Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 377/2022/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 377/2022/HS-PT NGÀY 07/09/2022 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 168/2022/HSPT ngày 22/4/2022 đối với bị cáo Cao Dương T, do có kháng cáo của bà Nguyễn Võ Bích D là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H.

Bị cáo không kháng cáo:

Cao Dương T; giới tính: nam; sinh năm: 1968 tại Thành phố H; Hộ khẩu thường trú: 989/11 Tỉnh lộ A, khu phố 2, phường BC, thành phố T, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Cao Ngọc M (chết) và bà Đoàn Thị Mỹ N; có vợ và có 02 con (lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997); Tiền án: Ngày 25/7/2008 bị Tòa án nhân dân quận T xử phạt 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 230/2008/HSST, chưa thi hành các khoản bồi thường; tiền sự: không.

Bị tạm giam từ ngày 30/12/2020 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo: Bà Nguyễn Võ Bích D, sinh năm 1974; Địa chỉ: 40/2 TVQ, Phường X, quận TB, Thành phố H (có mặt) Bị hại:

1. Ông Thạch H, sinh năm: 1968; Địa chỉ: 75 ĐTH, phường ĐK, Quận Y, Thành H (vắng mặt).

2. Ông Lê Văn U, sinh năm: 1977; Địa chỉ: 623/45R CMT, phường V, Quận X, Thành phố H (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Cao Phúc R không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 01 năm 2020, thông qua 01 người phụ nữ tên Cẩm L (không rõ lai lịch), Cao Dương T quen với bà Nguyễn Võ Bích D. Bà L giới thiệu T đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D giới thiệu đang làm việc tại công ty Phát triển nhà HDC có văn phòng tại Quận Y. Trong thời gian này, T nảy sinh ý định lừa đảo để có tiền trả nợ bằng cách tạo tài khoản Zalo với các số điện thoại 0935279305; 0931279890 đang sử dụng, đăng ký tên B, nhằm trùng tên với Chánh Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, để tạo niềm tin cho bà D tin tưởng T là Chánh Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời có cấp hàm Thượng tướng của Bộ Công an hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, có quan hệ với nhiều lãnh đạo ở Trung ương và là người thân quen của 01 lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh. T lợi dụng bà D để tiếp cận với các mối quan hệ của bà trong lĩnh vực giáo dục và xây dựng nhằm thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Đến tháng 3/2020, bà D đặt vấn đề nhờ T xin cho bà về công tác tại Sở Xây dựng Thành phố phía Đông (khi thành phố T mới có thông tin thành lập) và mượn tiền đưa cho T chạy xin việc. Trong quá trình này, T đã cung cấp các tài khoản ngân hàng của 09 đối tượng mà T đang nợ tiền và nói đây là cấp dưới của T trong lực lượng công an để D chuyển tiền, nhưng thực tế là để T trả lãi tiền vay. Đồng thời, bà D cũng đặt vấn đề hỏi T có thể lo chạy xin chuyển trường cho giáo viên và xin cho học sinh vào học các trường có uy tín. T nói với bà D chắc chắn sẽ làm được, nên khi gặp các mối quan hệ bạn bè xã hội bà D thường giới thiệu có thể giúp xin được việc chuyển trường và nhập học các trường có uy tín.

Ngày 16/7/2020, thông qua người đàn ông Tài (chưa rõ lai lịch), ông Thạch H gọi điện thoại hỏi nhờ bà D xin chuyển công tác từ Trường THPT Trưng Vương, Quận Y, về Trường THPT Mạc Đỉnh Chi, Quận 6. Qua trao đổi, T giả nói chắc chắn lo được việc của ông H với giá 50.000.000 đồng. Cùng ngày 16/7/2020, D hẹn T gặp ông H và Tài tại quán cà phê, số 93 HS, phường ĐK, Quận Y. Tại đây, D giới thiệu T là Chánh Thanh tra Sở giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, nên ông H tin tưởng T và đồng ý chi phí là 50.000.000 đồng. Đồng thời thỏa thuận đưa trước 30.000.000 đồng; sau khi nhận được quyết định sẽ đưa tiếp 20.000.000 đồng còn lại. Để tránh việc nhận tiền trực tiếp từ ông H, T giao cho bà D làm việc với ông H rồi bỏ đi. Khi ông H đề nghị giao tiền bằng chuyển qua ngân hàng, T yêu cầu bà D cung cấp tài khoản và ông H đã chuyển 30.000.000 đồng từ tài khoản số 6380205042611 tại Agribank đến tài khoản số 04001016995223 tại Maritime Bank do D đứng tên đăng ký. Cùng ngày, theo yêu cầu của T, bà D đã rút tiền mặt 6.000.000 đồng giao cho T và chuyển 24.000.000 đồng còn lại đến các tài khoản của những người T nợ tiền.

Cùng thủ đoạn trên, thông qua ông Thạch H, ngày 07/8/2020, ông Lê Văn R gọi điện thoại nhờ bà D chạy xin cho cháu của ông R vào học trường Trần Đại Nghĩa. Qua trao đổi, T đưa ra giá là 5.000 USD/cháu. D hẹn T gặp ông R tại quán cà phê, số 93 HS, phường ĐK, Quận Y. Tại đây, D cũng giới thiệu T là Chánh Thanh tra Sở giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh để tạo niềm tin đối với ông R. Sau khi trao đổi công việc xong, T có công việc khác nên đi về trước, để D trực tiếp nhận tiền của ông R. Sau đó, ông R tiếp tục nhờ chạy xin cho một cháu khác vào trường LHP; trao đổi qua điện thoại, T thống nhất giá thêm 5.000 USD (tổng cộng 10.000 USD/02 cháu). Ông R đưa tiền mặt trước 3.000 USD. Chiều cùng ngày, T hẹn gặp và yêu cầu bà D đưa 2.000 USD cho T tại quán cà phê 93 HS, phường ĐK, Quận Y; còn giữ lại 1.000 USD. Khi đó, T yêu cầu bà D liên lạc với ông R đưa thêm 2.000 USD. Ngày 08/8/2020, ông R đến quán cà phê 93 HS, phường ĐK, Quận Y, giao cho bà D thêm 2.000 USD và yêu cầu viết giấy nhận tổng cộng 5.000 USD của ông R; khi nào 02 cháu có kết quả vào học ở trường theo cam kết thì sẽ đưa tiếp số tiền 5.000 USD còn lại. Ngày 08/8 và 09/8/2020, T yêu cầu bà D đổi 3.000 USD sang tiền đồng Việt Nam và chuyển hết vào các tài khoản ngân hàng của những người T nợ tiền để trả nợ. Sau khi nhận số tiền 30.000.000 đồng từ ông H và 5.000 USD từ ông R thông qua bà D, T không liên lạc với ông H, ông R để tiếp tục trao đổi về việc chuyển trường, nhập học của các cháu hay yêu cầu đưa thêm tiền.

Tổng số tiền mà bà D đã chuyển khoản đến các tài khoản của các chủ nợ của bị can Cao Dương T là 91.600.000 đồng, với nội dung là “A Thai TL43 chuyen”.

Ngoài ra, bà D đưa số tiền mặt trực tiếp cho Cao Dương T là: 6.000.000 đồng và 2.000 USD. Số tiền chênh lệch là 1.400.000 đồng, Cao Dương T nói bà D rút tiền mặt mua đồ dùng sinh hoạt cho T.

Đến ngày 25/8/2020, bà D biết được T có hành vi lừa đảo, nên yêu cầu T phải trả lại tiền cho ông Thạch H và ông Lê Văn R, nhưng T không trả. Sau đó, ông Thạch H và Lê Văn R cũng biết thông tin này, nên đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Y tố cáo Nguyễn Võ Bích D và Cao Dương T đã có hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Ngày 28/12/2020, bà Nguyễn Võ Bích D ra trình diện làm việc. Cùng ngày, qua truy xét, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Y đã bắt giữ Cao Dương T.

Theo Kết luận định giá tài sản số 157/KL-HĐĐGTS ngày 27/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận Y kết luận, tiền 5.000 USD (năm ngàn đô la Mỹ), tỷ giá Vietcombank (VCB) ngày 07 tháng 8 năm 2020, giá bán ra 01 USD/23.250 VNĐ; có tổng trị giá là 116.250.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cao Dương T khai nhận hành vi phạm tội, như đã nêu trên.

T không bàn bạc, thống nhất để cùng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và phân chia tài sản chiếm đoạt với bà D. Lời khai của Cao Dương T và Nguyễn Võ Bích D phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của ông Thạch H, ông Lê Văn R; phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được, nên chưa đủ căn cứ chứng minh bà D đồng phạm với T. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Y không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà Nguyễn Võ Bích D.

Qua xác minh, không có cán bộ, chuyên viên, nhân viên tên Cao Dương T đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Cao Dương T 5 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2020.

Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bà Nguyễn Võ Bích D phải trả lại cho ông Thạch H số tiền 28.000.000 đồng và trả cho ông Lê Văn R số tiền 88.250.000 đồng, thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo Cao Dương T phải trả lại cho bà Nguyễn Võ Bích D số tiền 146.250.0000 đồng, thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Sau khi xử sơ thẩm, ngày 07/3/2022, bà Nguyễn Võ Bích D kháng cáo không đồng ý trả 28.000.000 đồng cho ông Thạch H và 88.250.000 đồng cho ông Lê Văn R mà bị cáo Cao Dương T mới là người có nghĩa vụ hoàn trả số tiền này cho các bị hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Cao Dương T trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Võ Bích D, bị cáo đồng ý hoàn trả toàn bộ số tiền theo yêu cầu của ông Lê Văn R và ông Thạch H.

Bà Nguyễn Võ Bích D trình bày: Bà không thoả thuận bàn bạc gì với Cao Dương T để lừa tiền của các bị hại. Khi các bị hại đưa tiền mặt hoặc chuyền tiền vào tài khoản thì bà đều rút ra đưa cho bị cáo và chuyển tiền đến các tài khoản do bị cáo T cung cấp, bản thân bà không hưởng lợi gì trong vụ án này. Bà đã trả cho ông Thạch H 2.000.000 đồng và ông Lê Văn R 28.000.000 đồng thay cho bị cáo. Nay bà yêu cầu bị cáo T có trách nhiệm trả lại cho bà số tiền 30.000.000 đồng và trả lại toàn bộ số tiền còn lại cho các bị hại.

Bị hại ông Lê Văn R trình bày: Ông đã được bà Nguyễn Võ Bích D trả lại số tiền là 28.000.000 đồng, ông yêu cầu bà D phải tiếp tục trả cho ông số tiền 88.250.000 đồng.

Bị hại - ông Thạch H vắng mặt và trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu bà Nguyễn Võ Bích D phải trả cho ông số tiền 28.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Cao Dương T tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Võ Bích D kháng cáo yêu cầu bị cáo T có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt của 2 bị hại, xét yêu cầu này của bà D là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà D, sửa bản án sơ thẩm.

Bị cáo Cao Dương T không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Võ Bích D làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Y, Thành phố H, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân Quận Y, Thành phố H trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Cao Dương T tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Mặc dù không phải là Chánh Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh và cũng không có khả năng lo chạy xin chuyển trường cho giáo viên và xin cho học sinh vào học tại các trường uy tín, nhưng Cao Dương T vẫn hứa hẹn giúp ông Thạch H chuyển công tác từ trường THPT Trương Vương qua trường THPT Mạc Đĩnh Chi; nhận lời lo chạy xin cho 2 cháu của ông Lê Văn R vào học tại 2 trường chuyên. Sau đó ông Thạch H đã đưa cho T 30.000.000 đồng và ông Lê Văn R đã đưa cho T 5.000 USD (tương đương 116.250.000 đồng). Bằng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối, bị cáo đã làm cho các bị hại tin tưởng mà chuyển tiền cho bị cáo nhằm chiếm đoạt tổng cộng là 146.250.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Cao Dương T đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án nhân dân Quận Y xử phạt bị cáo Cao Dương T theo tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo của bà Nguyễn Võ Bích D, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra bị cáo T đều thừa nhận bà D không biết việc bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của các bị hại. Sau khi nhận tiền của các bị hại thì bà D đều rút ra rồi đưa cho bị cáo T và chuyển hết vào các tài khoản ngân hàng do bị cáo cung cấp. Bản thân bà D không được hưởng lợi gì từ bị cáo và các bị hại. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bà D và các bị hại.

Căn cứ theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cần buộc bị cáo Cao Dương T phải có trách nhiệm trả lại tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại, cụ thể: Trả cho ông Thạch H số tiền 30.000.000 đồng trả cho ông Lê Văn R 5.000 USD (tương đương 116.250.000 đồng).

Tuy nhiên, bà D đã trả trước cho ông Thạch H 2.000.000 đồng và trả cho ông Lê Văn R 28.000.000 đồng thay cho bị cáo, do đó cần buộc bị cáo T tiếp tục trả cho ông Thạch H số tiền còn lại là 28.000.000 đồng, trả cho ông Lê Văn R số tiền còn lại là 88.250.000 đồng và trả lại cho bà D số tiền mà bà D đã trả trước cho các bị hại là 2.000.000 đồng + 28.000.000 đồng = 30.000.000 đồng.] Về án phí:

- Bị cáo Cao Dương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

- Bà Nguyễn Võ Bích D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm, hoàn trả lại cho bà D số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà bà đã nộp.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Võ Bích D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Cao Dương T 5 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2020.

Buộc bị cáo Cao Dương T phải trả số tiền 146.250.000 đồng cho ông Thạch H, ông Lê Văn R và bà Nguyễn Võ Bích D, cụ thể:

- Trả cho ông Thạch Mẫn số tiền 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng;

- Trả cho ông Lê Văn R 88.250.000 (tám mươi tám triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng;

- Trả cho bà Nguyễn Võ Bích D 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành hoặc không thi hành đầy đủ các khoản đã tuyên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền chậm thi hành.

Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Cao Dương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.312.500 đồng và không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bà Nguyễn Võ Bích D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà D số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005683 ngày 19/4/2022 của Chi Cục thi hành án Dân sự Quận Y, Thành phố H.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

212
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 377/2022/HS-PT

Số hiệu:377/2022/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về