Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 411/2020/HSST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 411/2020/HSST NGÀY 23/12/2020 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 12 năm 20 20 , tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 458/ 2 0 2 0 / HSST ngày 30 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 443/2020/QĐXXST- HS ngày 08/12/2020 đối với bị cáo:

Trần Tuấn A, sinh năm 1999; ĐKHKTT và chỗ ở: ……, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Trần Viết Ch; Con bà: Vũ Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Danh bản, chỉ bản số 540 lập ngày 21/8/2020 tại Công an quận Đống Đa; Bị bắt, giữ từ ngày 18/8/2020 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

Chị Bùi Thị H, sinh năm 1999; Địa chỉ: ………… đường L, phường P, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội (vắng mặt);

Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1994; Địa chỉ: ………, phường H, quận Hoàng Mai, Hà Nội (vắng mặt);

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Đỗ Quang V, sinh năm 1999 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã TS, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; Anh Vũ Hồng Q, sinh năm 1973(vắng mặt); Địa chỉ: Tập thể xí nghiệp X, Đông Ngạc, Bắc Từ Liêm, Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 18/8/2020, chị Đào Hồng Anh đưa Trần Tuấn A đến Công an phường Nam Đồng và trình báo với nội dung: Khoảng trưa ngày 16/8/2020, chị Hồng Anh đã trao đổi với A để mua nước hoa nhãn hiệu Lelabo Another 13 của Mỹ với giá 3.900.000 đồng/01 chai. Trong quá trình trao đổi A khẳng định là nước hoa chính hãng, nếu kiểm tra không đúng hàng chuẩn của Mỹ thì hoàn trả tiền ngay sau đó. Chị Hồng Anh đồng ý và đặt mua của A 01 chai nước hoa. A yêu cầu chị Hồng Anh chuyển tiền vào tài khoản 0090195969999 mang tên Trần Tuấn A tại Ngân hàng MBBank. Chị Hồng Anh đã dùng tài khoản của chồng mình là 19033081387016 mang tên Nguyễn Tử Nguyên Bình tại Ngân hàng Techcombank chuyển số tiền 3.900.000 đồng vào tài khoản của A qua Internetbanking. Khoảng 30 phút sau khi chuyển tiền, A gọi điện qua ứng dụng Messenger cho chị Hồng Anh thỏa thuận bán thêm 03 chai nước hoa cùng loại nữa, chị Hồng Anh đồng ý. Chị Hồng Anh đã chuyển số tiền 11.700.000 đồng từ tài khoản 19035395213015 của mình tại Ngân hàng Techcombank qua Internetbanking đến tài khoản của A. Đến ngày 17/8/2020, A tiếp tục liên hệ với chị Hồng Anh qua Messenger mời mua 04 chai nước hoa cùng loại nữa, nhưng chị Hồng Anh chỉ đặt mua 01 chai nước hoa và đã chuyển số tiền 3.900.000 đồng từ tài khoản của mình vào tài khoản của A qua Internetbanking. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 17/8/2020, A tiếp tục nhắn tin cho chị Hồng Anh mời mua 05 chai nước hoa cùng loại. Chị Hồng Anh đồng ý mua nhưng nghi ngờ mình bị lừa đảo nên hẹn gặp A tại khu vực trước nhà số 468 Xã Đàn, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội để nhận hàng và thanh toán hết số tiền. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/8/2020, tại địa điểm đã hẹn A mang 06 chai nước hoa đến, chị Hồng Anh kiểm tra phát hiện hàng giả và yêu cầu A trả lại tiền nhưng A không có tiền trả nên đã trình báo Công an phường Nam Đồng. Cơ quan Công an thu giữ của chị Hồng Anh 06 chai nước hoa nhãn hiệu Lelabo Another 13 dung tích 100ml. Ngoài ra, A còn tự giao nộp thêm 03 chai nước hoa nhãn hiệu Lelabo Another 13 dung tích 100ml và 01 điện thoại Iphone 6s plus màu bạc.

Tại Cơ quan điều tra A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai nhận: Do không có tiền chi tiêu cá nhân, khoảng tháng 2 năm 2020 A đã đăng tải thông tin về việc bán nước hoa và khẩu trang trên mạng xã hội để chiếm đoạt tiền đặt cọc của những những người mua. Nguồn gốc số chai nước hoa đã mang bán cho chị Hồng Anh là do A mua trên mạng xã hội Zalo với giá 3.600.000 đồng rồi mang bán lại cho chị Hồng Anh thì bị phát hiện, thu giữ.

Ngoài hành vi nêu trên A còn khai nhận thực hiện 02 vụ Lừa đảo chiếm đoạt tiền của những người đặt cọc mua khẩu trang như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 17/2/2020 chị Nguyễn Thị M thấy facebook của A đăng tải nội dung bán khẩu trang y tế. Do nhu cầu nên chị M đã nhắn tin qua ứng dụng Messenger với A đặt mua khẩu trang y tế loại 04 lớp nhãn hiệu AMI. A báo giá là 12.000.000 đồng/01 thùng, chị M đồng ý và đã đặt mua của A 20 thùng khẩu trang trên với tổng trị giá là 240.000.000 đồng. A yêu cầu chị M đặt cọc trước 20% giá trị đơn hàng là 48.000.000 đồng và hẹn đến ngày 20/02/2020 sẽ giao hàng, chị M đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 17/02/2020, A và chị M gặp nhau tại khu vực Hồ Hoàng Cầu, Đống Đa, Hà Nội. Tại đấy, A đã viết hợp đồng nhận đặt cọc với chị M. Sau đó, chị M đã chuyển số tiền 48.000.000 đồng từ tài khoản 107867808547 của mình tại Ngân hàng Vietinbank đến tài khoản số 166878397 tại Ngân hàng Vpbank mang tên Trần Tuấn A qua ứng dụng Internetbanking. Sau khi nhận được số tiền trên, A đã ăn tiêu hết. Đến ngày 20/02/2020, không thấy A giao khẩu trang nên chị M đã liên hệ với A. A đã nói dối với chị M số khẩu trang mà chị M đặt mua đã bị lực lượng chức năng thu giữ và hứa sẽ trả dần số tiền đặt cọc. Sau đó, trong khoảng thời gian từ cuối tháng 02/2020 đến ngày 28/6/2020 A đã trả lại cho chị M số tiền 22.000.000 đồng và 100USD. Số tiền đặt cọc còn lại là 23.000.000 đồng, chị M đã liên lạc nhiều lần nhưng không được với A.

Ngày 19/8/2020, chị Nguyễn Thị M biết A bị bắt giữ nên đã đến Công an phường Nam Đồng trình báo. Tại Cơ quan điều tra A khai nhận: Mặc dù không có nguồn khẩu trang nhưng A vẫn đăng tải nội dung rao bán khẩu trang lên mạng trang facebook của mình với mục đích chiếm đoạt tiền đặt cọc của chị M. Lý do, A trả một phần tiền đặt cọc vì sợ chị M trình báo Cơ quan Công an.

Vụ thứ hai: Ngày 27/7/2020, chị Bùi Thị H đã đặt mua của A 02 thùng khẩu trang y tế loại 04 lớp. A báo giá là 2.700.000 đồng/01 thùng. Cũng với thủ đoạn như trên, A yêu cầu chị H đặt cọc trước 50% giá trị đơn hàng là 2.700.000 đồng và hẹn khoảng 02 ngày sau sẽ giao hàng cho chị H. Sau đó, chị H đã chuyển số tiền trên vào tài khoản số 0090195969999 thuộc Ngân hàng MB bank, mang tên Trần Tuấn A. Sau đó, chị H đặt mua thêm 26 thùng khẩu trang y tế nữa của A. Lúc này, A báo giá 2.800.000 đồng/01 thùng và yêu cầu chị H đặt cọc trước 8.000.000 đồng và hẹn khoảng 04 ngày đến 05 ngày sẽ giao hàng, chị H đồng ý. Chị H đã chuyển số tiền trên vào tài khoản số 0590118801999 thuộc Ngân hàng MB bank, mang tên Đỗ Quang Vũ. Tuy nhiên, đến hẹn A không giao hàng cho chị H như đã thỏa thuận và cùng không trả lại tiền cho chị H. Đến ngày 19/8/2020 chị H biết A bị bắt giữ nên đã đến Công an phường Nam Đồng trình báo sự việc.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra A còn khai nhận trong khoảng thời gian từ tháng 03/2020 đến ngày 15/8/2020 với thủ đoạn như trên A đã nhận tiền đặt cọc của người đặt mua khẩu trang và nước hoa cụ thể như sau:

- Khoảng tháng 3/2020 A đã nhận của chị Vũ Phương Thủy số tiền 7.000.000 đồng là tiền đặt cọc mua 07 thùng khẩu trang.

- Ngày 27/7/2020 A nhận của chị Hồ Thảo Vi số tiền 13.500.000 đồng là tiền đặt cọc mua 10 thùng khẩu trang.

- Ngày 15/8/2020 A đã nhận của tài khoản facebook “Ty Minh” số tiền 2.300.000 đồng là tiền đặt cọc mua nước hoa chính hãng của Pháp.

Tại Cơ quan điều tra Trần Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện gia đình Trần Tuấn A là anh Vũ Hồng Quân đã bồi thường cho chị H số tiền 23.000.000 đồng và chị M số tiền 10.700.000 đồng. Chị H, chị M không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận có hành vi gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản là số tiền của hai người bị hại với tổng số tiền là 58.700.000đồng. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng.

Tại bản cáo trạng số 451/CT – VKS ngày 30/11/2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội truy tố Trần Tuấn A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Trần Tuấn A mức án từ 26 tháng tù đến 30 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung;

Vật chứng: Sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 plus màu bạc (không đăng nhập được).

Bị cáo không bổ sung gì và xin được áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁNư

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu được cùng tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian ngày 17/02/2020, tại địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội bằng thủ đoạn gian dối dù không có nguồn cung ứng khẩu trang nhưng Trần Tuấn A đã đăng tải nội dung bán khẩu trang y tế trên Facebook nhằm chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị M với số tiền 48.000.000đồng. Ngoài ra, ngày 27/7/2020, cũng bằng thủ đoạn như trên A đã chiếm đoạt tài sản của chị Bùi Thị H số tiền 10.700.000đồng. Tổng số tiền mà bị cáo chiếm đoạt của hai người bị hại là 58.700.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời gây mất trật tự trị an địa phương. Trong thời gian (ngày 17/02/2020 và 27/7/2020) bị cáo đã hai lần chiếm đoạt tài sản của người khác với tổng số tiền mỗi lần chiếm đoạt đều từ trên 2.000.000 đồng nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội hai lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn; có ông bà nội tham gia cách mạng và được tặng huân huy chương kháng chiến. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu. Bị hại có đơn xin miễn giảm hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo và người liên quan là bác của bị cáo xác nhận số tiền nộp khắc phục hậu quả để hoàn trả cho hai bị hại là của bị cáo. Để áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có hai được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét xử bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của Trần Tuấn A với chị Đào Hồng Anh. Cơ quan điều tra đã có Công văn số 4264 ngày 16/10/2020 gửi Cục sở hữu trí tuệ - Bộ khoa học và Công nghệ và Công văn số 4259 ngày 16/10/2020 gửi Công ty TNHH sở hữu trí tuệ AMBYS để xác định nguồn gốc xuất xứ và cung cấp mẫu nước hoa chính hãng của nước hoa nhãn hiệu Lelabo Another 13. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ công an để giám định số nước hoa - vật chứng thu giữ được. Do chưa có kết quả nên ngày 16/11/2020, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với những người đặt mua khẩu trang và nước hoa của Trần Tuấn A là chị Vũ Phương Thủy, chị Hồ Thảo Vi và tài khoản facebook “Ty Minh”. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người bị hại này nên ngày 16/11/2020 Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách rút tài liệu số 76/CSĐT-ĐTTH để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với Đỗ Quang Vũ là người cho Trần Tuấn A mượn tài khoản để thực hiện giao dịch nhận, chuyển tiền; Do không đủ căn cứ xác định Vũ liên quan đến hành vi phạm tội của A nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[3]. Về phần bồi thường dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị M và chị Bùi Thị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì, không có ý kiến thắc mắc gì nên HĐXX không xem xét.

[4]. Vật chứng: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 plus màu bạc thu giữ của bị cáo xét bị cáo sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào quỹ Nhà nước.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn A phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Tuấn A 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2020.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 plus màu bạc (không đăng nhập được);

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 77 ngày 16/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa) Áp dụng: Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh Quân được quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án Anh Vũ được quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết


52
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 411/2020/HSST

Số hiệu:411/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Đống Đa - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/12/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về