Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 686/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 686/2023/HS-PT NGÀY 12/09/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh HD, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 788/2023/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Văn K cùng đồng phạm bị xét xử sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HD.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Văn K, sinh năm 1988 tại tỉnh HD; địa chỉ: Khu dân cư LH, phường AL, thị xã KM, tỉnh HD; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị N; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 21/7/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh HD; có mặt.

2. Lê Hoàng L, sinh năm 1977 tại HP; địa chỉ: Thôn NK, xã PN, huyện TN, thành phố HP; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; con ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị K; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2016/HSST ngày 30/8/2016, Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố HP xử phạt Lê Hoàng L 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng về tội Mua bán trái phép hóa đơn; buộc L phải nộp số tiền thu lời bất chính là 514.774.968 đồng và án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, bị cáo chưa nộp tiền thu lời bất chính; bị tạm giam từ ngày 21/7/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh HD; có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị S - Văn phòng luật sư T, Đoàn luật sư tỉnh HD; có mặt.

Người bị hại không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án hình sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/01/2022, anh Bùi Xuân T nhận được văn bản số 131 ngày 19/01/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện AD, thành phố HP thông báo về việc chị Nguyễn Thị T1 (vợ anh T) bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện AD, thành phố HP áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam về hành vi Mua bán trái phép hóa đơn. Anh T đã nhờ bạn là anh Hoàng Bảo L1, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu LT, phường HA, thị xã KM nói chuyện với Phạm Văn K để nhờ K tìm người giúp chị T1 thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Mặc dù K không có nhiệm vụ, quyền hạn và cũng không quen biết người có nhiệm vụ, quyền hạn để thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với chị T1 nhưng K nói sẽ nhờ người ở thành phố HP giúp chị T1. Khoảng 10 giờ ngày 19/01/2022, K sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS lắp sim số 0325.X.428 của mình gọi đến số điện thoại 0938.X.666 của Lê Hoàng L hẹn gặp L tại một quán cà phê ở gần Ủy ban nhân dân quận HA, thành phố HP (không xác định được tên quán). Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, K cùng với anh T, L1 đi xe taxi từ thị xã KM đến gặp L. Tại đây, K nhờ L đề nghị Cơ quan có thẩm quyền thay đổi biện pháp ngăn chặn cho chị T1, mặc dù không có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn nhưng L vẫn đồng ý. Khoảng 18 giờ cùng ngày, L sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 lắp sim số 0938.X.666 gọi đến số điện thoại 0936.X.979 của bạn là anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1979, địa chỉ: Số 68 Phạm Văn Đồng, phường AD, quận DK, thành phố HP là Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện AD, thành phố HP để hỏi anh N về việc của chị T1 nhưng anh N trả lời vụ án đang điều tra nên không cung cấp thông tin. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, L gọi điện cho K nói để chị T1 được tại ngoại thì anh T phải thay chị T1 nộp số tiền chị T1 thu lời bất chính là 02 tỷ đồng, K gọi điện cho anh T thông báo số tiền là 03 tỷ đồng, anh T đồng ý nộp tiền thay chị T1. Từ 14 giờ đến 21 giờ ngày 20/01/2022, anh T đã vay, đòi nợ được tổng số tiền là 1.520.000.000 đồng của 05 người gồm: vay chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1983, địa chỉ: Số 8/31 MT, phường MT, thị xã KM 50.000.000 đồng; vay anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1976, địa chỉ: Số 02/12 tổ 4, thị trấn ĐH, huyện ĐH, tỉnh TB 450.000.000 đồng; vay anh Bùi Xuân Đ, sinh năm 1984, địa chỉ: Số 384 Trần Tất Văn, quận KA, thành phố HP 120.000.000 đồng; vay anh Trần Trọng H, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ 71, Khu 5, phường BĐ, thành phố HL, tỉnh QN 400.000.000 đồng; đòi nợ anh Hoàng Bảo L 500.000.000 đồng. Theo đề nghị của anh T, những người này đã chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng Viettinbank số 103872X276 đứng tên Phạm Văn K tổng số tiền 1.520.000.000 đồng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, anh T đến ngân hàng Viettinbank Chi nhánh thị xã KM nộp số tiền 350.000.000 đồng vào tài khoản trên của Phạm Văn K. Tổng số tiền anh T đã chuyển cho K trong ngày 20/01/2022 là 1.870.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, K đã sử dụng ứng dụng chuyển tiền Internetbanking trên điện thoại di động chuyển 01 tỷ đồng đến tài khoản ngân hàng OCB số 0938X666 đứng tên Lê Hoàng L và chuyển 870.000.000 đồng cho 07 người để trả nợ, chi tiêu gồm: Trả anh Hoàng Bảo L 200.000.000 đồng; trả bà Phạm Thị T, sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn AT, phường HT, thị xã KM 109.000.000 đồng; trả anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn NH, phường HT, thị xã KM 109.000.000 đồng; trả anh Đồng Văn L, sinh năm 1989, địa chỉ: Đội 1, xã KĐ, huyện KT 309.000.000 đồng; trả anh Nguyễn Vũ L, sinh năm 1988, địa chỉ: Khu dân cư LH, phường AL, thị xã KM 100.000.000 đồng; trả chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1993, địa chỉ: Xã XV, huyện YL, tỉnh PT 153.000.000 đồng; chuyển 100.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu LH, phường AL, thị xã KM, tỉnh HD (vợ K) để chi tiêu cá nhân.

Sáng ngày 21/01/2022, K gọi điện thoại cho anh T yêu cầu chuyển tiếp số tiền là 1.130.000.000 đồng, anh T đồng ý và vay bạn là chị Trương Thị H, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu Bích Nhôi 2, phường MT, thị xã KM số tiền trên đồng thời cung cấp số tài khoản ngân hàng của K cho chị H, chị H đã chuyển tiền đến tài khoản của K. Sau khi nhận được tiền, K chuyển 01 tỷ đồng từ tài khoản ngân hàng Viettinbank số 103872X276 đứng tên Phạm Văn K đến tài khoản ngân hàng OCB số 0938X666 đứng tên Lê Hoàng L. Sau đó K tiếp tục chuyển tổng số tiền là 130.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của 02 người là chị Trần Thị Huệ, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu HT, phường HS, thị xã KM và chị Nguyễn Thị P để trả nợ.

Từ ngày 20/01/2021 đến ngày 21/01/2021, sau khi nhận được 02 tỷ đồng của anh T, L không thay chị T1 nộp tiền thu lời bất chính cho Cơ quan có thẩm quyền như đã thỏa thuận mà rút 1.900.000.000 đồng để nộp cho Công ty cổ phần Đầu tư thương mại V - Chi nhánh BC, địa chỉ: Khu Phố Cổ, phường BC, thành phố HL để đặt cọc mua căn hộ thuộc dự án SP tại thành phố HL, tỉnh QN, còn lại 100.000.000 đồng chi tiêu cá nhân.

Đến ngày 15/02/2022, chị T1 không được thay đổi biện pháp ngăn chặn như cam kết của L nên anh T đã làm đơn tố cáo K, L gửi Công an thị xã KM. Chiều ngày 21/02/2022, L đã đưa cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962, địa chỉ: Khu dân cư LH, phường AL, thị xã KM là mẹ đẻ K số tiền là 02 tỷ đồng để trả cho anh T. Từ ngày 22/02/2021 đến ngày 24/02/2021, bà N đã thay K, L trả tiền anh T bằng hình thức nộp tổng số tiền 03 tỷ đồng (trong đó có 01 tỷ đồng của K, 02 tỷ đồng của L) vào tài khoản ngân hàng Viettinbank số 10100X2243 đứng tên Nguyễn Thị Minh T do anh T cung cấp để trả anh T.

Quá trình điều tra Phạm Văn K, Lê Hoàng L đã tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, số Imei: 356172091314903, lắp sim số 0325.X.428; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, số imei: 35673008488759, lắp sim số 0938.X.666.

Về trách nhiệm dân sự: Anh T đã nhận đủ số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu các bị cáo bồi thường khoản thiệt hại nào khác.

Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS-P1 ngày 11/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh HD truy tố bị cáo Phạm Văn K và Lê Hoàng L tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 Tòa án nhân dân tỉnh HD đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Phạm Văn K và Lê Hoàng L. Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Hoàng L.

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K và bị cáo Lê Hoàng L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 21/7/2022.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng L 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 21/7/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/6 và 03/7/2023, bị cáo Phạm Văn K và Lê Hoàng L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Phạm Văn K trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố ốm đau, mẹ già yếu, con còn nhỏ, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Lê Hoàng L trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ già yếu, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Văn K 18 tháng tù, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Hoàng L 6 tháng tù.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho 2 bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng; ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và luật sư; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội; lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 20/01/2022 đến ngày 21/01/2022, tại thị xã KM, tỉnh HD và huyện TN, thành phố HP; Phạm Văn K và Lê Hoàng L đưa ra thông tin gian dối đối với anh Bùi Xuân T về việc L có thể tác động với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng huyện AD, thành phố HP để quyết định cho chị Nguyễn Thị T1 là vợ anh T được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Tin tưởng K, L nên anh T đã nhiều lần chuyển cho K tổng số tiền 03 tỷ đồng, K chuyển cho L 02 tỷ đồng, giữ lại 01 tỷ đồng. Sau khi nhận được tiền từ anh T, K và L đã sử dụng để trả nợ, đặt cọc mua căn hộ và chi tiêu cá nhân. Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Hoàng L: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L đã bị kết án chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại các phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo L xuất trình tài liệu xác định bị cáo L có bố đẻ tham gia chiến trường Miền Nam chống Mỹ, bản thân bị cáo tích cực tham gia phong trào thiện nguyện, ủng hộ vật chất cho địa phương trong cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ già yếu, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng L, giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Văn K: Bị cáo K chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố ốm liệt, mẹ già yếu, con bị cáo còn nhỏ, đơn trình bày của gia đình bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn K, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn K, Lê Hoàng L; sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 20/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HD về hình phạt; cụ thể:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K và bị cáo Lê Hoàng L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn K 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 21/7/2022.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Hoàng L 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 21/7/2022.

2. Án phí: Các bị cáo Phạm Văn K, Lê Hoàng L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

48
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 686/2023/HS-PT

Số hiệu:686/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về