Bản án về tội môi giới mại dâm số 09/2025/HS-ST ngày 09/01/2025

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 09/2025/HS-ST NGÀY 09/01/2025 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 292/2024/HS- ST ngày 05/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 309/2024/QĐXXST - HS ngày 23/12/2024 đối với:

Bị cáo: TTT, SN: 1999; Nơi cư trú: xóm B 1, thôn B, xã MT, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông THT và bà NTN; Gia đình có 03 chị em; Bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Chưa; tạm giữ ngày 02/10/2024, huỷ bỏ tạm giữ ngày 09/10/2024; Bị cáo tại ngoại. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị NTTH, sinh năm 1997; HKTT: Khu AK, ĐL, HA, Hải Phòng; Nơi ở hiện tại: Số 6 PTD, MD, CG, Hà Nội. Có mặt.

- Anh LTĐ, sinh năm 2004; HKTT: TP, Thị trấn TT, Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h00 ngày 01/10/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự phối hợp với Đội Quản lý hành chính - Công an quận Thanh Xuân và Công an phường NC kiểm tra hành chính tại khách sạn Suji số 78-80 ngõ 116 NH, NC, Thanh Xuân, Hà Nội phát hiện tại phòng 402 có NTTH và LTĐ đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Tổ công tác đã đưa H và Đ về trụ sở để làm rõ sự việc, qua đó đã xác định:

Khoảng 18h00 ngày 01/10/2024, LTĐ cùng 02 người bạn là LAT và 01 nam giới tên T chưa rõ lý lịch đến quán Bia Tự Do số 201 NT, NC, TX, Hà Nội để uống bia. Cả ba ngồi uống bia đến khoảng 19h00 cùng ngày thì Tuấn gọi cho một nữ giới làm công việc “tiếp rượu” là TTT đến quán. Trong lúc ngồi ăn, Đ xin số điện thoại và kết bạn qua Zalo với Tâm, sau đó Đ nhắn tin nhờ Tâm tìm cho Đ 01 gái bán dâm. Tâm nhắn tin Zalo cho NTTH báo có khách muốn mua dâm và xin ảnh của H để gửi cho Đ. Sau khi xem ảnh, Đ đồng ý mua dâm. Tâm thỏa thuận với Đ giá mua dâm H là 4.000.000 đồng. Khoảng 20h00 cùng ngày, H đến quán bia Tự Do, lúc này Đ đưa cho Tâm 4.500.000 đồng (gồm tiền mua dâm H là 4.000.000 đồng và tiền công môi giới của Tâm là 500.000 đồng). Sau đó Đ bắt xe taxi cùng H đến khách sạn Suji số 78-80 ngõ 116 NH, NC, Thanh Xuân, Hà Nội để quan hệ tình dục. Trước khi quan hệ, H đã đưa cho Đ 01 bao cao su để sử dụng. Khi Đ và H đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện và đưa về trụ sở công an để làm rõ.

Tang vật thu giữ gồm:

Thu giữ của NTTH: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su in nhãn hiệu “SLM 001”; 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu trắng, dung lượng 256 GB, số Imei: 350091878683155, lắp sim số: 07952142xx, đã qua sử dụng; Số tiền 4.000.000đồng.

Thu giữ của LTĐ: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng, dung lượng 64 Gb, số Imei: 352062066440748, đã qua sử dụng, bên trong không lắp sim.

Thu giữ của TTT: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, dung lượng 256Gb, số Imei1: 352604707731090, Imei2: 352604707933191, lắp sim số: 03573192xx; Số tiền 500.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, TTT khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Quá trình trao đổi, thỏa thuận mua bán dâm, Tâm nhắn tin riêng với Đ và H. Sau khi nhận được số tiền 4.500.000 đồng của Đ, Tâm đã sử dụng tài khoản số 26129911xx - Ngân hàng Techcombank mang tên TTT để chuyển khoản 4.000.000 đồng đến tài khoản số 190325470706xx - Ngân hàng Techcombank mang tên NTTH, Tâm giữ lại số tiền 500.000 đồng hưởng lợi.

Đối với LAT, T và Đ cùng ngồi uống bia với nhau, sau đó Tuấn có gọi một nữ giới tên Nhung (tại cơ quan công an được biết tên là TTT) đến uống bia cùng. Tuấn thấy Đ nói chuyện với Tâm nhưng không biết nội dung gì. Tuấn không biết việc Tâm thỏa thuận môi giới cho Đ và H mua bán dâm, do đó Cơ quan CSĐT – Công an quận Thanh Xuân không có căn cứ để xử lý Tuấn.

Đối với LTĐ và NTTH có hành vi mua bán dâm, Công an quận Thanh Xuân đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Đ và H đã thực hiện nghĩa vụ nộp phạt xong.

Đối với khách sạn Suji, sau khi phát hiện NTTH và LTĐ có hành vi mua bán dâm đã kịp thời báo cáo cơ quan công an nên không xử lý đối với khách sạn trên.

Bản cáo trạng số 276/CT - VKSTT ngày 29/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo TTT về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

* Bị cáo TTT thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo cơ hội sửa chữa sai lầm và làm lại cuộc đời.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị H xác nhận có sử dụng điện thoại 15 Promax màu trắng liên lạc trao đổi với bị cáo Tâm để mua bán dâm tuy nhiên chị đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị 01 điện thoại 15 Promax màu trắng.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 đến 12 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”;

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về tang vật: Tịch thu sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, dung lượng 256Gb, số Imei1: 352604707731090, Imei2: 352604707933191, đã qua sử dụng thu của Tâm; 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 6 Plus màu vàng, dung lượng 64 Gb, số imei 352062066440748, không lắp sim đã qua sử dụng thu của Đ; 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu trắng, dung lượng 25Gb, số imei 350091878683155, đã qua sử dụng thu của H.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su in nhãn hiệu “SLM 001”; sim số: 03573192xx và sim số 07952142xx.

Sung quỹ Nhà nước số tiền 4.500.000 đồng gồm 500.000 đồng thu của bị cáo Tâm và 4.000.000 đồng thu của H.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của NTTH và LTĐ, phù hợp với các vật chứng thu được, lời khai người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 01/10/2024 TTT có hành vi môi giới mại dâm cho LTĐ và NTTH mua bán dâm tại khách sạn Suji số 78-80 ngõ 116 NH, NC, Thanh Xuân, Hà Nội để hưởng lợi 500.000đồng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống lành mạnh văn minh trong sinh hoạt chung của xã hội, là tác nhân làm lây truyền nhiều bệnh xã hội nguy hiểm. Do đó cần xử bị cáo với mức án nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i, s khoàn 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.

[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng của vụ án:

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, dung lượng 256Gb, số Imei1: 352604707731090, Imei2: 352604707933191, đã qua sử dụng thu của bị cáo Tâm;

01 điện thoại nhãn hiệu iphone 6 Plus màu vàng, dung lượng 64 Gb, số imei 352062066440748, không lắp sim đã qua sử dụng thu của Đ; 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu trắng, dung lượng 25Gb, số imei 350091878683155, đã qua sử dụng thu của H dùng vào việc liên lạc trao đổi môi giới mại dâm nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su in nhãn hiệu “SLM 001”; sim số: 03573192xx và sim số 07952142xx.

Sung quỹ Nhà nước số tiền 4.500.000 đồng gồm 500.000 đồng thu của bị cáo Tâm và 4.000.000 đồng thu của H là tiền do phạm tội mà có.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo TTT phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng: - Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Điều 47, Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự - Các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo TTT 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày huỷ bỏ tạm giữ ngày 09/10/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, dung lượng 256Gb, số Imei1: 352604707731090, Imei2: 352604707933191, đã qua sử dụng thu của bị cáo Tâm; 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 6 Plus màu vàng, dung lượng 64 Gb, số imei 352062066440748, không lắp sim đã qua sử dụng thu của Đ; 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu trắng, dung lượng 25Gb, số imei 350091878683155, đã qua sử dụng thu của H.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su in nhãn hiệu “SLM 001”; sim số: 03573192xx và sim số 07952142xx.

- Sung quỹ Nhà nước số tiền 4.500.000 đồng gồm 500.000 đồng thu của bị cáo Tâm và 4.000.000 đồng thu của H là tiền do phạm tội mà có.

Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân và Uỷ nhiệm chi ngày 17/12/2024.

Về án phí: Bị cáo TTT phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo TTT có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong hạn 15 ngày: chị H kể từ ngày tuyên án, anh Đ kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

69
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội môi giới mại dâm số 09/2025/HS-ST ngày 09/01/2025

Số hiệu:09/2025/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về