TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 502/2023/HS-ST NGÀY 29/09/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 29/9/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 377/2023/TLST-HS ngày 22/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 578/2023/QĐXXST-HS ngày 06/9/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 377/HSST – QĐ ngày 25/9/2023 đối với bị cáo:
Lương Tiến C , sinh năm 1992 tại Yên Bái; Nơi ĐKHKTT: Thôn ĐK 1, xã TH, huyện YB, tỉnh Yên Bái; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Con ông: Lương Văn C; Con bà: Dương Thị Thu H; Vợ: Vương Thị Minh Tr (đã ly hôn); Có 01 con: sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2015/HSST ngày 29/5/2015 của Tòa án nhân dân quận NTL , thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng về tội “Cướp giật tài sản” (đã xóa án tích).
Bị cáo bị bắt truy nã và tạm giam từ ngày 01/3/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
1. Bà Lăng Thuỳ Mỹ T , sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp ĐT , xã VT , huyện NT, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa).
2. Ông Phạm Thiết T , sinh năm 1991; địa chỉ: 414 ấp Đông Hoà, xã Thạch Đông B, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
3. Ông Trần Thái N , sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn TL 1, Ea Kuăng, huyện Krông Pắc, tỉnh Đak Lak. (Vắng mặt tại phiên tòa).
4. Ông Trương Minh T , sinh năm 1991; địa chỉ: 658, ấp 5A, thị trấn GT , GT , tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt tại phiên tòa).
5. Ông La Hoài T , sinh 1992; địa chỉ: 311/AL, xã An Thuỷ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
6. Ông Đỗ Anh H , sinh năm 1992; địa chỉ: 12/15 đường số 9, khu phố 3, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa).
7. Ông Võ Ngọc S , sinh năm 1993; địa chỉ: 551/99 Lê Văn Khương, khu phố 5, phường Hiệp Thành, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
8. Ông Huỳnh Phước L , sinh năm 1988; địa chỉ: tổ 23 khối phố BP , thị trấn Tiên Kỳ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt tại phiên tòa).
9. Ông Lê Nhật T , sinh năm 1991; địa chỉ: ấp 1, xã PN , huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt tại phiên tòa).
10. Bà Võ Thị Thanh H , sinh năm 1990; địa chỉ: Lô 45-18-2 đường N14, KCN PĐ , xã PĐ , huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt tại phiên tòa).
11. Bà Trần Thị M , sinh năm 1989; địa chỉ: Hoá Trung, Đông Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa).
12. Bà Đặng Thị S , sinh năm 1990; địa chỉ: Thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt tại phiên tòa).
13. Bà Nguyễn Thị B , sinh năm 1990, địa chỉ: xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
14. Bà Trần Thị Thu T , sinh năm 1990; địa chỉ: xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa).
15. Bà Nguyễn Thị Ánh N , sinh năm 1985; địa chỉ: phường Hiệp Thanh, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa).
16. Bà Đỗ Thị H , sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Thuận An, xã Thái Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
17. Bà Đặng Thị O , sinh năm 1984; xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).
18. Bà Nguyễn Thị Thu T , sinh năm 1990; địa chỉ: xã Phú Hoà Đông, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Văn Thịnh Đ , sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Thạch Tiến, xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. (Vắng mặt tại phiên tòa).
2. Ông Nguyễn Bá S , sinh năm 1985; địa chỉ: phố 5, phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá. (Có mặt tại phiên tòa).
3. Bà Nguyễn Thị Thu H , sinh năm 1984; địa chỉ: P2418, Toà A chung cư Hồ Gươm Plaza, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
4. Bà Phạm Thị Quỳnh T , sinh năm 1985; địa chỉ: Nhà số 11, ngõ 11, ngách 18 Tô Ngọc Vân, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội; Giám đốc Công ty TNHH Dịch Thuật Gia Huy. (Vắng mặt tại phiên tòa).
5. Bà Lăng Thuỳ Mỹ T , sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp ĐT , xã VT , huyện NT, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo:
Luật sư Nguyễn Chí C – Văn phòng luật sư TC, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/12/2020 và ngày 28/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội và Công an quận NTL , thành phố Hà Nội nhận được đơn của chị Lăng Thuỳ Mỹ T (sinh năm: 1992, trú quán: Số 15 Ấp ĐT , xã VT , huyện NT, tỉnh Đồng Nai) đại diện cho 09 cá nhân khác và đơn của ông Nguyễn Bá S (sinh năm: 1985, trú tại: phố 5, phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) đại diện cho 08 cá nhân khác tố cáo Lương Tiến C (sinh năm: 1992, trú tại: Thôn Đào Kiều 1, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái) có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc đưa ra thông tin gian dối có khả năng đưa được người đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản để chiếm đoạt tiền.
Quá trình điều tra xác định:
Lương Tiến C là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Năm 2020, để có tiền chi tiêu cá nhân, Lương Tiến C đã đưa ra thông tin gian dối về bản thân đang làm việc tại các Công ty có Giấy phép xuất khẩu lao động tại Nhật Bản để các cá nhân có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tin tưởng nộp tiền. Sau khi nhận tiền, C không thực hiện như hứa hẹn cam kết mà chiếm đoạt tiền của họ. Với phương thức và thủ đoạn trên, trong khoảng thời gian từ tháng 4/2020 đến tháng 5/2020, Lương Tiến C đã chiếm đoạt tổng số 1.006.510 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân, cụ thể:
I. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Lăng Thùy Mỹ Tr (sinh năm:
1992, trú tại: Ấp ĐT , xã VT , huyện NT, tỉnh Đồng Nai số tiền 42.480.000 đồng và 09 trường hợp khác thông qua việc chuyển số tiền 588.180.000 đồng cho chị T .
Đầu năm 2020, chị Lăng Thùy Mỹ Tr đi phỏng vấn để xuất khẩu lao động tại Công ty xuất khẩu lao động Midori (địa chỉ: số 4, ngách 15/4, ngõ 15 đường Hàm Nghi, quận NTL , Hà Nội) và gặp Lương Tiến C . C tự giới thiệu với chị T , C là nhân viên của Công ty TNHH Tư vấn du học và cung ứng nhân lực quốc tế PTO TQ (gọi tắt là Công ty TQ ). C giới thiệu hiện Công ty TQ đang có đơn hàng xuất khẩu lao động sang Nhật Bản làm việc tại Công ty TNHH Pastone Aichi (địa chỉ: 6-8 Takami, Ikishiyamacho, Tp Anjo, tỉnh Aichi), với mức lương 187.000 Yên/tháng. Ngoài ra, C còn thỏa thuận với chị T , nếu chị T giới thiệu người đi xuất khẩu lao động cho C , người lao động nộp đủ 2.500 USD phí dịch vụ, C sẽ trả phí môi giới cho chị T là 15.000.000 đồng/trường hợp.
Tin tưởng thông tin Lương Tiến C giới thiệu là thật, bản thân chị T cũng có nhu cầu đi xuất khẩu lao động nên chị T đã chuyển cho C số tiền 42.480.000 đồng để đặt cọc. Ngoài ra, chị T còn giới thiệu thông tin trên cho 09 người lao động khác là người quen của chị T cũng có nhu cầu đi xuất khẩu tại Nhật Bản. Chị T đã nhận của mỗi cá nhân này số tiền 2.500 USD. Thời điểm đó C đưa ra tỷ giá quy đổi đồng Đôla Mỹ ra tiền Việt Nam đồng với chị T là 23.650 đồng/USD. Chị T đã nhận tiền của các trường hợp sau:
1. Anh Phạm Thiết T (sinh năm: 1991, trú tại: 414 ấp ĐH , xã Thạnh Đông B, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang);
2. Anh Trần Thái N (sinh năm: 1994, trú tại: 651/AL, xã AT , huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre);
3. Anh Trương Minh T (sinh năm: 1991, trú tại: Số 658, ấp 5A, thị trấn GT , huyện GT , tỉnh Bến Tre);
4. Anh La Hoài T (sinh năm: 1992, trú tại: Số 311/AL, xã AT , huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre);
5. Anh Đỗ Anh H (sinh năm: 1992, trú tại: Số 12/15 đường số 9, khu phố 3, phường Linh Trung, TP Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh);
6. Anh Võ Ngọc S (sinh năm: 1993, trú tại: thôn TL 1, xã Ea Kuăng, huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk);
Với 06 trường hợp trên, chị T nhận của mỗi người số tiền là 59.125.000 đồng.
7. Anh Huỳnh Phước L (sinh năm: 1988, trú tại: Tổ 23 khối phố BP , Thị trấn Tiên Kỳ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam), chuyển cho chị T số tiền 59.130.000 đồng;
8. Anh Lê Nhật T (sinh năm: 1991, trú tại: Ấp 1, xã PN , huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp), chuyển cho chị T số tiền 47.300.000 đồng;
9. Chị Võ Thị Thanh H (sinh năm: 1990, trú tại: Lô 45-18-2, đường N14, KCN PĐ , xã PĐ , huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh) có nhu cầu xuất khẩu lao động Nhật Bản theo diện kỹ sư điện tử. C nói với chị T chi phí là 4.000 USD tương đương 92.000.000 đồng. Chị T đã nhận của chị Hương số tiền 92.000.000 đồng.
Tổng số tiền chị T nhận của 09 người lao động là 553.180.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản.
Sau khi nhận tiền của 09 người lao động trên, từ ngày 26/3/2020 đến ngày 02/6/2020, chị T đã chuyển tổng số 595.660.000 đồng (gồm cả số tiền chị T đặt cọc trước đó) từ tài khoản số 19025100172015 mang tên chị T mở tại ngân hàng TechcomBank đến tài khoản số 19034679640022 mang tên Lương Tiến C mở tại ngân hàng TechcomBank.
Theo thỏa thuận, từ ngày 28/4/2020 đến ngày 01/7/2020, Lương Tiến C đã 04 lần chuyển tiền hoa hồng cho chị T với tổng số là 65.000.000 đồng thông qua hình thức chuyển khoản. Ngoài ra, do không lo được thủ tục cho chị Võ Thị Thanh H đi lao động tại Nhật Bản theo diện kỹ sư, nên ngày 02/7/2020, C đã chuyển khoản cho chị T số tiền 40.000.000 đồng để chị T trả lại cho chị Võ Thị Thanh H và chị T đã trả lại cho chị Hương.
Để người lao động và chị T tin tưởng, sau khi nộp tiền, C đã lợi dụng việc C có mối quan hệ quen biết từ trước với ông Văn Thịnh Đ là Giám đốc Công ty TQ , có địa chỉ trụ sở tại: BT12A, Vinaconex Trung Văn, phường Trung Văn, quận NTL , Hà Nội, cũng như việc ông Đ sơ hở trong việc quản lý con dấu công ty. C đã dùng con dấu của Công ty TQ đóng dấu sẵn lên một tờ giấy A4 chưa có nội dung và đóng dấu treo trên một quyển phiếu thu, với mục đích để viết phiếu thu tiền cho các lao động. C tự nghĩ ra tên người lập phiếu là Vũ Kim D và tự ký và viết tên Vũ Kim D dưới mục “Người lập phiếu”. Sau đó, C nhờ một người quen (hiện không xác định thông tin) ký giả chữ ký của ông Văn Thịnh Đ dưới mục “Giám đốc”, còn C ký dưới mục người nộp tiền trên các phiếu thu. Đồng thời, C tự đánh máy thông báo và cam kết thể hiện nội dung: “Công ty TQ cam kết các cá nhân sẽ được xuất cảnh trước ngày 20/11/2020” và in nội dung này trên những tờ giấy A4 đã được C đóng con dấu của Công ty TQ trước đó. C nhờ người ký giả chữ ký của ông Văn Thịnh Đ là Giám đốc trên thông báo, cam kết này và chuyển qua đường bưu điện cho chị Lăng Thùy Mỹ Tr, mục đích để chị T đưa lại cho những người lao động tin về việc C có thể đưa người đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản.
Lương Tiến C đã chuyển cho chị T các giấy tờ sau: 07 phiếu thu tiền mang tên Phạm Viết Tạo, Trần Thái N , Trương Minh T , La Hoài T , Huỳnh Phước L , Đỗ Anh H , Võ Ngọc S ; 01 Thông báo đơn hàng Tokutei cơ khí tỉnh Aichi ngày 07/10/2020; 01 bản cam kết đơn hàng Tokutei cơ khí tỉnh Aichi ngày 07/10/2020; Riêng trường hợp của chị T đã nộp tiền đặt cọc đi xuất khẩu lao động cho C , do chị T tin tưởng C nên chị T không yêu cầu C đưa phiếu thu;
còn trường hợp của anh Lê Nhật T , C chuyển hình ảnh phiếu thu chưa đóng dấu được chụp qua điện thoại.
Đến hạn cam kết không thấy được đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, cũng như không thấy C báo lịch bay nên những người lao động này đã yêu cầu chị T trả lại tiền. Chị T hỏi, C nói lý do dịch Covid-19 nên bị chậm trễ. Chị T yêu cầu C trả lại tiền nhưng C nói nếu lấy lại tiền sẽ bị phạt phí; C tiếp tục bảo chị T nói với người lao động, nếu mỗi người đóng thêm 5.000.000 đồng, C cam kết đến trước ngày 20/11/2020 sẽ được đi lao động tại Nhật Bản theo đơn hàng Tokutei cơ khí tỉnh Aichi, Nhật Bản. Khi thấy C trao đổi như vậy, chị T tin tưởng và thông báo lại cho những người lao động. Trong số đó có 07 người đồng ý đóng thêm mỗi người 5.000.000 đồng gồm: Phạm Thiết T , Trần Thái N , Trương Minh T , La Hoài T , Huỳnh Phước L , Đỗ Anh H và Võ Ngọc S . Ngày 09/10/2020, chị T tiếp tục chuyển khoản số tiền 35.000.000 đồng cho Lương Tiến C .
Đến ngày 20/11/2020, các lao động trên vẫn không được đi, chị T gọi điện cho C nhưng không liên lạc được. Sau đó chị T đến Công ty TQ ở BT12A, Vinaconex Trung Văn, phường Trung Văn, quận NTL , Hà Nội và thấy trụ sở đã đóng cửa, không còn hoạt động. Ngày 27/01/2021, chị T làm đơn trình báo đến Cơ quan Công an thành phố Hà Nội.
Do C không đưa được 09 cá nhân trên đi lao động tại Nhật Bản nên từ ngày 29/3/2021 đến ngày 16/11/2021, chị Lăng Thùy Mỹ Tr đã chủ động bỏ tiền cá nhân chuyển khoản trả cho những người lao động trên, với tổng số tiền là 318.380.000 đồng, cụ thể: trả cho anh Phạm Thiết T 29.000.000 đồng; anh Trần Thái N 29.125.000 đồng; anh Trương Minh T 25.125.000 đồng; anh La Hoài T 39.000.000 đồng; anh Huỳnh Phước L 25.130.000 đồng; anh Đỗ Anh H 29.000.000 đồng; anh Võ Ngọc S 50.000.000 đồng và chị Võ Thị Thanh H 92.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, các anh Phạm Thiết T , Trần Thái N , Trương Minh T , La Hoài T , Huỳnh Phước L , Đỗ Anh H , Võ Ngọc S , chị Võ Thị Thanh H khai phù hợp với lời khai của chị Lăng Thùy Mỹ Tr, phù hợp với sao kê tài khoản ngân hàng, những người lao động đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật và yêu cầu Lương Tiến C phải trả lại hết số tiền, cụ thể: anh Phạm Thiết T yêu cầu trả lại 35.125.000 đồng; anh Huỳnh Phước L yêu cầu trả lại 34.000.000 đồng; anh Lê Nhật T yêu cầu trả lại 47.300.000 đồng; anh Trương Minh T yêu cầu trả lại 39.000.000 đồng; Đỗ Anh H yêu cầu trả lại 35.125.000 đồng; anh Võ Ngọc S yêu cầu trả lại 13.000.000 đồng; anh Trần Thái N yêu cầu trả lại 35.000.000 đồng; anh La Hoài T yêu cầu trả lại 25.000.000 đồng;
Từ ngày 12/5/2022 đến ngày 12/7/2022, sau nhiều lần đòi tiền, Lương Tiến C đã 06 lần chuyển khoản trả cho chị T , với tổng số tiền là 22.000.000 đồng. Chị T yêu cầu Lương Tiến C phải trả cho chị T số tiền còn lại 503.660.000 đồng để chị T trả lại cho các lao động.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Lương Tiến C khai nhận hành vi phạm tội. C khai: Năm 2018, qua quan hệ xã hội, C quen biết với Nguyễn Anh H (sinh năm: 1990, quê ở Nghệ An, không biết thông tin, địa chỉ cụ thể). H giới thiệu là du học sinh và đang làm việc tại Nhật Bản, có đầu mối để lo cho người Việt Nam đi lao động tại Nhật Bản. Do vậy C đã đưa ra thông tin gian dối về việc C là nhân viên của Công ty TQ và có các đơn hàng đi xuất khẩu lao động để chị Lăng Thùy Mỹ Tr giới thiệu cho những người lao động nộp tiền. Trên thực tế C không làm việc ở Công ty TQ . Sau khi nhận được tiền của những người lao động, C đã đưa cho H tổng số là 378.000.000 đồng tiền mặt để nhờ H làm thủ tục cho những người lao động đi xuất khẩu (nhưng C không có tài liệu chứng minh), số tiền còn lại C sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Do C quen biết với Văn Thịnh Đ là Giám đốc Công ty TQ nên C đã đưa các lao động đến Công ty để họ xem và tạo lòng tin với các lao động; Đối với phiếu thu có đóng dấu của Công ty TQ là do trước đó C mua quyển phiếu thu. Sau đó, khi đến Công ty TQ chơi, C đã tự ý lấy con dấu để đóng sẵn lên quyển phiếu thu này, nhưng ông Đ (Giám đốc) không biết, không liên quan đến hành vi của C . Theo hẹn, chị T hỏi C về việc đi xuất khẩu của các lao động, C gọi điện cho H nhưng không liên lạc được nên C đã bỏ trốn lang thang nhiều nơi. Đến ngày 01/3/2023, C bị bắt theo quyết định truy nã.
Tại Cơ quan điều tra, ông Văn Thịnh Đ - Giám đốc công ty TNHH tư vấn du học và cung ứng nhân lực quốc tế PTO TQ khai: Lương Tiến C không phải nhân viên của công ty TQ . Ông Đ quen biết C qua bà Nguyễn Thị Thu H (sinh năm: 1984, trú tại: P2418, tòa A Chung cư Hồ Gươm Plaza, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, TP Hà Nội – là người yêu của C ) từ khoảng tháng 9/2018 cho đến nay, giữa hai bên chỉ là mối quan hệ xã hội. Công ty TQ không có giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Công ty hoạt động trong lĩnh vực giới thiệu, môi giới cho người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thông qua các công ty có giấy phép. Quá trình hoạt động, công ty chưa giới thiệu, chưa môi giới cho cá nhân đi làm việc ở nước ngoài. Công ty TQ không ký kết hợp đồng và không nhận tiền của chị Lăng Thùy Mỹ Tr, cũng như của 09 người liên quan trên. Ông Đ không biết việc C mượn danh nghĩa công ty TQ để cam kết đưa các cá nhân này đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, không biết việc con dấu của công ty TQ có trên Thông báo đơn hàng Tokutei cơ khí Aichi ngày 07/10/2020 và Cam kết đơn hàng Tokutei cơ khí tỉnh Aichi ngày 07/10/2020 do chị Lăng Thùy Mỹ Tr cung cấp. Ngoài ra, ông Đ khai, khi chuẩn bị thành lập công ty TQ , ông Đ có nhờ Nguyễn Thị Thu H làm thủ tục thành lập doanh nghiệp và đăng ký con dấu cho ông Đ .
Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị Thu H khai: Bà H với Lương Tiến C quen biết quan hệ tình cảm với nhau, bà H thừa nhận ông Văn Thịnh Đ có nhờ bà H làm thủ tục thành lập doanh nghiệp và đăng ký con dấu công ty. Sau khi đăng ký được con dấu, bà H đã đưa lại cho ông Đ . Bà H không biết việc C lợi dụng danh nghĩa Công ty TQ để nhận tiền của người lao động.
Tại Bản Kết luận giám định số 3662/KL-KTHS ngày 07/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận:
“1. Hình dấu tròn “CÔNG TY TNHH TƯ VẤN DU HỌC VÀ CUNG ỨNG NHÂN LỰC QUỐC TẾ PTO TQ ” trên các mẫu cần giám định là “Phiếu thu tiền mang tên Phạm Thiết T , Trần Thái N , Trương Minh T , La Hoài T , Huỳnh Phước L , Đỗ Anh H , Võ Ngọc S , Thông báo đơn hàng Tokutei cơ khí Aichi ngày 07/10/2020, Cam kết đơn hàng Tokutei cơ khí tỉnh Aichi ngày 07/10/2020” với hình dấu tròn “CÔNG TY TNHH TƯ VẤN DU HỌC VÀ CUNG ỨNG NHÂN LỰC QUỐC TẾ PTO TQ ” trên mẫu so sánh “Biên bản lấy mẫu chữ ký, con dấu ngày 11/10/2021” là do cùng một con dấu đóng ra.
2. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Văn Thịnh Đ dưới chữ ký trên các mẫu giám định gồm: “Phiếu thu tiền mang tên Phạm Thiết T , Trần Thái N , Trương Minh T , La Hoài T , Huỳnh Phước L , Đỗ Anh H , Võ Ngọc S ; Thông báo đơn hàng Tokutei cơ khí tỉnh Aichi ngày 07/10/2020 và Cam kết đơn hàng Tokutei cơ khí tỉnh Aichi ngày 07/10/2020” không phải là chữ ký, chữ viết của Văn Thịnh Đ .
3. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Lương Tiến C dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định gồm “Phiếu thu tiền mang tên Phạm Thiết T , Trần Thái N , Trương Minh T , La Hoài T , Huỳnh Phước L , Đỗ Anh H , Võ Ngọc S , và Đề nghị kiêm hợp đồng mở tài khoản và sử dụng dịch vụ tài khoản (dành cho KHCN từ đủ 15 tuổi trở lên) ngày 14/8/2019 của khách hàng Lương Tiến C mở tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam” chữ ký, chữ viết đứng tên Lương Tiến C trên mẫu so sánh “Tờ khai (Dùng cho công dân Việt Nam đề nghị cấp, sửa đổi hộ chiếu phổ thông ở trong nước)” và chữ viết phần nội dung, chữ viết dòng họ tên Lương Tiến C dưới chữ ký trên mẫu so sánh Tờ khai chứng minh nhân dân của Lương Tiến C là chữ do cùng một người ký và viết ra”.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Cục Lao động ngoài nước - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xác định: Công ty TNHH tư vấn du học và cung ứng nhân lực quốc tế PTO TQ không có giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Như vậy, Lương Tiến C đã đưa ra các thông tin gian dối về việc đưa được người đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản để nhận tiền và chiếm đoạt tiền của họ sử dụng cho mục đích cá nhân. Thông qua chị Lăng Thùy Mỹ Tr, C đã nhận của 09 người bị hại với tổng số tiền là 588.180.000 đồng và nhận của chị T 42.480.000 đồng để xin cho chị T đi xuất khẩu lao động nhưng cũng không thực hiện được. Tổng số tiền C đã chiếm đoạt là 630.660.000 đồng; Hiện đã khắc phục 127.000.000 đồng (trong đó có 65.000.000 đồng tiền hoa hồng C trả cho chị T ), còn 503.660.000 đồng chưa khắc phục hậu quả.
Mặc dù chị T sau khi nhận tiền của người lao động để chuyển cho C và được C trích lại hoa hồng, tuy nhiên quá trình điều tra xác định chị T tin tưởng các thông tin C đưa ra là thật, bản thân chị T cũng là bị hại trong vụ án; chị T không biết việc C đưa ra các thông tin gian dối mục đích để chiếm đoạt tiền, do vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với chị T với vai trò đồng phạm.
Tài liệu điều tra không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Văn Thịnh Đ và Nguyễn Thị Thu H .
II. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 375.850.000 đồng của 08 người lao động thông qua ông Nguyễn Bá S (sinh năm: 1985, trú tại: phố 5 phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
Thông qua mối quan hệ xã hội, ông Nguyễn Bá S quen biết Lương Tiến C . C giới thiệu với ông S , C là nhân viên của Công ty TNHH tư vấn du học và cung ứng nhân lực quốc tế PTO TQ . Công ty có đơn hàng may tại Nhật Bản, nếu ông S biết người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động, giới thiệu cho C thì C sẽ trả tiền hoa hồng cho ông S (không có số lượng cụ thể). Tin tưởng những thông tin C giới thiệu là thật nên trong ngày 11/5/2020 và ngày 21/5/2020, ông S đã giới thiệu cho 08 người lao động đến Công ty TQ tại địa chỉ BT12A, Vinaconex Trung Văn, phường Trung Văn, quận NTL , Hà Nội để gặp Lương Tiến C . Gồm:
1. Chị Trần Thị M (sinh năm: 1989, trú tại: xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên);
2. Chị Đặng Thị S (sinh năm: 1990, trú tại: thôn Nghiêm Xá, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh);
3. Chị Nguyễn Thị B (sinh năm:1990, trú tại: Số nhà 117, ngõ 22, Dương Lâm, phường Văn Quán, quận Hà Đông, Hà Nội);
4. Chị Trần Thị Thu T (sinh năm: 1990, trú tại: tổ 14, khu phố 2, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai);
5. Chị Nguyễn Thị Ánh N (sinh năm: 1985, trú tại: số 567/185 Lê Văn Khương, phường Hiệp Thành, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh);
6. Chị Đỗ Thị H (sinh năm: 1984, trú tại: Thôn Kiều Mọc, xã Cổ Đô, huyện Ba Vì, Hà Nội);
7. Chị Đặng Thị O (sinh năm: 1984, trú tại: thôn Phú Nghĩa, xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, Hà Nội);
8. Chị Nguyễn Thị Thu T (sinh năm: 1990, trú tại: Số nhà 520, đường 438, Ấp Phú Mỹ, xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh).
Tại đây, C tư vấn chương trình đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản cho họ và cam kết đến tháng 10/2020, C sẽ đưa được người lao động sang Nhật Bản theo đơn hàng may. C yêu cầu mỗi lao động nộp số tiền 2.000 USD, tương đương khoảng 47.000.000 đồng (tỷ giá thời điểm do tự C đưa ra là 23.500 đồng/USD).
Ngày 18/4/2020, các chị Trần Thị M , Đặng Thị S , Đỗ Thị H đóng tiền cọc cho ông S , mỗi người 10 triệu đồng; chị Trần Thị Thu T , Nguyễn Thị Thu T và Nguyễn Thị Ánh N đóng tiền cọc cho ông S , mỗi người 5 triệu đồng. Trong các ngày 27/4/2020 và ngày 28/4/2020, ông S đã chuyển cho C 45.000.000 đồng gồm: Chuyển từ tài khoản số 2715205305990 của ông S mở tại ngân hàng AgriBank đến tài khoản số 19034679640022 của Lương Tiến C mở tại ngân hàng TechcomBank, tổng số là 40 triệu đồng và chuyển 5.000.000 đồng tiền mặt.
Ngày 11/5/2020, chị Trần Thị Thu T chuyển số tiền 41.900.000 đồng cho C từ tài khoản số 19034789814018 mở tại ngân hàng TechcomBank đến tài khoản số 19034679640022 mở tại ngân hàng TechcomBank; Ngày 14/5/2020 và ngày 21/5/2020, chị Trần Thị M nộp cho C 37 triệu đồng; chị Đặng Thị S nộp cho C 37 triệu đồng; chị Nguyễn Thị Thu T nộp cho C 42 triệu đồng; chị Đỗ Thị H nộp cho C 37 triệu đồng; chị Nguyễn Thị Ánh N nộp cho C 42 triệu đồng; chị Đặng Thị O nộp cho C 46.950.000 đồng; chị Nguyễn Thị B nộp cho C 47 triệu đồng. Tổng số tiền C đã nhận của 08 người lao động là 375.850.000 đồng.
Để các lao động tin tưởng, C đã viết phiếu thu số tiền 2.000 USD, lý do thu: Tài chính lần 1, trên phiếu thu có đóng dấu treo của Công ty TNHH Dịch thuật Gia Huy và chuyển kèm cho các bị hại Bản cam kết có nội dung: Ngày 21/5/2020, nhận của 08 lao động mỗi lao động 2.000 USD và hồ sơ để lo cho các lao động đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản theo đơn hàng “may quay lại 2 năm”. Dự kiến lịch bay là tháng 10, nếu tháng 10 lao động không bay được, sẽ hoàn lại toàn bộ số tiền và hồ sơ cho lao động, nếu không thực hiện đúng theo những điều trong cam kết, xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Theo thỏa thuận từ trước, C đã chuyển cho ông Nguyễn Bá S số tiền 71.760.000 đồng là tiền công môi giới bằng hình thức chuyển khoản.
Quá thời hạn cam kết, các lao động không thấy được đi xuất khẩu tại Nhật Bản, ông S đã cùng những người lao động đến Công ty TQ tìm gặp Lương Tiến C nhưng không gặp được, gọi điện thoại không liên lạc được. Ngày 12/12/2020, ông S và các người lao động trên đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận NTL . Do không đưa được những người lao động đi xuất khẩu nên ngày 23/12/2020, ông Nguyễn Bá S đã tự nguyện bỏ tiền cá nhân chuyển khoản trả lại tiền cho lao động trên, mỗi lao động với số tiền là 8.000.000 đồng, tổng cộng là 64 triệu đồng.
Tại Cơ quan điều tra, ông Nguyễn Bá S và 08 người lao động khai phù hợp với nội dung nêu trên và phù hợp với các sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu thu giữ. Hiện các người bị hại và ông Nguyễn Bác Sỹ đề nghị xử lý Lương Tiến C theo quy định của pháp luật và yêu cầu C phải hoàn trả tổng số tiền là 311.850.000 đồng, cụ thể: Chị Trần Thị M , Đặng Thị S , Nguyễn Thị B , Nguyễn Thị Ánh N , Đỗ Thị H , Nguyễn Thị Thu T yêu cầu trả lại mỗi người 39 triệu đồng; chị Trần Thị Thu T yêu cầu trả lại 38.900.000 đồng; chị Đặng Thị O yêu cầu trả lại 38.950.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Lương Tiến C khai nhận, thông qua Nguyễn Anh H, C đã đưa ra thông tin đối với ông Nguyễn Bá S và 08 người lao động nêu trên. Để tạo lòng tin cho người lao động, C đã đưa họ đến Công ty TQ để tư vấn và giới thiệu đơn hàng. Sau khi nhận được tiền của những người lao động, C đã đưa cho H tổng số là 266.490.000 đồng để nhờ H làm thủ tục cho 08 người lao động đi xuất khẩu, số tiền còn lại C sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Khi C đưa tiền cho H bằng tiền mặt và không có giấy tờ biên nhận, không có người chứng kiến. Đối với các phiếu thu có đóng dấu treo của Công ty TNHH Dịch thuật Gia Huy là do ông S đưa cho C để C viết.
Quá trình điều tra, ông Nguyễn Bá S trình bày, các phiếu thu trên là do C chuẩn bị sẵn để đưa cho những người lao động. Ông S không biết nguồn gốc các phiếu thu này.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho ông Nguyễn Bá S đối chất với Lương Tiến C , kết quả các bên vẫn giữ nguyên lời khai như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 3440 ngày 27/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội và Bản Kết luận giám định số 3347 ngày 15/5/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Hình dấu tròn Công ty TNHH dịch thuật Gia Huy trên các phiếu thu tiền do các bị hại giao nộp là hình dấu của Công ty TNHH dịch thuật Gia Huy; Chữ ký, chữ viết đứng tên Lương Tiến C dưới mục người cam kết trên các Bản cam kết ngày 14/5/2020 và ngày 21/5/2020 là chữ ký, chữ viết của Lương Tiến C .
Tại Cơ quan điều tra, bà Phạm Thị Quỳnh T - Giám đốc Công ty TNHH Dịch thuật Gia Huy trình bày: Bà Trang không quen biết C và Công ty TNHH Dịch thuật Gia Huy không có nhân viên tên Lương Tiến C và Nguyễn Bá S ; Công ty không cung cấp phiếu thu và không thu tiền của những người lao động, bà Trang không biết lý do hình dấu của Công ty TNHH Dịch thuật Gia Huy có trên các phiếu thu tiền. Từ trước đến nay, con dấu của Công ty do bà Trang quản lý, sử dụng và chưa từng làm mất, thất lạc hoặc cho mượn con dấu. Kết quả điều tra không có căn cứ để xác định người đã cung cấp nguồn gốc các phiếu thu đóng dấu Công ty TNHH Dịch thuật Gia Huy cho Lương Tiến C , nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Như vậy, Lương Tiến C đã đưa ra các thông tin gian dối về việc đưa được người đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản để nhận tiền và chiếm đoạt tiền của họ sử dụng cho mục đích cá nhân. Thông qua ông Nguyễn Bá S , C đã nhận của 08 người bị hại với tổng số tiền là 375.850.000 đồng; Sau khi người lao động không được đi, ông S đã bỏ ra 64.000.000 đồng để trả cho 08 người bị hại. Tổng số tiền C đã chiếm đoạt là 375.850.000 đồng. Hiện các bị hại yêu cầu C phải trả tổng số 311.850.000 đồng.
Mặc dù ông S có thỏa thuận với C sau khi nhận tiền của người lao động để chuyển cho C và được C trích lại hoa hồng, tuy nhiên quá trình điều tra xác định ông S tin tưởng các thông tin C đưa ra là thật; ông S không biết việc C đưa ra các thông tin gian dối mục đích để chiếm đoạt tiền, do vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với ông S với vai trò đồng phạm.
Tại bản Cáo trạng số 357/CT-VKS-P3 ngày 14/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố: Lương Tiến C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Lương Tiến C nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và không có ý kiến gì về tội danh, điều khoản luật mà Viện kiểm sát áp dụng truy tố bị cáo. Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
Những người bị hại có mặt tại phiên tòa đều có ý kiến trình bày: Nhất trí với Cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị xét xử bị cáo theo qui định của pháp luật. Về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho những người bị hại toàn bộ số tiền mà bị cáo đã lừa đảo của họ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa: Sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lương Tiến C và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lương Tiến C từ 13 năm đến 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585; 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt chưa bồi thường.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Không.
+ Người bào chữa cho bị cáo Lương Tiến C là Luật sư Nguyễn Chí C có quan điểm: Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị ung thư phải điều trị bệnh viện dài ngày, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục được một phần hậu quả nên được áp dụng tình tiết khắc phục một phần hậu quả tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cho bị cáo có cơ hội cải tạo, trở về chăm sóc bố mẹ già và con nhỏ.
Bị cáo Lương Tiến C nhất trí với quan điểm bào chữa của Luật sư tại phiên tòa và không có bổ sung, tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội và tội danh:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà, thấy phù hợp với lời khai của chính bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu được, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Mặc dù không có chức năng đưa người đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản nhưng do cần tiền để chi tiêu cá nhân, Lương Tiến C đã đưa ra thông tin gian dối với chị Lăng Thùy Mỹ Tr và ông Nguyễn Bá S về việc C là nhân viên và đang làm việc tại Công ty TNHH Tư vấn du học và cung ứng nhân lực quốc tế PTO TQ , Công ty có đơn hàng xuất khẩu lao động sang Nhật Bản. C đưa ra mức thu với mỗi lao động từ 2.000USD đến 2.500USD. C cam kết sau khoảng tháng 10, tháng 11 năm 2020 người lao động sẽ sang Nhật Bản và hưởng lương khoảng 180.000 Yên/tháng. Với thủ đoạn trên, trong khoảng thời gian từ ngày 06/4/2020 đến ngày 21/5/2020, Lương Tiến C đã nhận và chiếm đoạt của chị Lăng Thùy Mỹ Tr và 09 người lao động qua chị Lăng Thùy Mỹ Tr với tổng số tiền là 630.660.000 đồng và chiếm đoạt của 08 người lao động thông qua ông Nguyễn Bá S giới thiệu với số tiền là 375.850.000 đồng. Tổng số tiền C đã chiếm đoạt của các bị hại là 1.006.510.000 đồng. Hiện C đã trả cho chị Lăng Thùy Mỹ Tr số tiền 127.000.000 đồng là tiền hoa hồng, chị T đã trả cho 8 bị hại tổng số 318.380.000 đồng là số tiền chị T tự bỏ tiền ra trả cho các bị hại; C trả cho anh Nguyễn Bá S 71.600.000 đồng, anh Sỹ trả cho 8 bị hại mỗi bị hại 8.000.000 đồng. Số tiền C còn phải bồi thường cho 17 bị hại và trả cho chị T với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 801.500.000 đồng.
Với hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên, Lương Tiến C đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Mặc dù không có chức năng đưa người đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản nhưng do cần tiền để chi tiêu cá nhân, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối với bị hại mình có thể đưa người sang lao động tại Nhật Bản để họ tin và chuyển tiền cho bị cáo và chiếm đoạt tiền của 18 bị hại với số tiền 1.006.510.000 đồng, đến nay mới trả được 191.000.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên” qui định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại lớn về tài sản cho các bị hại. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Cho đến thời điểm hiện tại, bị cáo mới trả cho chị T 127.000.000 đồng (tiền hoa hồng) để trả cho 8 số bị hại; C trả cho anh Nguyễn Bá S 71.600.000 đồng (tiền hoa hồng), anh Sỹ trả cho 8 bị hại mỗi bị hại 8.000.000 đồng, còn nợ 17 bị hại số tiền là 801.500.000 đồng. Hiện nay, bị cáo chưa bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra.
Với hành vi phạm tội của bị cáo như trên, cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu: Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2015/HSST ngày 29/5/2015 của Tòa án nhân dân quận NTL , thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng về tội “Cướp giật tài sản” (đã xóa án tích). Bị cáo đã bị xét xử hình sự nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải, biết hối lỗi và ân hận do hành vi phạm tội của mình gây ra; đã khắc phục được số tiền 127.000.000 đồng (tiền hoa hồng), cho chị Lăng Thùy Mỹ Tr; trả cho anh Nguyễn Bá S 71.600.000 đồng (tiền hoa hồng) để họ trả cho các bị hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Từ ngày 06/4/2020 đến ngày 21/5/2020, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo đối với 18 bị hại, mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đều cấu thành một tội phạm độc lập. Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “phạm tội 2 lần trở lên”.
[5] Các vấn đề khác của vụ án: Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Đối với các bị hại ở nhóm xuất khẩu lao động do chị Lăng Thùy Mỹ Tr giới thiệu: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã chuyển cho chị T 127.000.000 đồng, chị T đã trả cho 1 số bị hại. Cụ thể: anh Phạm Thiết T :
29.000.000 đồng; Anh Trần Thái N : 29.125.000 đồng; anh Trương Minh T :
25.125.000 đồng; anh La Hoài T : 39.000.000 đồng; anh Đỗ Anh H 29.000.000 đồng; anh Võ Ngọc S 50.000.000 đồng; anh Huỳnh Phước L : 25.130.000 đồng; chị Võ Thị Thanh H 92.000.000 đồng. Nay các bị hại yêu cầu bị cáo trả số tiền còn lại là: anh Phạm Thiết T : 35.125.000 đồng; Anh Trần Thái N : 35.000.000 đồng; anh Trương Minh T : 39.000.000 đồng; anh Tâm: còn 25.125.000 đồng nhưng chỉ yêu cầu bồi thường 25.000.000 đồng; anh H 35.125.000 đồng; anh Võ Ngọc S còn 14.125.000 đồng nhưng chỉ yêu cầu 13.000.000 đồng; anh Huỳnh Phước L : còn 39.000.000 đồng nhưng chỉ yêu cầu 34.000.000 đồng, ghi nhận sự tự nguyện của anh Lộc, anh Tâm và anh Sâm; anh Lê Nhật T 47.300.000 đồng; chị Lăng Thùy Mỹ Tr (với tư cách bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan): 233.860.000 đồng. Bị cáo còn phải bồi thường cho các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị T tổng số là: 497.410.000 đồng.
+ Đối với các bị hại ở nhóm xuất khẩu lao động do anh Nguyễn Bá S giới thiệu: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, anh Sỹ và các bị hại đều khai là bị cáo đã chuyển cho anh Sỹ 71.760.000 đồng là tiền hoa hồng, sau khi phát hiện bị cáo lừa đảo, anh Sỹ tự nguyện lấy số tiền đó khắc phục cho 8 bị hại là các bà Trần Thị M , Đặng Thị S ; Nguyễn Thị B ; Trần Thị Thu T ; Nguyễn Thị Ánh N ;
Đỗ Thị H ; Đặng Thị O ; Nguyễn Thị Thu T mỗi người 8.000.000 đồng. Các bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là: mỗi người 39.000.000 đồng; riêng chị Trần Thị Thu T yêu cầu bồi thường 38.900.000 đồng; chị Đặng Thị O yêu cầu bồi thường 38.950.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường cho 8 bị hại:
375.850.000 – 64.000.000 = 311.850.000 đồng.
Đối với anh Nguyễn Bá S khai: bị cáo vay của anh Sỹ 10.000.000 đồng; bị cáo chuyển cho anh Sỹ 71.760.000 đồng (tiền hoa hồng), nay anh trả 8 bị hại là 64.000.000 đồng, số tiền còn lại anh trừ đi 7.760.000 đồng, bị cáo còn nợ anh 2.240.000 đồng. Xét thấy, việc vay nợ 10.000.000 đồng là quan hệ dân sự giữa anh Sỹ và bị cáo, anh Sỹ có quyền khởi kiện đòi nợ bị cáo bằng vụ kiện dân sự khác, còn số tiền 7.760.000 đồng bị cáo chuyển cho anh Sỹ là từ nguồn tiền của các bị hại nên cần buộc anh Sỹ truy nộp lại số tiền đó để trả cho bị hại.
Vậy, tổng số 2 nhóm bị cáo phải bồi thường cho 17 bị hại và chị T là:
497.410.000 đồng + 311.850.000 đồng = 809.260.000 – 7.760.000 đồng (anh Sỹ truy nộp) = 801.500.000 đồng.
[7]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Tiến C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Lương Tiến C 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/3/2023.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
4. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Lăng Thùy Mỹ Tr có yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho họ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt và chị T đã bồi thường cho các bị hại. Tổng số là 801.500.000 đồng. Cụ thể:
1. Bà Lăng Thuỳ Mỹ T : 233.860.000 đồng;
2. Ông Phạm Thiết T : 35.125.000 đồng;
3. Ông Trần Thái N : 35.000.000 đồng;
4. Ông Trương Minh T : 39.000.000 đồng;
5. Ông La Hoài T : 25.000.000 đồng;
6. Ông Đỗ Anh H : 35.125.000 đồng;
7. Ông Võ Ngọc S : 13.000.000 đồng;
8. Ông Huỳnh Phước L : 34.000.000 đồng;
9. Ông Lê Nhật T : 47.300.000 đồng;
10. Bà Trần Thị M : 39.000.000 đồng;
11. Bà Đặng Thị S : 39.000.000 đồng;
12. Bà Nguyễn Thị B : 39.000.000 đồng;
13. Bà Trần Thị Thu T : 38.900.000 đồng;
14. Bà Nguyễn Thị Ánh N : 39.000.000 đồng;
15. Bà Đỗ Thị H : 39.000.000 đồng;
16. Bà Đặng Thị O : 38.950.000 đồng;
17. Bà Nguyễn Thị Thu T : 39.000.000 đồng.
- Buộc anh Nguyễn Bá S truy nộp số tiền 7.760.000 đồng để trả cho các bị hại.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo Lương Tiến C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 36.045.000 đồng tiền án phí dân sự và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Các bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 502/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 502/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về