TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 60/2024/HS-ST NGÀY 25/01/2024 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 25 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 1021/2023/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Đoàn Thị H, sinh năm 1982 tại Thanh Hóa; nơi thường trú: thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: 47 Đường A, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn T và bà Lê Thị H; có chồng (đã chết) và 02 con (có 01 con dưới 36 tháng tuổi); tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 21/11/2022, có mặt.
- Người bào chữa: Ông Nguyễn Khắc Bảo T, Luật sư của Công ty Luật sư TNHH MTV L thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo, có mặt.
- Bị hại:
1. Công ty TNHH MTV sản xuất thương mại N, địa chỉ trụ sở: 40/7 T, ấp Đ, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Do bà Tô Thị Ngọc L - Giám đốc làm đại diện, địa chỉ: chung cư T 10A T, phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
2. Bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1987, địa chỉ: 41 N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 01/2020, bà Lê Thị Bích T được Đoàn Thị H, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Vận tải H (viết tắt là Công ty H); địa chỉ trụ sở: 47 Đường A, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; giới thiệu có nguồn phế liệu gồm: bao jumbo, nhôm, sắt, inox, giấy và bọc nylon mua từ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quốc tế C (viết tắt là Công ty C); địa chỉ: 18 T, Khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Công ty giấy V, địa chỉ: Khu công nghiệp T, tỉnh B; Công ty giấy V1, địa chỉ: Khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương và đề nghị bà T góp vốn để kinh doanh phế liệu, do tin tưởng H có nguồn hàng lớn từ những công ty này nên bà T đã đồng ý góp vốn.
Từ ngày 05/02/2020 đến ngày 23/02/2021, bà Lê Thị Bích T đã giao cho H tổng số tiền 4.067.000.000 đồng, trong đó chuyển khoản 1.145.000.000 đồng vào tài khoản số 651100022589xx của Đoàn Thị H mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Nam Bình Dương và tiền mặt 2.922.000.000 đồng theo Giấy thỏa thuận xác nhận công nợ ngày 20/4/2021 giữa Đoàn Thị H và Lê Thị Bích T.
Bằng thủ đoạn tương tự, ngày 01/5/2020, Đoàn Thị H sử dụng pháp nhân Công ty H ký Hợp đồng mua bán số 05/2020/NVP-HHP với bà Tô Thị Ngọc L, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Sản xuất Thương mại N (viết tắt là Công ty N). Theo nội dung hợp đồng, Công ty H cung cấp phế liệu các loại, bao gồm: bao jumbo, nhôm, sắt, inox, giấy và bọc nylon cho Công ty N, trị giá hợp đồng là 5.717.000.000 đồng. Công ty N thanh toán 100% phí vận chuyển cho mỗi lần Công ty H giao hàng, hình thức thanh toán vào tài khoản số 651100022589xx của H mở tại Ngân hàng BIDV, Chi nhánh Nam Bình Dương.
Thực hiện theo nội dung hợp đồng, từ ngày 23/6/2020 đến ngày 30/11/2020, bà L đã chuyển khoản cho H tổng số tiền 5.484.500.000 đồng vào tài khoản số 651100022589xx của H mở tại Ngân hàng BIDV, Chi nhánh Nam Bình Dương. Sau khi nhận tiền, H hứa hẹn nhiều lần giao hàng cho bà L nhưng không thực hiện.
Sau nhiều lần liên hệ yêu cầu H thực hiện hợp đồng và giao kết khó khăn, có dấu hiệu né tránh việc giao hàng và hoàn trả tiền nên bà T và bà L tố cáo đến Cơ quan điều tra về việc Đoàn Thị H chiếm đoạt của bà Lê Thị Bích T và Tô Thị Ngọc L tổng số tiền 9.551.500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra: Đoàn Thị H thừa nhận vào tháng 02/2020 là người đăng ký thành lập Công ty TNHH Vận tải H, làm Giám đốc và đại diện theo pháp luật của Công ty và điều hành mọi hoạt động kinh doanh. H thừa nhận không ký hợp đồng mua phế liệu gồm: bao jumbo, nhôm, sắt, inox, giấy và bọc nylon với Công ty C, Công ty giấy V và Công ty giấy V1 như khi giới thiệu với bà Lê Thị Bích T và bà Tô Thị Ngọc L nhưng đã đưa thông tin không có thật để bà T và bà L tin tưởng giao tiền và ký hợp đồng mua bán phế liệu với H. Bà L đã chuyển 5.484.500.000 đồng, bà T chuyển 1.145.000.000 đồng vào tài khoản số 651100022589xx của H tại Ngân hàng BIDV, Chi nhánh Bình Dương, bên cạnh đó, bà T còn giao 2.922.000.000 đồng tiền mặt cho H. Sau khi nhận số tiền trên, H khai đặt mua hàng để giao bà T và bà L với một người đàn ông cư trú tại Campuchia, nhưng không có tài liệu, chứng từ chứng minh cũng không cung cấp được thông tin lai lịch và sử dụng tiền chi tiêu cá nhân. Hiện không có khả năng hoàn trả.
Bà Tô Thị Ngọc L trình bày: bà L quen biết bà Đoàn Thị H thông qua việc kinh doanh mua bán phế liệu, vận tải hàng hóa, sau đó H giới thiệu có nguồn phế liệu giá rẻ, được mua từ các công ty tại Bình Dương, tin tưởng H có nguồn hàng hàng phế liệu thật, nên bà L đã ký hợp đồng và chuyển nhiều lần với tổng số tiền 5.484.500.000 đồng vào tài khoản cá nhân của H. Từ khi chuyển tiền đến nay, H không giao phế liệu như hợp đồng đã ký. Qua tìm hiểu, bà L mới biết bà H không ký hợp đồng mua phế liệu từ Công ty TNHH Quốc tế C, Công ty giấy V và Công ty Giấy V1, nhưng đưa ra thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà. Yêu cầu H phải hoàn trả số tiền đã nhận.
Bà Lê Thị Bích T cho biết: khoảng tháng 01/2020, H giới thiệu với bà T có nguồn phế liệu gồm: bao jumbo, nhôm, sắt, inox, giấy và bọc nylon do Công ty C, Công ty giấy V, Công ty giấy V1, bán giá rẻ, nếu muốn hợp tác kinh doanh thì chuyển tiền hoặc đưa tiền mặt cho H để kinh doanh, lợi nhuận được chia đôi. Tin tưởng lời giới thiệu của H là thật, bà T đã nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của H và đưa tiền mặt cho H để đi mua hàng, tính đến ngày 20/04/2021, bà T đã chuyển tổng số tiền 4.067.000.000 đồng cho H, trong đó đưa tiền mặt là 2.922.000.000 đồng, chuyển khoản số tiền 1.145.000.000 đồng. Từ khi chuyển tiền đến nay, H không mua hàng như cam kết, bà T nhiều lần đề nghị H cho xem hàng nhưng H không thực hiện, né tránh không hoàn trả tiền.
Kết quả xác minh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh: Công ty TNHH Vận tải H, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 03161632xx ngày 25/02/2020; vốn đều lệ 1.000.000.000 đồng; địa chỉ đăng ký kinh doanh: 47 Đường số 9, Khu phố 5, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật là Đoàn Thị H, chức vụ: Giám đốc.
Kết quả xác minh tại Chi cục Thuế thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: Công ty H có phát sinh khai báo thuế, hiện nay Công ty đã không còn hoạt động tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký. Chi cục Thuế thành phố Thủ Đức đã ban hành Thông báo số 26132/TB-CCTTPTĐ ngày 18/8/2022 về việc công ty bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh.
Kết quả xác minh tại Ngân hàng BIDV, Chi nhánh Nam Bình Dương: Tài khoản số 651100022589xx chủ tài khoản tên Đoàn Thị H. Sao kê tài khoản thể hiện từ ngày 06/02/2020 đến ngày 23/02/2021 có nhận tổng cộng 1.145.000.000 đồng từ bà Lê Thị Bích T; từ ngày 23/6/2020 đến 23/4/2021 tài khoản nhận tổng cộng 5.484.500.000 đồng từ các giao dịch nhận tiền có nội dung liên quan đến bà Tô Thị Ngọc L; số dư còn lại trong tài khoản hiện là 119.935 đồng.
Kết quả xác minh tại Công ty C: Công ty không thỏa thuận ký hợp đồng và thực hiện hoạt động mua bán phế liệu với Công ty H.
Kết quả xác minh tại Công an các địa phương: Công ty giấy V1 không đăng ký hoạt động tại Khu Công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương và Công ty giấy V không hoạt động tại Khu Công nghiệp T, tỉnh Bình Dương.
Kết luận giám định số 4665/KL-KTHS ngày 16/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chữ ký tên Đoàn Thị H trên Hợp đồng kinh tế số 05/2020/NVP-HHP ngày 01/5/2020 giữa Công ty N và Công ty H; Biên bản đối chiếu công nợ giữa Công ty N và Công ty H năm 2020; Giấy thỏa thuận công nợ giữ Đoàn Thị H và Lê Thị Bích T ngày 20/4/2021 đều do Đoàn Thị H ký ra. Hình dấu trên Hợp đồng và Biên bản đối chiếu công nợ không phải do con dấu của Công ty H đóng ra.
Vật chứng thu giữ: lưu theo hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc Đoàn Thị H bồi thường số tiền 4.067.000.000 đồng chiếm đoạt của bà Lê Thị Bích T và 5.484.500.000 đồng chiếm đoạt của bà Tô Thị Ngọc L.
Tại bản Cáo trạng số 401/CT-VKS-P3 ngày 27/7/2023, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Đoàn Thị H (có lý lịch nêu trên) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phần tranh tụng tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, không oan sai.
- Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.067.000.000 đồng chiếm đoạt của bà Lê Thị Bích T và 5.484.500.000 đồng của bà Tô Thị Ngọc L là giám đốc Công ty N; về hình phạt đề nghị Tòa án xét xử đúng người đúng tội và nghiêm minh.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đoàn Thị H từ 15 năm đến 16 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Biện pháp tư pháp: buộc Đoàn Thị H phải trả lại số tiền 4.067.000.000 đồng chiếm đoạt cho bà Lê Thị Bích T và số tiền 5.484.500.000 đồng chiếm đoạt cho bà Tô Thị Ngọc L.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: thống nhất với quan điểm truy tố về tội danh và điều khoản của Cáo trạng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; người phạm tội là phụ nữ có thai; đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi từ đó áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng mức án dưới khung hình phạt.
- Bị cáo đồng ý với luận cứ bào chữa của luật sư, không bổ sung.
- Kiểm sát viên đối đáp: luật sư thống nhất với Cáo trạng truy tố, chỉ đề nghị xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội là phụ nữ có thai, quan điểm kiểm sát viên không đồng ý với tình tiết này đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Lời nói sau cùng của bị cáo nhận thức được hành vi sai trái xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về nuôi con còn nhỏ mới 06 tháng tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Xét lời khai nhận của bị cáo Đoàn Thị H tại phiên tòa cơ bản phù hợp với đơn tố cáo của bị hại, vật chứng đã được thu giữ, kết luận giám định, lời khai cũng như bản tự khai của bị cáo, bị hại tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định:
Bị cáo Đoàn Thị H lợi dụng pháp nhân Công ty H do bị cáo làm giám đốc và là người đại diện theo pháp luật, có địa chỉ trụ sở: 47 Đường số 9, Khu phố 5, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù, Công ty H không ký hợp đồng mua bán phế liệu với các Công ty TNHH Quốc tế C, Công ty giấy V1 và Công ty giấy V. Nhưng bị cáo Đoàn Thị H đã đưa ra thông tin gian dối về việc đã ký hợp đồng mua bán phế liệu với các công ty trên để bà Tô Thị Ngọc L là giám đốc Công ty N và bà Lê Thị Bích T tin là thật nên đã ký hợp đồng mua bán phê liệu với bị cáo. Từ ngày 05/12/2020 đến ngày 23/02/2021, 02 bị hại đã chuyển tổng số tiền 9.551.500.000 đồng (trong bà Lê Thị Bích T số tiền là 4.067.000.000 đồng; Công ty N số tiền là 5.484.500.000 đồng) cho bị cáo H. Từ khi họ chuyển tiền đến nay, bị cáo H không mua hàng như cam kết, bị hại nhiều lần đề nghị H cho xem hàng nhưng H không thực hiện, né tránh không hoàn trả tiền. Bị cáo H sau khi nhận tiền đã sử dụng vào mục đích cá nhân, không cung cấp được tài liệu, chứng từ thể hiện mục đích sử dụng tiền. Do đó, bị hại đã có đơn tố cáo bị cáo H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra. Tại Cơ quan điều tra bị cáo khai nhận toàn hành vi phạm tội như đã nêu.
Xét hành vi của bị cáo Đoàn Thị H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác. Bị cáo H nhận thức được hành vi của mình nhưng do vụ lợi cá nhân nên bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có trị giá 9.551.500.000 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Đoàn Thị H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có trị giá như đã nêu trên là dấu hiệu định khung hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân).
Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Xét bị cáo thành khẩn khai báo; người phạm tội là phụ nữ có thai; đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm n điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự về hình phạt đặt ra đối với bị cáo phải nghiêm, là hình phạt tù có thời hạn mới đủ sức giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[2] Xét cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo Đoàn Thị H về khung, điều luật và tội danh như đã viện dẫn trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Với lập luận tại đoạn [1] là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận hay không chấp nhận phần luận tội của Kiểm sát viên, luận cứ bào chữa của luật sư và trình bày của bị cáo, bị hại.
[3] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Xét biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí:
[4.1] Biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo phải trả lại số tiền 9.551.500.000 đồng cho 02 bị hại, cụ thể: số tiền 4.067.000.000 đồng cho bà Lê Thị Bích T và số tiền 5.484.500.000 đồng cho Công ty N mà bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4.2] Xử lý vật chứng: lưu theo hồ sơ vụ án.
[4.3] Về án phí: bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm n điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Đoàn Thị H 16 (mười sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2022.
Buộc bị cáo phải trả lại cho:
- Bà Lê Thị Bích T số tiền 4.067.000.000 đồng.
- Công ty N số tiền 5.484.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 127.551.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 60/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 60/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 25/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về