TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
BẢN ÁN 119/2024/HS-ST NGÀY 26/06/2024 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM
Trong các ngày 21/6/2023 và 26/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. T4 Thị Mỹ L; sinh năm 1983 tại Bình Định; Nơi đăng ký HKTT: Thôn AC, xã Ân Phong, huyện HA, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Tổ 01, phường ĐĐ, TP.P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T4 Văn Ph và bà Phan Thị Ph; bị cáo có chồng là Huỳnh Khắc T, sinh năm 1993,có 03 con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012);
Tiền án: 01 lần: Ngày 27/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm tù về tội: “Chống người thi hành công vụ” (theo quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại Bản án số 73/2012/HSST. Bị cáo chưa thi hành phần án phí của Bản án này.
Tiền sự: 01 lần: Ngày 07/9/2022 vi phạm hành chính về hành vi không thực hiện thông báo về việc lưu trú từ 01 đến 03 người tại nhà nghỉ Miny số 591 PVĐ bị xử phạt: phạt tiền mức 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0025111/QĐ-XPHC ngày 12/9/2022 của Trưởng Công an phường ĐĐ - Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Đã nộp phạt.
- Hoạt động bản thân: Ngày 18/11/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 05 năm tù về tội: “Chứa mại dâm” (theo khoản 2 Điều 254 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009) tại Bản án số 11/2015/HSPT. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại Bản án số 73/2012/HSST của Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Quảng Ngãi, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 06 năm tù; chấp hành án tại Trại giam KS, Bộ Công an. Ngày 16/3/2019, chấp hành xong hình phạt tù. Lần kết án này, đã được xóa án tích.
Bị cáo T4 Thị Mỹ L bị tạm giữ từ ngày 16 đến ngày 25/10/2022, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an TP.P. Có mặt.
2. Huỳnh Khắc T; sinh năm 1993, tại Bình Định. Nơi đăng ký thường trú:
Thôn An Long 2, xã Canh Vinh, huyện VC, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Tổ 01, phường ĐĐ, TP.P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Tr và bà Đào Thị K; bị cáo có vợ là T4 Thị Mỹ L, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; Hoạt động bản thân:
- Ngày 28/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện VC, tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” (theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009) và 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009), buộc chấp hành hình phạt chung là 02 năm tù, tại Bản án số 15/2012/HSST; chấp hành án tại Trại giam KS, Bộ Công an. Ngày 14/5/2014, chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 08/9/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố QN, tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại Bản án số 93/2017/HSST; chấp hành án tại Trại giam XP, Bộ Công an. Ngày 27/3/2019, chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 18/10/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại Bản án số 115/2017/HSPT; chấp hành án tại Trại giam XP, Bộ Công an. Ngày 27/3/2019, chấp hành xong hình phạt tù.
Các lần kết án này, bị cáo đã được xóa án tích.
Bị caó Huỳnh Khắc T bị tạm giữ từ ngày 16 đến ngày 25/10/2022, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an TP.P. Có mặt.
3. Lê Thanh Tm; sinh ngày 24/11/2004 tại Gia Lai; Nơi đăng ký HKTT: và chỗ ở: Thôn 5, xã NH, huyện CP, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CMND: 230605086 con ông Lê Thanh Tr và bà Huỳnh Thị A; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không. Tiền án: Không.
Hoạt động bản thân: Ngày 19/10/2023, bị Tòa án nhân dân huyệnIG, tỉnh Gia Lai xử phạt 15 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” (theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại Bản án 43/2023/HSST.
Bị cáo Lê Thanh Tm bị tạm giữ từ ngày 16 đến ngày 25/10/2022, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Đến ngày 11/01/2024 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh (để chữa bệnh). Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
Những người tham gia tố tụng:
- Người phiên dịch: Bà Nay H’Yan; Nơi công tác: Ủy ban nhân dân xã An Phú, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người bị hại:
Chị Rơ CY - sinhh năm: 2003; Nơi cư trú: Làng MJ, xã Ia O, huyện IG, tỉnh Gia Lai. Có mặt;
Chị Ksor HP (tên gọi khác M) - sinh năm: 2004; Nơi cư trú: Làng TĐ, xã D, huyện Chư P, tỉnh Gia Lai. Có mặt Chị Ksor Phh (tên gọi khác T, S) - sinh năm: 1999; Nơi cư trú: Làng MJ, xã Ia O, huyện IG, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Ksor G (tên gọi khác Th) - sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Làng Băng, xã Ia O, huyện IG, tỉnh Gia Lai. Có mặt Ông Tăng Bá T - sinh năm: 1952; Nơi cư trú: Tổ 3, phường ĐĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Xuân Trg - sinh năm: 1957; Nơi cư trú: Tổ 1, phường ĐĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Bà Huỳnh Thị Thanh Ng - sinh năm: 1981; Nơi cư trú: Tổ 1, phường ĐĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Ông Phạm Văn C - sinh năm: 1977; Nơi cư trú: Tổ 1, phường TN, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Trg - sinh năm: 1978; Nơi cư trú: Thôn 7, xã Ia T, huyện Ia H’D, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
T4 Thị Mỹ L và Huỳnh Khắc T có quan hệ vợ chồng; L và T có quen biết Lê Thanh Tm. Ngày 17/3/2022, L và T thuê nhà nghỉ Miny tại số 591/3 đường PVĐ, Tổ 01, phường ĐĐ, TP.P của bà Huỳnh Thị Thanh Nga (sinh năm 1981, trú tại Tổ 01, phường TN, TP.P) để ở và kinh doanh lưu trú. L thuê Ksor H’P (tên thường gọi là M, sinh ngày 20/10/2004, trú làng T Đ, xã Ia Đ, huyện Chư P, tỉnh Gia Lai) làm nhân viên dọn dẹp phòng và ở tại nhà nghỉ.
Quá trình kinh doanh lưu trú tại nhà nghỉ Miny, do có nhiều khách đến thuê phòng có nhu cầu mua dâm nên L và T nảy sinh ý định môi giới mại dâm, chứa mại dâm để thu lợi. L và T tuyển 03 gái bán dâm gồm: Rơ CY (sinh năm 2003), Ksor Phh (tên thường gọi là Thi hoặc Sẻ, sinh năm 1999) cùng trú làng MJ, xã Ia O, huyện IG, tỉnh Gia Lai và Ksor G (tên thường gọi là Thư, sinh năm 1997, trú làng Băng, xã Ia O, huyện IG, tỉnh Gia Lai) đến ở tại nhà nghỉ Miny để bán dâm cho khách theo sự điều hành của L và T. Quá trình làm nhân viên dọn dẹp phòng, Ksor H’P cũng bán dâm khi có khách. P6 bắt đầu đến nhà nghỉ Miny để ở và bán dâm từ ngày 13/7/2022; P5 đến nhà nghỉ Miny để ở và bán dâm từ tháng 8/2022 (không xác định được ngày); G đến nhà nghỉ Miny để ở và bán dâm từ ngày 10/9/2022. Trong khoảng thời gian từ ngày 13/7/2022 đến ngày 26/9/2022, khi có khách đến nhà nghỉ Miny mua dâm, L hoặc T sẽ thỏa thuận mức giá từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/lần, nhận tiền của khách trước, rồi gọi P6, P5, H’P hoặc G vào phòng để bán dâm. Tiền thu được, L cất giữ để chi phí ăn uống cho các gái bán dâm và tiêu xài.
Quá trình ở và bán dâm tại nhà nghỉ Miny, do không được T4 Thị Mỹ L trả tiền đầy đủ, nên ngày 27/9/2022 Ksor Phh, Rơ CY và Ksor H’P rủ nhau bỏ trốn. P5 trốn về nhà tại làng M J, xã Ia O, huyện IG, tỉnh Gia Lai; P6 và H’P đến làm nhân viên tại quán Karaoke của ông Nguyễn Văn Tr (sinh năm 1978) ở Thôn 7, xã IT, huyện Ia H’, tỉnh Kon Tum. Sau khi P5, P6 và H’P bỏ trốn, L và Huỳnh Khắc T bàn bạc với nhau về việc đi tìm bắt lại, nhằm tiếp tục ép buộc P5, P6 và H’P bán dâm để thu lợi. T cung cấp số điện thoại di động của P5, P6, H’P cho đối tượng tên Tý (chưa xác định được họ tên, địa chỉ, làm nghề lái xe ô tô dịch vụ) và nhờ Tý truy tìm. Tý sử dụng mạng xã hội để liên lạc thì tìm được thông tin về nơi ở của P5, P6 và H’P. Khoảng 17 giờ ngày 07/10/2022, Tý điều khiển xe ô tô (xe của Tý, chưa xác định được nhãn hiệu, biển số) chở T và đối tượng tên Thủy (chưa xác định được nhân thân, địa chỉ - là bạn của Tý) đến khu nhà mồ ở làng MJ, xã Ia O, huyện IG, tỉnh Gia Lai để bắt P5. Khi đến nơi, T xuống xe trốn vào bụi cây bên đường; Tý giả vờ gọi điện thoại rủ P5 đến để Tý chở đi chơi. Khi P5 đến ngồi lên xe ô tô của Tý, thì T nhanh chóng vào ngồi cạnh và đe dọa: “Ngồi im không tao đánh”. Lúc này, P5 bị T và Thủy ép ngồi giữa, đồng thời bị đe doạ nên không dám phản ứng gì. Sau đó, T đưa P5 đến nhốt trong căn nhà ở hẻm đường , làng Kép, phường ĐĐ, TP.P; đây là nhà do T thuê vào ngày 25/9/2022 của ông Nguyễn Xuân T4 (sinh năm 1957, trú tại Tổ 01, phường ĐĐ, TP.P). Khoảng 21 giờ ngày 07/10/2022, T điều khiển xe ô tô biển số 73A-175xx, Tý điều khiển xe ô tô của Tý chở L, Thủy và đối tượng tên Bưu (chưa xác định được nhân thân, địa chỉ - là người quen của T) đến quán Karaoke của ông Nguyễn Văn T3 ở Thôn 7, xã Ia Tơi, huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum để tìm bắt P6 và H’P. Khi đến nơi, L nói với ông T3: P6 và H’P là nhân viên của L, nợ tiền L rồi bỏ trốn nên L phải bắt về, đề nghị ông T3 thông cảm. Ngay sau đó, Bưu và Tý ép P6 và H’P lên xe ô tô rồi chở về TP.P nhốt vào căn nhà ở hẻm đường cùng với P5. Ngôi nhà hẻm đường gồm 02 phòng ở và khu vực nhà vệ sinh, được xây khép kín, chỉ có 01 cửa ra vào phía trước; sân trước được bao quanh bằng tường gạch xây cao 2,2m. Sau khi bị bắt về, P6, H’P và P5 bị T, L khóa cửa nhốt trong nhà; hàng ngày, T hoặc L sẽ đưa đồ ăn đến.
Sau khi bắt được Ksor Phh, Rơ CY, Ksor H’P và nhốt vào ngôi nhà ở hẻm đường , làng Kép, phường ĐĐ, TP.P, Huỳnh Khắc T trực tiếp cáoh giữ và cùng với T4 Thị Mỹ L đe doạ, ép buộc P5, P6, H’P tiếp tục bán dâm tại các nhà nghỉ trên địa bàn phường ĐĐ, TP.P theo sự điều hành của L và T. Trưa ngày 14/10/2022, Lê Thanh Tm đến nhà nghỉ Miny xin việc, thì được L dẫn đến căn nhà nơi L và T đang giữ P5, P6, H’P. L và T giao cho Tm cáoh giữ và chở P5, P6, H’P đi bán dâm; L và T sẽ trả tiền công cho Tm 3.000.000 đồng/tháng, xe mô tô do L và T cung cấp, thì Tm đồng ý. T giao chìa khóa nhà cho Tm, căn dặn Tm về việc khoá cửa, cáoh giữ và chở P5, P6, H’P đi bán dâm theo sự điều hành của L và T.
Trong các ngày 14 và 15/10/2022, T4 Thị Mỹ L nhận được nhiều cuộc điện thoại của khách hỏi mua dâm (không xác định được là ai). L thỏa thuận giá mỗi lần mua dâm là 100.000 đồng, địa điểm mua bán dâm là tại các nhà nghỉ Bình Yên 1, Bình Yên 2, ở Tổ 3, phường ĐĐ, TP.P; tiền phòng do khách mua dâm trả. Sau khi thoả thuận với khách mua dâm, L gọi T hoặc Tm chở P5, P6, H’P đến nhà nghỉ Bình Yên 1, Bình Yên 2 để bán dâm. Cụ thể như sau:
Tối ngày 14/10/2022, Tm sử dụng xe mô tô biển số 81X1-033.xx chở H’P đến nhà nghỉ Bình Yên 1 bán dâm 01 lần; chở P6 đến nhà nghỉ Bình Yên 2 bán dâm 01 lần; chở P5 đến nhà nghỉ Bình Yên 2 bán dâm 01 lần; T sử dụng xe mô tô biển số 81X1-033.xx chở H’P đến nhà nghỉ Bình Yên 2 bán dâm 01 lần. Tổng số tiền môi giới mại dâm thu được trong ngày 14/10/2022 là 400.000 đồng, T giữ để tiêu xài.
Tối ngày 15/10/2022, T sử dụng xe mô tô biển số 81X1-033.xx chở P6 đến nhà nghỉ Bình Yên 1 bán dâm 01 lần; sau đó, T chở cả P6 và H’P đến nhà nghỉ Bình Yên 1 để cả hai bán dâm cùng lúc (mỗi người 01 lần). Tổng số tiền môi giới mại dâm thu được trong ngày 15/10/2022 là 300.000 đồng, T giữ để tiêu xài.
Tối ngày 15/10/2022, Rơ CY gọi điện thoại thông báo cho bà Rơ Châm Sao (sinh năm 1967, trú làng M J, xã Ia O, huyện IG, tỉnh Gia Lai - là mẹ của P6) biết về việc đang bị bắt giữ, ép đi bán dâm tại phường ĐĐ, TP.P. Ngày 16/10/2022, bà Sao đến Công an phường ĐĐ trình báo vụ việc. Ngay sau đó, Công an phường ĐĐ kiểm tra thì phát hiện, bắt quả tang Lê Thanh Tm đang giữ P5, P6 và H’P trong căn nhà tại hẻm đường . Sau khi biết Tm bị bắt, cùng ngày 16/10/2022, L và T đến Công an phường ĐĐ đầu thú. Vụ việc sau đó được Công an phường ĐĐ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.P xử lý.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.P đã trưng cầu giám định để xác định chính xác độ tuổi của Ksor H’P. Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 1950 ngày 28/9/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP.Đà Nẵng, xác định: Độ tuổi của Ksor H’P tại thời điểm giám định (tháng 9 năm 2023) là từ 18 năm đến 19 năm. Căn cứ kết quả điều tra, kết quả giám định và quy định tại Điều 6 của Thông tư liên tịch số 06/2018 ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, thì xác định tại thời điểm tháng 10/2022, H’P là người dưới 18 tuổi.
Quá trình điều tra vụ án, Ksor Phh, Rơ CY, Ksor H’P và Ksor G đều khai nhận: Trong thời gian ở tại nhà nghỉ Miny của T4 Thị Mỹ L và Huỳnh Khắc T, bản thân đã nhiều lần bán dâm tại nhà nghỉ theo sự điều hành của L và T. Tuy nhiên, H’P, P5, P6, Guih đều không nhớ chính xác số lần bán dâm và cũng không xác định được có hay không có việc cả 04 người cùng bán dâm tại một thời điểm. T không thừa nhận hành vi chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny cùng với L; L thừa nhận T có biết hoạt động mại dâm tại nhà nghỉ Miny, nhưng T không tham gia. Mặc dù T không thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng căn cứ mối quan hệ vợ chồng giữa T và L, căn cứ lời khai của các gái bán dâm, thì có cơ sở xác định T đã cùng với L thực hiện hành vi chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny trong thời gian từ tháng 7 đến cuối tháng 9/2022. Đối với L, khai nhận đã chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny khoảng 08 lần, thu lợi được 800.000 đồng; số tiền này, L đã tiêu xài hết. Do không thu thập được chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan điều tra xác định số lần L chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny, như lời khai của L nêu trên.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố T4 Thị Mỹ L và Huỳnh Khắc T về các tội: “Chứa mại dâm” theo các điểm c, đ khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự, tội “Môi giới mại dâm” theo các điểm a, d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự và tội “Giữ người trái pháp luật” theo các điểm d, đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự; Lê Thanh Tm về tội: “Môi giới mại dâm” các điểm a, d khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự, và tội “Giữ người trái pháp luật” theo các điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Đối với bị cáo T4 Thị Mỹ L :
+ Áp dụng các điểm c, đ khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
+ Áp dụng các điểm a, d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.
+ Áp dụng các điểm d, đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 03 tội danh.
- Đối với bị cáo Huỳnh Khắc T:
+ Áp dụng các điểm c, đ khoản 2 Điều 327; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.
+ Áp dụng các điểm a, d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo mức án từ 04 năm đến 05 năm tù.
+ Áp dụng các điểm d, đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.
+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 03 tội danh.
- Đối với bị cáo Lê Thanh Tm:
+ Áp dụng các điểm a, d khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo mức án từ 02 năm 06 đến 03 năm tù.
+ Áp dụng điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội danh.
+ Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại Bản án số 43/2023/HSST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện IG, tỉnh Gia Lai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.
* Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên đề xuất không phạt bổ sung.
* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc thỏa thuận bồi thường tại phiên tòa, T4 Thị Mỹ L và Huỳnh Khắc T bồi thường cho những người bị hại: Ksor Phh, Rơ CY, Ksor H’P mỗi người 5.000.000 đồng.
* Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa:
Các bị cáo T4 Thị Mỹ L và Lê Thanh Tm đều thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
Riêng bị cáo Huỳnh Khắc T thừa nhận hành vi môi giới mại dâm và bắt giữ người trái pháp luật; không thừa nhận hành vi chứa mại dâm. Bị cáo khai có sắp xếp việc thuê người làm việc cho T4 Thị Mỹ L, biết việc L chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny nhưng không đồng ý, không tham gia cùng L; T có tham gia đưa các gái bán dâm đi đến những nhà nghỉ khác để bán dâm nhưng không điều hành việc bán dâm tại nơi ở, không liên quan đến việc chứa mại dâm do L thực hiện, nên T không phạm tội chứa mại dâm như Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận lỗi sai, xin giảm nhẹ hình phạt.
* Ý kiến của người tham gia tố tụng:
Các chị Ksor Phh, Rơ CY, Ksor H’P và Ksor G đều khai nhận các nội dung như Cáo trạng và thừa nhận trong thời gian ở tại nhà nghỉ Miny của T4 Thị Mỹ L và Huỳnh Khắc T, bản thân đã nhiều lần bán dâm tại nhà nghỉ theo sự điều hành của L và T. Tuy nhiên, H’P, P5, P6, Guih đều không nhớ chính xác số lần bán dâm, số người mua dâm tại một thời điểm.
Những người bị hại: Ksor Phh, Rơ CY, Ksor H’P đều đồng ý nhận tiền bồi thường mỗi người 5.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như lời khai của những người bị hại, người liên quan, người làm chứng, biên bản khám xét và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Về độ tuổi của Ksor H’P: Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 1950 ngày 28/9/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP.Đà Nẵng, xác định: Độ tuổi của Ksor H’P tại thời điểm giám định (tháng 9 năm 2023) là từ 18 năm đến 19 năm. Căn cứ kết quả điều tra, kết quả giám định và quy định tại Điều 6 của Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, thì xác định tại thời điểm tháng 10/2022, H’P là người dưới 18 tuổi.
Về hành vi chứa mại dâm: Các gái bán dâm H’P, P5, P6, Guih đều không nhớ chính xác số lần bán dâm và số người cùng bán dâm tại một thời điểm. T không thừa nhận hành vi chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny cùng với L; L thừa nhận T có biết hoạt động mại dâm tại nhà nghỉ Miny, nhưng L khai T không tham gia. Mặc dù T không thừa nhận hành vi chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny, nhưng căn cứ mối quan hệ vợ chồng giữa T và L, căn cứ lời khai của các gái bán dâm thì thấy rằng: Giữa L, T và các gái bán dâm không có mâu thuẫn, lời khai của các gái bán dâm không nhằm mục đích đổ lỗi cho T mà chỉ là trình bày sự việc có liên quan đến T. Theo đó thì Trong thời gian ở tại nhà nghỉ Miny của T4 Thị Mỹ L và Huỳnh Khắc T, các gái bán dâm đã nhiều lần bán dâm tại nhà nghỉ theo sự điều hành của L và T. Ngoài lời khai của các gái bán dâm, bản thân T cũng thừa nhận thừa nhận biết và tham gia việc chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny (Biên bản hỏi cung ngày 26/10/2022 -bút lục số 85); Điều này phù hợp với lời khai của T và L về việc L không biết chữ nên toàn bộ công việc liên quan đến người làm thuê: hợp đồng lao động, cách thức làm việc, kiểm tra nhân thân, ký hợp đồng lao động ...... đều do T thực hiện; lời khai của L, T và các gái bán dâm không bị ép cung hoặc mớm cung. Việc T chối tội là hành vi quanh co nhằm phủ nhận về tội phạm mà bị cáo đã thực hiện.
Do vậy, đủ căn cứ để xác định T đã cùng với L thực hiện hành vi chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny trong thời gian từ tháng 7 đến cuối tháng 9/2022. T4 Thị Mỹ L và Huỳnh Khắc T đã dùng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để chứa mại dâm nhiều lần, trong đó có người bán dâm dưới 18 tuổi nhằm thu lợi nên đã phạm vào các tình tiết định khung: “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi”, quy định tại các điểm c, đ khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự Hành vi cung cấp gái bán dâm, sắp xếp, điều hành để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm, nhằm thu lợi do T4 Thị Mỹ L, Huỳnh Khắc T và Lê Thanh Tm đã phạm vào tội: “Môi giới mại dâm” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 328 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo L, T và Tm môi giới mại dâm nhiều lần, trong đó có người bán dâm dưới 18 tuổi, nên đã phạm vào các tình tiết định khung: “Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” và “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại các điểm a, d khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo L và T còn môi giới mại dâm đối với 02 người bán dâm cùng lúc, nên đã phạm vào tình tiết định khung: “Đối với 02 người trở lên”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Hành vi dùng vũ lực để bắt người khác, sau đó nhốt và cử người canh giữ, do các bị cáo T4 Thị Mỹ L và Huỳnh Khắc T thực hiện đã phạm tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”, được quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo L và T thực hiện hành vi bắt người 02 lần, bắt - giữ đối với 03 người, trong đó có người dưới 18 tuổi, nên thuộc tình tiết định khung: “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người dưới 18 tuổi”, theo quy định tại các điểm d, đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Hành vi nhốt, canh giữ người trái pháp luật do bị cáo Lê Thanh Tm thực hiện đã phạm tội: “Giữ người trái pháp luật”, được quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tm phạm tội đối với 03 người, trong đó có người dưới 18 tuổi, nên thuộc tình tiết định khung: “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người dưới 18 tuổi”, theo quy định tại các điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Trật tự công cộng và quyền tự do của công dân luôn được pháp luật bảo vê, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đều phải bị nghiêm trị. Hành vi chứa và môi giới mại dâm do các bị cáo thực hiện vi phạm trật tự công cộng, tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh, hủy hoại nhân cách con người, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho nhiều gia đình, cá nhân, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, lan truyền nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm. Hành vi dùng vũ lực để bắt người khác, sau đó nhốt và cử người canh giữ, do các bị cáo thực hiện như nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền tự do của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự trị an xã hội.
Vụ án có nhiều người thực hiện tội phạm, ở mức đồng phạm giản đơn: L là người khởi xướng và cùng với T trực tiếp thực hành các tội phạm: “Chứa mại dâm”, “Môi giới mại dâm” và “Bắt, giữ người trái pháp luật”; Tm là người thực hành các tội phạm: “Giữ người trái pháp luật”, “Môi giới mại dâm” theo sự chỉ đạo của L và T. Mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà từng bị cáo thực hiện là khác nhau nên cần xem xét để quyết định hình phạt cho tương xứng.
[4]. Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo thì thấy rằng: Bản thân các bị cáo nhận thức được hành vi, biết pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo vi phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm quyền tự do của công dân. Do đó, cần quyết định cho các bị cáo tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo bản thân là cần thiết.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P không xác định bị cáo T4 Thị Mỹ L có tiền sự, nhưng chứng cứ tại hồ sơ thể hiện: Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nộp phạt tháng 9/2022, tính đến thời điểm thực hiện các hành vi phạm tội tháng 10/2022 là chưa hết thời hạn được xóa vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính nên bị cáo thuộc trường hợp là người có tiền sự.
Các bị cáo T4 Thị Mỹ L và Huỳnh Khắc T có nhân thân rất xấu: từng bị kết án về các tội phạm do cố ý, phạm nhiều tội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng và rất nghiêm trọng; L và T xúi giục Lê Thanh Tm là người dưới 18 tuổi phạm các tội: “Giữ người trái pháp luật” và “Môi giới mại dâm”; riêng L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Sau khi thực hiện tội phạm, L và T đã ra đầu thú; quá trình điều tra đã tác động gia đình nộp tiền để khắc phục một phần hậu quả. Quá trình điều tra, truy tố vụ án, L và T đã thành khẩn khai báo đối với các hành vi phạm tội “Môi giới mại dâm” và “Bắt, giữ người trái pháp luật”, nhưng chưa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội “Chứa mại dâm” của T.
Đối với bị cáo Lê Thanh Tm đã thành khẩn khai báo về các hành vi của bản thân, đồng phạm và thể hiện thái độ ăn năn hối cải; phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhưng phạm nhiều tội và đều thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo đã bị xử phạt tội phạm khác trong thời gian tạm giam nên bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt tù chưa chấp hành của Bản án số 43/2023/HSST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện IG, tỉnh Gia Lai theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Các tình tiết trên được xem xét tương ứng khi quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo.
[5]. Về dân sự: những người bị hại Ksor Phh, Rơ CY, Ksor H’P mỗi người yêu cầu bồi thường 5.000.000 đồng; bị cáo T4 Thị Mỹ L, Huỳnh Khắc T đồng ý; Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.
Đối với L, khai nhận đã chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny khoảng 08 lần, thu lợi được 800.000 đồng; T môi giới mại dâm thu lợi 700.000 đồng; số tiền này, L và T đã tiêu xài hết nên cần buộc L và T phải nộp lại để sung công quỹ Nhà nước.
Quá trình điều tra vụ án, Ksor H’P khai ngoài chứa mại dâm tại nhà nghỉ Miny, thì T4 Thị Mỹ L còn thực hiện hành vi chứa mại dâm tại nhà quán cà phê Tường Vy (số 12 đường LĐH, Tổ 7, phường TN, TP.P), nhưng H’P không nhớ rõ thời gian. Tuy nhiên, L không thừa nhận về việc này. Ngoài lời khai, H’P không cung cấp được chứng cứ gì khác và Cơ quan điều tra cũng không thu thập được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh, nên không cơ sở để kết luận hành vi của L, theo lời khai của H’P. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, làm rõ về nội dung này, nếu có căn cứ sẽ xem xét và xử lý sau.
Xe mô tô biển số 81X1-033.xx và xe ô tô biển số 73A-175xx qua điều tra xác định là tài sản của ông Phạm Văn Cường, Huỳnh Khắc T thuê các xe trên của ông Cường để làm phương tiện đi lại. Quá trình cho T thuê xe, ông Cường không biết việc T sử dụng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi môi giới mại dâm. Do vậy, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe mô tô và ô tô nêu trên cho ông Cường là phù hợp.
Đối với điện thoại di động T4 Thị Mỹ L đã sử dụng liên lạc khi thực hiện hành vi môi giới mại dâm, khi ra đầu thú L khai đã làm mất nên Cơ quan điều tra không giữ được.
[8] Xử lý vật chứng:
- 02 điện thoại di động hiệu Iphone thu giữ của Lê Thanh Tm và Huỳnh Khắc T: là công cụ Tm và T sử dụng để liên lạc với T4 Thị Mỹ L trong quá trình thực hiện hành vi môi giới mại dâm cần tịch thu sung công.
- Ổ khóa màu đen hiệu Việt Tiệp là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 15.000.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: trả tiền bồi thường cho các bị hại: Ksor Phh, Rơ CY, Ksor H’P: mỗi người 5.000.000 đồng theo thỏa thuận của những người bị hại và các bị cáo.
[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường vì đã thỏa thuận được với người bị hại về việc bồi thường thiệt hại và đã nộp đủ tiền bồi thường trước khi mở phiên tòa (theo điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo T4 Thị Mỹ L, Huỳnh Khắc T phạm tội “Chứa mại dâm”, “Môi giới mại dâm” và “Bắt, giữ người trái pháp luật”;
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Tm phạm tội “Môi giới mại dâm” và “Giữ người trái pháp luật” .
- Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 327; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo T4 Thị Mỹ L 07 (bảy) năm 06 tháng tù về tội “Chứa mại dâm ” Áp dụng điểm a, d, đ khoản 2 Điều 328; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo T4 Thị Mỹ L 05 (năm) năm tù về tội “Môi giới mại dâm ”.
Áp dụng điểm d, đ, e khoản 2 Điều 157 Điều 38; Điều 50; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo T4 Thị Mỹ L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo T4 Thị Mỹ L phải chấp hành hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2022.
- Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 327; Điều 38; Điều 50; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Huỳnh Khắc T 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa mại dâm ”.
Áp dụng điểm a, d, đ khoản 2 Điều 328; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Khắc T 05 (năm) năm tù về tội “Môi giới mại dâm”.
Áp dụng điểm d, đ,e khoản 2 Điều 157 Điều 38; Điều 50; Điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Huỳnh Khắc T 04 (bốn) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Khắc T phải chấp hành hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2022.
- Áp dụng; Điểm a, d Khoản 2 Điều 328; Điểm đ,e Khoản 2 Điều 157; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt Lê Thanh Tm 02 (hai) năm 06 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm ” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt buộc Lê Thanh Tm phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (bốn) năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại Bản án số 43/2023/HSST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện IG, tỉnh Gia Lai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ thi ngày hành án, được trừ thời giam tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2022 đến ngày 11/01/2024.
Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính: T4 Thị Mỹ L nộp 800.000 đồng, Huỳnh Khắc T nộp 700.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01(một) ổ khóa màu đen hiệu Việt Tiệp (cũ đã qua sử dụng).
+ Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone có ốp nhựa màu trắng trong, có in hoa văn màu vàng (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong) + Số tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Trả cho các bị hại: Ksor Phh, Rơ CY, Ksor H’P mỗi người được nhận 5.000.000 đồng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P) - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH:
Buộc các bị cáo T4 Thị Mỹ L, Huỳnh Khắc T và Lê Thanh Tm mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội môi giới mại dâm số 119/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 119/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 26/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về