TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 799/2023/HS-PT NGÀY 06/10/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 06 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 581/2023/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn H; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2023/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1982 tại tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký thường trú: đường số 3, cư xá Đ, Phường 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký tạm trú: chung cư Lô B, khu dân cư M, đường V, Phường 3, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang T và bà Bùi Thị D; có vợ tên Tạ Thị Thu H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 26/11/2022 cho đến nay.
(có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Duy B – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H được tóm tắt như sau:
Vào tháng 6/2018, bà Lê Thị Th có nhu cầu bán 10.315m2 đất nông nghiệp, gồm các thửa đất số 360, 361,362, 363, 364, thuộc tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, do bà Th và người thân đứng tên. Bà Th liên hệ với Nguyễn Tuấn L nhờ tìm người mua vì biết L đang làm việc tại Công ty Bất động sản B nên sẽ có nhiều mối quan hệ để bán đất.
Sau đó, L có tư vấn cho bà Th không nên bán cả thửa đất lớn mà nên thành lập Công ty kinh doanh bất động sản, lập dự án phân lô bán nên sẽ thu được lợi nhuận cao hơn. L hứa sẽ giúp bà Th tìm người xin chủ trương pháp lý dự án, vì có phê duyệt tỷ lệ 1/500 mới được mở bán dự án và sẽ hỗ trợ bà Th thủ tục thành lập công ty. Bà Th hứa nếu L giúp được xin chủ trương dự án sẽ cho L số tiền 500.000.000 đồng. Sau đó, L giúp bà Th làm thủ tục thành lập Công ty TNHH Địa ốc Đ vào ngày 09/8/2018. Thời gian sau đổi tên thành Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển địa ốc S (Công ty S), địa chỉ: B5, đường Đ1, phường H, thành phố Th, tỉnh Bình Dương do bà Lê Thị Th làm người đại diện theo pháp luật nhằm để thực hiện dự án khu dân cư mang tên E tại các thửa đất số 360, 361, 362, 363, 364, thuộc tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Nguyễn Tuấn L quen biết với Nguyễn Văn Q và đuợc ông Q giới thiệu gặp gỡ với Đặng Trung B (tên thường gọi là B1) làm nghề kinh doanh tự do. Khi gặp B tự giới thiệu hiện đang công tác trong ngành Công an, đồng thời cho L và Quyết xem hình B mang quân hàm Đại tá Công an (Bút lục 67) và cho biết quen với lãnh đạo tỉnh Bình Dương nên sẽ trực tiếp gặp để tác động xin chủ trương phê duyệt tỷ lệ 1/500 cho dự án Khu nhà ở E, diện tích 10.315m2 với số tiền 1.500.000.000 đồng. Trong đó chi phí xin thủ tục là 1.200.000.000 đồng, phần tiền công của B là 300.000.000 đồng và phải đưa trước cho B số tiền 200.000.000 đồng.
Việc này L trao đổi với bà Th là có người giúp (nhưng chưa nói người giúp là ai) và ra giá số tiền nêu trên thì bà Th đồng ý và giao tiền mặt cho L 200.000.000 đồng và các giấy tờ bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) do bà Đặng Thị L (mẹ bà Th) đứng tên của thửa số 18, tờ bản đồ 20, diện tích đất 10.315m2 tại ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (GCNQSDĐ cũ trước khi tách thành 05 thửa); Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty TNHH Địa ốc Đ.
Ngày 28/8/2018, L đưa cho B số tiền 200.000.000 đồng và có lập Giấy cam kết với nội dung: B cam kết làm dự án tỷ lệ 1/500 cho L đối với thửa đất 10.315m2, thửa số 18, tờ bản đồ 20 trong vòng 60 ngày với số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng, khi làm xong sẽ nhận thêm 1.000.000.000 đồng (một tỷ), nếu không xong sẽ hoàn lại gấp đôi tiền cọc. Khi L giao tiền cho B, có sự chứng kiến và ký xác nhận của ông Nguyễn Văn Q (BL 418). B có hứa hẹn dù giấy cam kết ghi 60 ngày nhưng trong 30 ngày sẽ giao phê duyệt cho L. Sau đó bà Th nhiều lần hỏi L về kết quả phê duyệt tỷ lệ 1/500, L liên hệ với B thì được hứa hẹn, đưa ra lý do tỉnh Bình Dương đang bị thanh tra nên chưa lấy được Quyết định phê duyệt tỷ lệ 1/500 cho dự án.
Đến ngày 22/9/2018, L chụp hình bản cam kết ngày 28/8/2018 và gửi hình Đặng Trung B mặc đồ Đại tá Công an (BL 225) gửi cho bà Th nên lúc này bà Th mới biết người đang trực tiếp xin dự án cho mình tên là Đặng Trung B làm trong ngành Công an. Sau đó bà Th giao tiếp số tiền 1.000.000.000 đồng cho L, khi nào có bản chính Quyết định phê duyệt chủ trương để L giao tiền cho Đặng Trung B.
Đến ngày 10/10/2018, L chụp hình bản photo quyết định phê duyệt 1/500 của dự án gửi sang cho bà Th xem, bà Th phát hiện có nhiều lỗi như sai tên công ty, sai loại đất thì L nói bên B đang điều chỉnh lại. Đến ngày 12/10/2018, L đưa trực tiếp cho bà Th bản photo quyết định phê duyệt tỷ lệ 1/500 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương nhưng in rất mờ.
Lúc này L hỏi mượn bà Th số tiền 500.000.000 đồng để kinh doanh và thành lập Công ty B1, bà Th tỏ ý không muốn cho mượn vì lúc này không có nhiều tiền. L năn nỉ bà Th cho mượn tiền vì L đã giúp xin pháp lý dự án, nể tình nên Th đồng ý cho L mượn số tiền 500.000.000 đồng. Sau này, khi phát hiện L không xin được quyết định 1/500 nên bà Th đòi lại số tiền này thì L nói số tiền này bà Th hứa cho L sau khi xin được chủ trương nên cấn trừ, bà Th không đồng ý vì chưa nhận được quyết định phê duyệt tỷ lệ 1/500 bản chính. Việc Th đưa tiền cho L diễn ra sau khi L đưa bản photo quyết định 1/500 giả.
Đến cuối tháng 10/2018, B nói với L đã có bản chính Quyết định phê duyệt tỷ lệ 1/500 và kêu L đưa cho B số tiền 1.000.000.000 đồng còn lại để B trực tiếp đi gặp Chủ tịch tỉnh Bình Dương lấy phê duyệt. Ngày 29/10/2018, B yêu cầu L nộp số tiền 1.000.000.000 đồng vào tài khoản số:
6501000282882 mở tại Ngân hàng B của bà Thượng Thị Kim H (BL 978).
Bà Thượng Thị Kim H là bạn hàng kinh doanh vận tải từ lâu, B nhờ bà H số tài khoản để cho người khác chuyển tiền vào sau đó rút tiền mặt đưa lại cho B thì bà H đồng ý. Bà H biết về nguồn gốc số tiền 1.000.000.000 đồng là do L chuyển cho B để xin dự án, bà H không có hưởng lợi gì trong việc này, sau khi tiền vào tài khoản thì bà H đã rút ra và đưa lại hết cho B. Tuy nhiên, B không thừa nhận đã nhận số tiền 1.000.000.000 đồng từ bà Huê. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã cho B và bà H đối chất về nội dung trên (BL 1238).
Do việc xin dự án kéo dài nên bà Th yêu cầu L đưa bà Th đến gặp B, khi gặp B tiếp tục giới thiệu mình làm việc tại Bộ Công an và có quen với Chủ tịch tỉnh Bình Dương nên sẽ trực tiếp gặp để tác động xin chủ trương cho các dự án bất động sản của bà Th. B thừa nhận trước mặt L và bà Th là có nhận số tiền 1.200.000.000 đồng do L đưa (BL 228). Kể từ đó, B làm việc trực tiếp với bà Th. B nói số tiền Th đưa B đã chi cho Chủ tịch tỉnh nhưng không đủ vì thửa đất làm dự án diện tích nhỏ nên khó xin, phải chi phí hết 3.500.000.000 đồng mới đủ và kêu bà Th phải kèm theo xin chủ trương cho 01 dự án lớn khác sẽ dễ hơn.
Thời điểm này, bà Th đang đặt cọc để nhận chuyển nhượng thửa đất diện tích khoảng 12 ha tại huyện B, tỉnh Bình Dương nên bà Th nhờ B xin phê duyệt tỷ lệ 1/500 cho dự án B. B ra giá là 10.000.000.000 đồng, trong vòng 01 tháng sẽ có chấp thuận chủ trương đầu tư, còn phê duyệt tỷ lệ 1/500 sẽ có sau và hối thúc bà Th đưa thêm tiền. Do tin tưởng nên trong tháng 11/2018, bà Th nhiều lần giao tiền cho B với tổng số tiền là 4.100.000.000 đồng, trong đó chuyển khoản từ tài khoản Công ty S Land số tiền 300.000.000 đồng (BL 736) và nhờ Châu Lê Minh V - Phó giám đốc Công ty S nộp tiền mặt 500.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V của B (BL 736), số còn lại giao tiền mặt cho B, không có giấy tờ giao nhận tiền.
Đến khoảng cuối tháng 11/2018, B vẫn chưa xin được chủ trương cho 02 dự án. B tiếp tục giới thiệu cho bà Th gặp Nguyễn Văn H làm công việc tự do. Khi gặp bà Th, H giới thiệu đang làm Thanh tra Chính phủ có quen biết với Bí thư, Chủ tịch tỉnh Bình Dương nên có thể giúp xin chủ trương án, H nói không trực tiếp đi xin mà sẽ nhờ qua người quen để xin chủ trương dự án.
Sau đó khoảng 01 tuần, H đưa Phạm Thị A đến gặp bà Th. H quen biết với A thông qua mạng xã hội, thường xuyên trò chuyện với nhau, A tự giới thiệu là con gái Bí thư tỉnh ủy Đắk Lắk, đang làm việc tại Ban quản lý dự án tỉnh Đắk Lắk nên H tin đó là thật. Lúc các bên gặp mặt, H giới thiệu A là con gái Bí thư tỉnh ủy Đắk Lắk, đang làm việc tại Ban quản lý dự án tỉnh Đắk Lắk, có nhiều mối quan hệ với lãnh đạo tỉnh nên có thể trực tiếp làm thủ tục xin các dự án giúp Th. Bản thân H sẽ hỗ trợ tác động thêm Bí thư, Chủ tịch tỉnh Bình Dương để sớm có chủ trương cho dự án.
Đến cuối tháng 01/2019, Phạm Thị A nói với H cần số tiền 300.000.000 đồng chi quà Tết cho lãnh đạo tỉnh Bình Dương đế thúc đẩy việc xin dự án. H yêu cầu bà Th đưa 300.000.000 đồng để H trực tiếp đi chúc tết Bí thư, Chủ tịch tỉnh Bình Dương. Ngày 30/01/2019, bà Th giao số tiền 300.000.000 đồng và H khai nhận đã giao lại số tiền này cho A nhưng không có chứng từ chứng minh. Tuy nhiên, H nói dối với bà Th là đã đến nhà của Bí thư, Chủ tịch tỉnh Bình Dương để chúc Tết và có tác động để nhanh chóng phê duyệt dự án cho.
Quá trình quen biết, bà Th có mượn của gia đình Nguyễn Văn H số tiền 600.000.000 đồng. H chủ động đặt vấn đề có người nhà muốn mua đất tại dự án E, bà Th nói vì H đã giúp xin chủ trương nên sẽ bán rẻ, giảm giá mỗi lô 50.000.000 đồng và cấn trừ số tiền nợ qua tiền mua đất luôn thì H đồng ý. Đến đầu năm 2019, vợ của H là bà Tạ Thị Thu H có mua 03 lô đất tại dự án với tổng trị giá 2.115.000.000 đồng và bà Th có giảm giá mỗi lô là 50.000.000 đồng (BL 416).
Phạm Thị A trao đổi với bà Th là sẽ xin chủ trương 03 dự án giúp Th với giá như sau: dự án A 1 là 3.000.000.000 đồng, dự án A 2 (E) là 3.600.000.000 đồng, dự án B là 12.000.000.000 đồng. Do tin tưởng A nên bà Th đồng ý và nhiều lần đưa tiền cho A với tổng số tiền 13.000.000.000 đồng, trong đó chuyển vào tài khoản số 5221205030149 tại Ngân hàng A của Phạm Thị A với tổng số tiền 2.085.000.000 đồng (BL 967-970), số còn lại giao tiền mặt cho A không có giấy tờ giao nhận tiền.
Đến cuối năm 2019, bà Th quen với ông Đỗ Huy D (là chồng sau này), ông D làm tại Viện quy hoạch phát triển đô thị tỉnh Bình Dương nên có giúp bà Th tìm hiểu tiến độ hồ sơ các dự án. Lúc này Th mới B A chỉ nộp hồ sơ vào Sở Xây dựng chứ không có tác động gì để xin dự án.
Sau đó bà Th yêu cầu các đối tượng trả lại tiền như sau:
Bà Th gặp Nguyễn Văn H để đòi lại số tiền đã đưa cho H đi chạy dự án, H không có tiền trả lại ngay nên đã viết một giấy xác nhận với nội dung đã nhận 600.000.000 đồng và 1000USD từ Đặng Trung B, nhận một bộ bàn ghế gỗ trị giá 150.000.000 đồng từ Phạm Thị A.
Phạm Thị A hứa hẹn nhiều lần nhưng chỉ mới trả được một phần số tiền đã nhận và làm giấy xác nhận nợ bà Th số tiền 9.000.000.000 đồng nội dung “lý do số nợ này là tôi ứng làm kinh phí thực hiện dự án nhà ở thương mại A 1 và 2 và dự án B, thời gian ứng từ tháng 11/2018” (BL 415).
Sau khi biết rõ B, H, A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì bà Th không tố giác ngay vì lúc này bà Th đã bán hết đất tại dự án A 1, A 2 cho nhiều người dân nhưng chưa giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì chưa có phê duyệt của cơ quan Nhà nước, đồng thời bà Th đang tự mình liên hệ cơ quan Nhà nước để xin chủ trương dự án nên sợ nếu tố giác sẽ làm ảnh hưởng đến việc xin chủ trương. Do đó, bà Th tự mình tìm các đối tượng để đòi lại tiền. Đến khoảng cuối năm 2020, khi người dân tố giác hành vi lừa đảo của bà Th thì bà Th mới tố giác hành vi của các đối tượng với Cơ quan điều tra. Hiện nay Lê Thị Th đang bị tạm giam trong một vụ án khác.
Đối với Phạm Thị A đã chết ngày 18/12/2021, tại xã Hòa Hiệp, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk do ngộ độc thuốc diệt cỏ, nghi là do tự sát.
Quá trình điều tra xác định, Đặng Trung B đã có hành vi gian dối, đưa thông tin sai sự thật về bản thân làm Công an, có quen biết và sẽ trực tiếp liên hệ với Chủ tịch tỉnh Bình Dương để xin dự án, để bà Th tin tưởng giao tiền cho mình rồi chiếm đoạt. Thực tế B không tiến hành việc xin dự án, không có quyết định phê duyệt để giao cho bà Th. Sau khi bà Th nhiều lần hối thúc thì B mới dẫn Nguyễn Văn H và Phạm Thị A đến gặp bà Th, còn trước đó H, Ái chưa nhận được tiền và chưa nhận lời giúp B. Đến khi Th tiếp tục đòi tiền thì B cắt liên lạc với bà Th. Căn cứ kết quả điều tra, xác định Đặng Trung B đã chiếm đoạt của bà Lê Thị Th với tổng số tiền 2.100.000.000 đồng, cụ thể như sau:
Chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng từ Nguyễn Tuấn L và có lập giấy cam kết (BL 418).
Chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng do Nguyễn Tuấn L chuyển thông qua tài khoản số 6501000282882 mở tại Ngân hàng B của bà Thượng Thị Kim Huê ngày 29/10/2018, sau đó bà H đã rút tiền mặt đưa cho B (BL 978).
Chiếm đoạt số tiền 500.000.000 đồng do bà Th nhờ Châu Lê Minh Vẹn chuyển vào tài khoản số 0841000027608 của B tại Ngân hàng V (BL 736).
Chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng do bà Th chuyển vào tài khoản số 0841000027608 của B tại Ngân hàng V (BL 736).
Chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 02/11/2018 thông qua tài khoản số 0841000062002 của bà Lê Thị M, sinh năm 1995, HKTT: Tổ 9 Th, Th1, thị xã B2, tỉnh Bình Phước tại Ngân hàng V do bà Th nhờ Châu Lê Minh V nộp tiền mặt (BL 771). Sau đó bà Lê Thị M rút tiền mặt ra đưa lại cho B.
Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Văn H làm công việc tự do, không phải là Thanh tra Chính phủ. H đã có hành vi gian dối, tự giới thiệu mình là Thanh tra Chính phủ để móc nối với những đối tượng khác đi chạy dự án bất động sản nhằm chiếm đoạt của bà Lê Thị Th số tiền 921.000.000 đồng và thu lợi bất chính về cho bản thân số tiền 304.200.000 đồng, cụ thể như sau:
Chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng của bà Th vào ngày 30/01/2019, lý do đi chúc Tết lãnh đạo tỉnh Bình Dương (BL 306).
Chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng và 1000 USD (tương đương 21.000.000 đồng) từ Đặng Trung B, có giấy xác nhận (BL 416).
Thu lợi bất chính số tiền 150.000.000 đồng trị giá một bộ bàn ghế gỗ và 200 USD (tương đương 4.200.000 đồng) từ Phạm Thị A. (BL 1359-1362, 1393- 1398).
Thu lợi bất chính số tiền 150.000.000 đồng từ việc bà Th bán rẻ 03 lô đất (BL 1393-1398).
Ngày 24/11/2022, Nguyễn Văn H đã tự nguyện nộp vào kho bạc số tiền 74.200.000 đồng để khắc phục hậu quả. Trong đó 70.000.000 đồng là tiền có được từ việc bán được bộ bàn ghế gỗ mà Phạm Thị A cho, 4.200.000 đồng quy đổi từ 200 USD.
Căn cứ Kết luận giám định số 04/GD-PC09 ngày 17/01/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dương kết luận:
“Chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay mang tên “Nguyễn Văn H” trên 01 (một) “Giấy xác nhận”, không đề ngày, tháng, năm (ký hiệu A1) so với chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay ngón cái phải của Nguyễn Văn H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M3) do cùng một người ký, viết và in ra.
Chữ ký, chữ viết họ tên, 02 (hai) dấu vân tay mang tên “Phạm Thị A” và chữ viết trên 01 (một) “Giấy xác nhận nợ”, đề ngày 19/6/2020 (ký hiệu A2) so với chữ ký, chữ viết và dấu vân tay ngón trỏ trái, trỏ phải của Phạm Thị A trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M4 đến M11) do cùng một người ký, viết và in ra”.
Căn cứ Kết luận giám định số 181/KL-KTHS(TL) ngày 12/4/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: (BL 414) “Chữ ký, dấu vân tay mang tên “Đặng Trung B”, “Nguyễn Tuấn L” và chữ ký, chữ viết họ tên “Nguyễn Văn Q” trên 01 (một) “Giấy cam kết”, đề ngày 28/8/2018 (ký hiệu A) so với chữ ký, dấu vân tay ngón trỏ phải, trỏ trái của Đặng Trung B, Nguyễn Tuấn L và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Văn Q trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) do cùng một người ký, viết và in ra”.
Căn cứ Kết luận giám định số 2411/KL-KTHS ngày 26/4/2022, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: (BL 435-436) “Không phát hiện thấy các dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung âm mẫu cần giám định.
Tiếng nói của người đàn ông tự xưng “anh” (ký hiệu “H” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) trong file ghi âm “20-4-24 Ghi âm ông H.m4a” mẫu cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Văn H trong mẫu so sánh là của cùng một người.
Tiếng nói của người phụ nữ tự xưng “em” (ký hiệu “Th” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) trong file ghi âm “20-4-24 Ghi âm ông H.m4a” mẫu cần giám định và tiếng nói của Lê Thị Th trong mẫu so sánh là của cùng một người.
Đã chuyển nội dung tiếng nói trong file ghi âm “20-4-24 Ghi âm ông H.m4a” mẫu cần giám định thành văn bản.” (BL 437-443).
Căn cứ Biên bản trích xuất nội dung âm thanh thành văn bản số 392/BB- PC09 ngày 27/8/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (BL 447-450).
Căn cứ Biên bản trích xuất dữ liệu điện thoại di động số 311/BB-PC09 ngày 30/7/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
Căn cứ Biên bản trích xuất dữ liệu điện thoại di động số 387/BB-PC09 ngày 27/8/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
Ngày 06/5/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Ngày 26/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Bình Dương ra quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam đối với Đặng Trung B về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Phạm Thị A đã có hành vi gian dối, đưa thông tin sai sự thật về bản thân làm việc tại Ban quản lý dự án tỉnh Đắk Lắk, là con gái nguyên Bí thư tỉnh ủy tỉnh Đắk Lắk, có các mối quan hệ với lãnh đạo tỉnh Bình Dương nên có thể dùng tiền tác động giúp bà Th xin chủ trương, phê duyệt tỷ lệ 1/500 cho các dự án bất động sản. Bà Lê Thị Th tin là thật nên đã nhiều lần giao cho Phạm Thị A với tổng số tiền 9.000.000.000 đồng rồi bị A chiếm đoạt. Hành vi của Phạm Thị A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, ngày 18/12/2021, Phạm Thị A đã chết nên không xem xét xử lý (BL 328-359). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk điều tra, xác minh làm rõ tình trạng tài sản của Phạm Thị A và người thân. Theo kết quả điều tra, xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, hiện Phạm Thị A đang đứng tên các quyền sử dụng đất của các thửa đất sau:
- Thửa đất số 8678, thửa đất 8679 cùng diện tích 93m2 thuộc tờ bản đồ số 31 tại xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/6/2013. Hiện đang thế chấp tại Ngân hàng A chi nhánh H Đắk Lắk.
- Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 14, diện tích 224m2 tại xã E1, huyện C, tỉnh Đắk Lắk được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/10/2018.
Thời điểm A sở hữu các quyền sử dụng đất nêu trên thì A chưa gặp mặt và chưa nhận tiền của bà Lê Thị Th nên đây không phải tài sản do phạm tội mà có. Hiện nay A đã chết nên không có căn cứ khởi tố bị can, kê biên các tài sản trên và không xác định được số tiền A đã chiếm đoạt sử dụng vào mục đích gì. Theo kết quả tra cứu tại các ngân hàng, hiện Phạm Thị A không có tiền gửi tại các ngân hàng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2023/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Đặng Trung B, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 04/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên kháng cáo. Bị cáo cho rằng bản thân bị cáo là người bị bà Th lừa đảo với số tiền 2.115.000.000 đồng; đối với các khoản tiền mà Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo chiếm đoạt và hưởng lợi thì bị cáo không đồng ý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo kêu oan là không có cơ sở chấp nhận; đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Luật sư không có ý kiến về tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bà Th lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị cáo để xem xét lại số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà Th, giảm nhẹ hình phạt hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận bản thân bị cáo làm nghề tự do, không làm việc tại Thanh tra Chính phủ nhưng khi được Đặng Trung B giới thiệu với bà Lê Thị Th, bị cáo đưa ra thông tin gian dối rằng bản thân làm tại Thanh tra Chính phủ, có nhiều mối quan hệ quen biết để xin chủ trương thực hiện dự án. Tin tưởng thông tin mà bị cáo và Đặng Trung B đưa ra, bà Th đã chuyển tiền cho bị cáo H và B để nhờ xin chủ trương; trong đó đưa cho H 300.000.000 đồng tiền đi chúc tết các lãnh đạo địa phương, 600.000.000 đồng và 1000USD đưa cho B, B đưa lại cho H, có giấy xác nhận. Lời khai của bị cáo H trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo Đặng Trung B, bị hại Lê Thị Th và những người làm chứng khác; đồng thời cũng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2.2]. Bị cáo kháng cáo cho rằng việc quy kết bị cáo nhận các khoản tiền trên là không có căn cứ, không đúng với sự thật khách quan. Xét thấy, quá trình điều tra bị cáo thừa nhận đã nhận số tiền 300.000.000 đồng từ bà Th để đi chúc Tết; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại Th; bị cáo cho rằng sau khi nhận số tiền này bị cáo đã đưa cho Phạm Thị A nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Mặt khác, việc bị cáo có quan hệ quen biết và đi chúc Tết lãnh đạo địa phương là không có thật; bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối để bà Th giao số tiền này; hành vi phạm tội của bị cáo hoàn thành kể từ thời điểm bà Th chuyển tiền cho bị cáo. Đối với giấy xác nhận đã nhận số tiền 600.000.000 đồng và 1000USD, đã được cơ quan điều tra giám định và xác định đúng là chữ viết, chữ ký của bị cáo H. Bị cáo cho rằng các bên đã thỏa thuận số tiền này nằm trong số tiền mà Phạm Thị A đã chiếm đoạt của bà Th nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Ngoài ra, bị cáo cho rằng vợ chồng bị cáo cũng bỏ tiền ra để mua đất của bà Th, nếu bị cáo có ý định lừa đảo bà Th thì đã không bỏ tiền ra để mua đất của bà Th. Xét thấy, trong vụ án này bị cáo H bị quy kết về hành vi cùng với bị cáo B đưa ra thông tin gian dối rằng có khả năng xin được chủ trương chấp thuận dự án để nhận từ bà Th khoản tiền chi phí xin dự án, từ đó chiếm đoạt. Việc vợ bị cáo là bà Tạ Thị Thu H mua 03 lô đất của bà Th với số tiền 2.115.000.000 đồng không liên quan đến hành vi mà bị cáo bị truy tố, xét xử trong vụ án này.
Theo nội dung đơn kháng cáo, bị cáo cho rằng quá trình điều tra, do đầu óc bị cáo không minh mẫn, bị điều tra viên dẫn dắt nên mới khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu; tuy nhiên, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Vì vậy, các lý do mà bị cáo đưa ra để cho rằng cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử không đúng với hành vi của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an toàn xã hội. Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Toà án cấp sơ thẩm xem xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra đã khắc phục một phần hậu quả; từ đó áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 12 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo; cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2023/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11 /2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 799/2023/HS-PT
| Số hiệu: | 799/2023/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 06/10/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về