Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 87/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 87/2024/HS-ST NGÀY 16/05/2024 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H, sinh năm: 2001 tại Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn 5, xã Phúc H, huyện Phúc T, thành phố H; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Khuất Thị Đ; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Đào Thu H1, sinh năm 1993 (Vắng mặt). Trú tại: Thôn T, xã Phú C, huyện S, thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh H làm nghề mua bán và môi giới bán sim điện thoại. Ngày 21/4/2023, H nhận được tin nhắn qua ứng dụng Messeger của tài khoản Facebook “Thu H1” của chị Đào Thu H, sinh năm: 1993; trú tại thôn Tân Trại, xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội nhắn tin trao đổi mua bán sim số (098777X5), sau đó H liên hệ với chủ sở hữu số thuê bao trên để môi giới bán sim cho chị H1 với giá 350.000.000đ. H yêu cầu chị H1 đặt cọc số tiền 5.000.000đ để giao dịch. Ngày 22/4/2023 chị H1 chuyển khoản cho H số tiền 5.000.000đ từ tài khoản số 19036345161010 ngân hàng Techcombank của chị H1 đến số tài khoản 32101567X99 ngân hàng MB Bank của H. Ngày 24/4/2023, Hi đưa 01 người đàn ông là chủ sim số nêu trên cùng chị H đến cửa hàng đại lý của Viettel Store tại thị trấn Sóc Sơn để làm thủ tục sang tên chị H, chị H1 đã thanh toán nốt số tiền 345.000.000đ tiền mua sim cho H. Chủ số thuê bao đã thanh toán cho H 20.000.000đ tiền phí môi giới bán sim. Sau khi mua được sim số, chị H1 nói với H ai có nhu cầu mua sim số nêu trên với giá cao hơn thì sẽ bán lại. Vào khoảng đầu tháng 5/2023, do không có tiền tiêu sài, Hi đã nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của chị H1. Ngày 04/5/2023, H đã liên hệ với chị H hỏi mua lại sim số nêu trên với giá 385.000.000đ, nếu bán được thì Hi sẽ được hưởng số tiền 10.000.000đ phí môi giới, còn chị H nhận được số tiền 375.000.000đ. Hi yêu cầu chị H nếu đồng ý bán sim thì phải đặt cọc số tiền 35.000.000đ để làm tin, quá trình giao dịch với khách nếu chị H không bán nữa thì sẽ bị mất số tiền này. Do tin tưởng Hi, ngày 23/5/2023 chị H chuyển khoản số tiền 35.000.000đ từ tài khoản ngân hàng Techcombank số 8931X5X đến số tài khoản ngân hàng MB bank 32101567X99 của Hi, Hi hẹn 10 ngày sau sẽ đi làm thủ tục sang tên thì sẽ trả chị H 375.000.000đ tiền bán sim và 35.000.000đ tiền cọc.

Để tạo sự tin tưởng đối với chị H1, H đã dùng thủ đoạn tự tạo lập tài khoản “Mr Hải” và tự tạo cuộc trò chuyện với tài khoản zalo “Minh H” của H với nội dung Hải đặt mua số thuê bao 098777X5 của chị H1 và đã đặt cọc cho H số tiền 35.000.000đ rồi chụp ảnh màn hình giao dịch gửi cho chị H1. Sau khi nhận được hình ảnh do H gửi, chị H1 yêu cầu H cho xem hình ảnh bill chuyển tiền của người mua số thuê bao 098777X5. Vì không có ai chuyển số tiền nêu trên nên H đã chuyển 35.000đ từ tài khoản MB bank 3210156799X của Hi đến tài khoản của Nguyễn Văn Hoàng – sinh năm: 2001, ở cùng thôn với H và nhờ Hoàng chuyển lại cho H ghi nội dung “A Hai coc tien sim 098777X5”, đồng thời nhờ Hoàng chỉnh sửa số tiền chuyển khoản trong bill từ 35.000đ thành 35.000.000đ rồi gửi lại cho H, H gửi hình ảnh bill cho H1 để làm tin. Sau khi nhận được hình ảnh do H gửi, chị H1 đã chuyển khoản số tiền 35.000.000đ vào tài khoản MB bank 32101567X99 của Hi, thỏa thuận sau 10 ngày nếu không giao dịch được thì sẽ được trả lại tiền cọc. Sau đó, H tiếp tục tự tạo cuộc trò chuyện giữa H với tài khoản “Mr Hải” về việc chốt địa điểm giao dịch bán sim tại cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn và yêu cầu chị H1 đến Lạng Sơn để giao dịch rồi chụp ảnh màn hình gửi cho chị H1. Chị H1 không đồng ý giao dịch tại Lạng Sơn. Đến ngày 03/6/2023 thời hạn 10 ngày đã hết, nhưng không bán được sim nên chị H1 yêu cầu H trả lại 35.000.000đ tiền đặt cọc.

H lại tiếp tục tạo cuộc trò chuyện với tài khoản “Mr Hải” với H về việc phải sắp xếp để giải quyết thỏa đáng cho 02 bên, mục đích để không trả lại tiền đặt cọc cho chị H1, nên ngày 03/6/2023 chị H1 đã đến Công an huyện Sóc Sơn trình báo việc bị chiếm đoạt tài sản.

Tại cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Nguyễn Minh H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 50/CT - VKS ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố Nguyễn Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Bị hại – chị Đào Thu H1 vắng mặt nhưng có lời khai: Ngày 23/5/2023 Nguyễn Minh H sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn H” với số điện thoại 0876.756.789 liên lạc với chị để đề nghị chị bán lại sim số điện thoại 098.777.X5 với giá tiền 385.000.000 đồng, chị đồng ý. H yêu cầu chị chuyển số tiền đặt cọc bán sim là 35.000.000 đồng. Chị và H thỏa thuận sau 10 ngày, cụ thể là ngày 02/6/2023 gặp gách để giao dịch, nếu bên nào vi phạm sẽ mất tiền cọc. Ngày 23/5/2023 chị đã chuyển tiền cọc cho H. Theo thỏa thuận chị và khách của H sẽ giao dịch tại Hà Nội. Đến ngày 02/6/2023, chị ở nhà đợi H báo địa điểm giao dịch, đến 15 giờ cùng ngày H báo cho chị không giao dịch được do khách đang ở Lạng Sơn, H đề nghị với chị lên Lạng Sơn để giao dịch, chị cũng đồng ý nhưng sau đó H lại lấy lý do không thể lên Lạng Sơn được. Chị đề nghị H cho chị số điện thoại của khách để chị liên hệ nhưng H không cho. Chị đã đồng ý cho H đến 13 giờ ngày 03/6/2023 phải hoàn trả cho chị số tiền cọc nhưng H nhiều lần đưa ra các lý do khác nhau để không trả tiền cho chị. Chị nghị ngờ H lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị nên chị đã đến Cơ quan Công an huyện Sóc Sơn trình báo. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, H đã trả lại cho chị 35.000.000đ và 1.000.000đ tiền H tự nguyện xin lỗi chị. Nay chị đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh H từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị H1 đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt, chị không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus, màu đen thu giữ của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo như Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Xuất phát từ việc cần tiền tiêu sài cá nhân nên ngày 23/5/2023 Nguyễn Minh H lợi dụng mối quan hệ quen biết vớí chị Đào Thu H1, đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối tự tạo ra người mua sim điện thoại để giao dịch mua lại chiếc sim điện thoại số 098.777.X55 của chị Đào Thu H1, mục đích để chị H1 tin tưởng, chuyển tiền đặt cọc cho H, H đã chiếm đoạt số tiền đặt cọc 35.000.000đ của chị Đào Thị H1. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 của Điều 174 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

… Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Nguyễn Minh H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có trình độ nhận thức, có công việc ổn định nhưng không chịu ru dưỡng, rèn luyện chỉ vì cần tiền tiêu sài cá nhân đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự quy định.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội đồng thời thể hiện nguyên tắc xử lý khoan hồng của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với Nguyễn Minh Hoàng là người được H nhờ thực hiện việc chỉnh sửa bill chuyển khoản Ngân hàng MB Bank từ 35.000đ thành 35.000.000đ sau đó H gửi cho chị H1: Quá trình điều tra xác định khi H nhờ Hoàng, H không nói cho Hoàng biết việc H nhờ Hoàng chỉnh sửa bill để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của chị H1, nên không có căn cứ xác định Hoàng phạm tội với vai trò là đồng phạm.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus, màu đen thu giữ của bị cáo là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Minh H 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Phúc Hòa, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus thu giữ của bị cáo (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/4/2024 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

131
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 87/2024/HS-ST

Số hiệu:87/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sóc Sơn - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/05/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về