã qua sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy; Đối với 6.000.000 đồng là tiền do mua bán dâm và 1.200.000 đồng tiền môi giới mại dâm là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu, nộp N sách nhà nước; Trả lại cho: Huỳnh Thị Thanh H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus; Huỳnh Thị Kim N 01 điện thoại di động hiệu Oppo A53; Phan Thị Tú T 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy; Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy do không có liên quan đến vụ án.

[8] Về các vấn đề khác: Đối với khách mua dâm là Nguyễn Phương T, Phạm Anh C, Bùi Quang V và người bán dâm là Huỳnh Thị Kim N, Phan Thị Tú T, Nguyễn Thị N, Công an phường Tân Định, Quận 1 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với các ông Hoàng Đại Quang (là người đại diện theo pháp luật của khách sạn The Sun, số 19-21 Nguyễn Hữu Cầu, phường Tân Định, Quận 1) và Trịnh Quang V (là nhân viên của khách sạn The Sun) khai nhận không biết việc Nguyễn Phương T, Phạm Anh C, Bùi Quang V và Huỳnh Thị Kim N, Phan Thị Tú T, Nguyễn Thị N đến thuê phòng để thực hành vi mua bán dâm nên chưa đủ cơ sở xử lý về hành vi “Chứa mại dâm”, Ủy ban nhân dân Quận 1 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Hoàng Đại Quang là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Thanh H phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm đ khoản 2, khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Hình sự Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Thanh H 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 3 năm 2021 đến ngày 27 tháng 4 năm 2021; Phạt bị cáo 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

2. Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 03 bao cao su hiệu Doctor Young Lovers (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 71/LNK-ĐTTH ngày 02 tháng 4 năm 2021 của Công an Quận 1);

Tịch thu, nộp N sách nhà nước 7.200.000 (Bảy triệu hai trăm nghìn) đồng (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 70/LNK-ĐTTH ngày 02 tháng 4 năm 2021 của Công an Quận 1);

Trả lại cho Huỳnh Thị Thanh H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, số imei: 355376081038726;

Trả lại cho Huỳnh Thị Kim N 01 điện thoại di động hiệu Oppo A53, số imei 1: 865822056466338, số imei 2: 865822056466320;

Trả lại cho Phan Thị Tú T 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, số imei 1: 357105106894518, số imei 2: 357106106894516;

Trả lại cho Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, số imei 1: 352808093228203, số imei 2: 352809033228201.

(Theo Lệnh nhập kho đồ vật, tài liệu số 32/LNK-ĐTTH ngày 02 tháng 4 năm 2021 của Công an Quận 1)

3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Huỳnh Thị Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

83
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội môi giới mại dâm số 142/2021/HS-ST

Số hiệu:142/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 1 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/11/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về