Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 365/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 365/2023/HS-PT NGÀY 18/05/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái B, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 937/2022/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Vũ Đức Hbị xét xử sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do có kháng cáo của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái B.

* Bị cáo không kháng cáo, bị kháng cáo:

Vũ Đức Hi, sinh ngày 23/9/1983 nơi cư trú: thôn L, xã Q, huyện Kiến X, tỉnh ThB; chỗ ở: Phòng 1.505, tòa nhà CT2A, đường Bát Khối, tổ 17, phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Vũ Văn Nam và bà Trần Thị Dịu; có vợ là chị Lê Thị Minh và có 2 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/7/2021 đến nay, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái B; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Luật sư Bùi Xuân S - Văn phòng luật sư P và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Thái B; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo do bị cáo mời: Luật sư Nguyễn An B - Văn phòng luật sư Nguyễn An B và cộng sự, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

* Người bị hại có kháng cáo: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn An Chỉ, xã B Nguyên, huyện Kiến X, tỉnh ThB; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2015, Vũ Đức H, sinh năm 1983, trú tại: thôn L, xã Q, huyện Kiến X, tỉnh ThB là nhân viên trình dược thường xuyên đến cửa hàng thuốc tân dược nhà chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1984 trú tại thôn An Chỉ, xã B Nguyên, huyện Kiến X, tỉnh ThB giới thiệu các sản phẩm thuốc tân dược. Qua giới thiệu, nói chuyện Hi và chị H nảy sinh tình cảm, thấy chị H là người mê tín, con hay ốm đau, Hi nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị H với thủ đoạn “dựng” lên một bà L thầy cúng cao tay ở thành phố Hà Nội không có thật và nói dối chị H muốn con khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc, làm ăn thuận lợi, Hi sẽ nhờ bà L cúng lễ giúp nên từ tháng 4/2016 đến ngày 22/3/2021, Hi đã thực hiện 74 lần lừa đảo chiếm đoạt của chị H tổng số 1.735.450.000 đồng, trong đó chị H chuyển qua tài khoản 714.450.000 đồng, chị H trực tiếp đưa cho Hi 1.021.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Đầu tháng 4/2016, Hi đến nhà nói với chị H muốn khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi thì phải cúng lễ, Hi sẽ nhờ bà L thầy cúng cao tay ở thành phố Hà Nội cúng lễ giúp nên chị H đưa cho Hi 7.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Hi nói dối đã đưa tiền cho bà L cúng lễ, bà L chỉ liên lạc với Hi, nếu chị H muốn nói chuyện với bà L thì phải thông qua Hi và phải giữ bí mật việc cúng lễ, nếu kể với người khác trong gia đình H sẽ gặp tai nạn nguy hiểm, bà đưa cho Hi một gói bùa mang ra mộ đốt, bà sẽ áp vong vào Hi để bảo vệ cho gia đình H.

Lần thứ 2: Khoảng 7 ngày sau, Hi đến nhà nói dối bảo chị H phải sắm 3 lễ tạ, mỗi lễ 7 triệu, trong 7 ngày lễ, không được quan hệ tình cảm với chồng, chị H đưa cho Hi 21.000.000 đồng, Hi chi tiêu cá nhân. Mấy ngày sau, Hi hỏi chị H có quan hệ với chồng không? chị H trả lời có. Hi bảo chị H làm như vậy đã phạm đại kỵ trong lễ của bà L, sau này chồng chị sẽ là người giết cả nhà, chị H lo lắng nên về sống tại gia đình bố, mẹ đẻ.

Lần thứ 3: Đầu tháng 7/2016, Hi đến nhà chị H chơi thấy con trai chị H biếng ăn, sức khỏe yếu. Hi nói dối bà L soi thấy vong nữ báo, chị phải lễ ngay lập tức, nếu không lễ thì con phát triển trí não không bình thường, bảo chị phải sắm 7 lễ, mỗi lễ 7 triệu nên chị H đưa Hi 49.000.000 đồng, Hi chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 4: Khoảng 7 ngày sau, Hi đến nhà chị H bảo chị phải sắm 3 lễ tạ, mỗi lễ 7 triệu, chị H đưa cho Hi 21.000.000 đồng.

Lần thứ 5: Tháng 8/2016, Hi đến nhà chị H nói dối bà L soi thấy vong nữ báo chị muốn con gái khỏe mạnh, không bị ung thư não, chị phải sắm 9 lễ, mỗi lễ 9 triệu; tin lời Hi chị H lo cho con nên đã đưa cho Hi 81.000.000 đồng.

Lần thứ 6: Khoảng 9 ngày sau, Hi đến nhà bảo chị H nói dối phải sắm 3 lễ, mỗi lễ 7 triệu, chị H đưa cho Hi 21.000.000 đồng.

Lần thứ 7: Tháng 9/2016, Hi đến nhà bảo chị H, từ giờ Hi sẽ là người bảo vệ 02 con của chị, vì vong nữ đã nhập vào Hi. Mọi việc xảy ra đối với Hi đều ảnh hưởng đến 02 con chị, nếu Hi có bất kỳ yêu cầu gì thì đó không phải Hi yêu cầu mà là vong nữ và bà L yêu cầu, chị phải nghe theo, do chị không thực hiện đúng yêu cầu của vong nên việc lễ bị ảnh hưởng, nguy hiểm đến gia đình chị, bảo chị phải sắm 3 lễ, mỗi lễ 7 triệu, nên chị H đưa cho Hi 21.000.000 đồng.

Lần thứ 8: Khoảng tháng 11/2016, Hi đến nhà hỏi vay chị H 60 triệu đồng, chị H không đồng ý. Hi nói dối bà L bảo chị H phải lo tiền cho Hi, nếu không gia đình chị sẽ gặp tai nạn, nên chị H đưa cho Hi 60.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền Hi đưa cho bố đẻ để xây nhà.

Lần thứ 9: Đầu năm 2017, chị H nghi ngờ việc Hi nhờ bà L cúng lễ nên đề nghị được nói chuyện với bà L nhưng Hi không đồng ý và thay đổi thủ đoạn lừa đảo, Hi sử dụng điện thoại Iphone 7 plus lưu số điện thoại 0987.922.X của Hi, ghi tên trong danh bạ là “Bà L”, sau đó tự tạo đoạn tin nhắn hội thoại giữa bà L và Hi, hiển thị trên màn hình điện thoại, rồi chụp hình ảnh tin nhắn ở màn hình gửi cho chị H. Nội dung tin nhắn do chị H thiếu tin tưởng Hi nên việc cúng lễ gặp khó khăn, bảo chị H phải sắm 3 lễ, mỗi lễ 7 triệu, chị H đưa cho Hi 21.000.000 đồng.

Lần thứ 10: Tháng 02/2017, lợi dụng việc bố chị H ốm, Hi nói bà L soi thấy chị phải sắm 7 lễ, mỗi lễ 7 triệu thì bố sẽ khỏe lại nên tại nhà chị H đưa cho Hi 49.000.000 đồng.

Lần thứ 11: Một ngày trong tháng 11/2018, Hi đến nhà chị H nói: bà L soi thấy vong linh yêu cầu chị phải lo 20 triệu cho con của vong ở xã Q, do vong linh đã bảo vệ gia đình và chị H đưa cho Hi 20.000.000 đồng.

Lần thứ 12: Một ngày cuối tháng 12/2018, Hi đến nhà chị H nói dối: gia đình vong có giỗ, chị phải đưa 5 triệu cho con của vong và chị H đưa cho Hi 5.000.000 đồng.

Lần thứ 13: Đầu năm 2019, Hi mua sim điện thoại 0392.242.X để mạo danh bà L nhắn tin với chị H, nói: trong thời gian vừa qua, chị đã bỏ ra rất nhiều tiền để cúng lễ nên bà L sẽ cúng lễ giúp chị nhận được 03 tỷ đồng, nhưng chị phải đưa cho Hi 250.000.000 đồng để cúng lễ. Tin Hi, chị H đã vay của anh Nguyễn Văn Thiết, sinh năm 1974, trú tại: thôn Hạnh, xã Đông Lỗ, huyện Hi Hòa, tỉnh Bắc Giang 250 triệu đồng qua tài khoản. Ngày 11/01/2019, chị H cùng Hi đến Chi nhánh ngân hàng BIDV Thái B để Hi nhận 250.000.000 đồng, khoảng 17 giờ cùng ngày, tại sân quảng trường Thái B, Hi trả nợ anh Trần Nghệ Tổng, sinh năm 1X, trú tại: thôn L, xã Q, huyện Kiến X, tỉnh ThB 100.000.000 đồng. Đến tối cùng ngày, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói đã nhận được tiền do Hi gửi, chờ cúng lễ trong 7 ngày.

Lần thứ 14: Ngày 18/01/2019, Hi đến nhà chị H nói dối có bạn tên Hà đang sống ở Đức, nợ Hi 03 tỷ đồng, bà L sẽ cúng lễ để Hà trả tiền, Hi sẽ đưa cho chị 03 tỷ đồng. Đến tối cùng ngày, Hi tự tạo đoạn hội thoại tin nhắn giữa Hi và Hà, nội dung: Hà hứa sẽ trả Hi 03 tỷ đồng rồi chụp ảnh màn hình tin nhắn gửi cho chị H. Đến tháng 02/2019, Hi lại nói dối chị H là Hà đã chuyển 03 tỷ vào tài khoản của Hi và bảo H đi cùng rút tiền. Sau đó, Hi nói dối chị H không rút được tiền vì bạn gửi séc nên Ngân hàng yêu cầu phải có chứng minh nhân dân của hai vợ chồng. Đến tối cùng ngày, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H bảo chị phải sắm lễ hết 30 triệu thì Hi mới lấy được chứng minh nhân dân của vợ để rút 03 tỷ đồng cho chị H. Tin Hi, sáng hôm sau chị H đưa cho Hi 30.000.000 đồng.

Lần thứ 15: Một ngày tháng 02/2019, Hi đến nhà chị H nói dối rằng ngân hàng yêu cầu bắt buộc phải có chữ ký của hai vợ chồng thì mới rút được tiền Hà gửi; Hi yêu cầu ngân hàng chuyển trả lại cho Hà 03 tỷ đồng để Hà chuyển tiền trực tiếp cho chị H. Sau đó, Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo chị H nói: đã làm vong nữ giận phải sắm lễ 21 triệu đồng và chị H đưa cho Hi 21.000.000 đồng.

Lần thứ 16: Một ngày giữa tháng 02/2019, Hi đến nhà chị H nói dối: anh Hà ở Đức sẽ trực tiếp về Việt Nam đưa tiền cho Hi. Sau đó, Hi tự tạo đoạn hội thoại tin nhắn giữa Hi và anh Hà rồi chụp màn hình gửi cho chị H và mạo danh bà L nói dối để Hà về Việt Nam thuận lợi phải cúng lễ hết 30 triệu nên chị H đã đưa cho Hi 30.000.000 đồng.

Lần thứ 17: Một ngày cuối tháng 02/2019, Hi đến nhà chị H nói dối: anh Hà đã về Việt Nam, muốn gặp trực tiếp bố mẹ Hi để trả tiền. Hi mạo danh bà L nhắn tin nếu anh Hà mang tiền về nhà Hi thì bố mẹ Hi sẽ giữ tiền không đưa cho H, bây giờ phải cúng lễ hết 7 triệu để anh Hà không về nhà Hi nữa, nên chị H đưa cho Hi 7.000.000 đồng.

Lần thứ 18: Một ngày trong tháng 3/2019, Hi đến nhà chị H nói dối, anh Hà đã mang tiền về Thanh Hóa, chị H nói sẽ đi cùng Hi lấy tiền, nhưng Hi không đồng ý. Sau đó, Hi mạo danh bà L nói dối sẽ cho người đến Thanh Hóa lấy tiền. Ngày hôm sau, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: do anh Hà để tiền trong tài khoản, để rút được tiền, chị H phải chi phí hết 20 triệu, nên chị H đưa cho Hi 20.000.000 đồng.

Lần thứ 19: Khoảng 7 ngày sau, Hi đến nhà chị H nói dối: bà Thanh hàng xóm của bà L gọi điện cho Hi nói bà L trong quá trình cúng lễ bị ngất, đi khám phải thay dây ten tim, chi phí hết 70 triệu. Sau đó, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H bằng mọi giá phải cứu bà ấy; chị H trả lời bà cứ lấy tiền trong số 03 tỷ để chữa bệnh thì Hi tiếp tục mạo danh bà L nhắn tin số tiền 03 tỷ đồng, chỉ H mới được tiêu. Sau đó, Hi bảo chị H phải lo tiền chữa bệnh cho bà L để bà khỏi bệnh, chị H mới lấy được 03 tỷ đồng, nên chị H đã đưa cho Hi 70.000.000 đồng.

Lần thứ 20: Một ngày trong tháng 11/2019, Hi mạo danh bà L nhắn tin nói dối chị H: phải làm lễ cắt bỏ quá khứ để cuộc sống chị được bình yên, để con cái chị không khổ giống mẹ, phải lễ xong vong linh mới cho nhận tiền; chị H nhắn tin hỏi bà L lễ như thế nào? thì Hi mạo danh bà L nhắn tin phải sắm lễ hết 81 triệu đồng và hứa chắc chắn lễ xong chị sẽ nhận được 03 tỷ đồng. Khoảng 12 giờ trưa, ngày 20/11/2019, chị H vay của bà Phạm Thị Nhữ, sinh năm 1972, trú tại thôn An Chỉ, xã B Nguyên 170 triệu đồng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, tại cổng chào xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương, chị H đưa cho Hi 81.000.000 đồng.

Lần thứ 21: Chiều ngày 20/11/2019, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H là đã nhận được 81 triệu đồng, bảo chị phải lo thêm 3 lễ, mỗi lễ 7 triệu đồng vì số tiền 81 triệu dùng để đặt lễ, chị H đã chuyển khoản cho Hi 21.000.000 đồng.

Lần thứ 22: Ngày 23/11/2019, Hi nhắn tin cho chị H nói dối, bà L mấy năm nay cúng lễ cho chị, không cúng lễ được cho ai nên không có tiền tiêu; bà L xin Hi tiền mua thức ăn, nhưng tài khoản của Hi chỉ còn 01 triệu, Hi bảo chị chuyển thêm 04 triệu để chuyển bà L, chị H đã chuyển khoản cho Hi 4.000.000 đồng.

Lần thứ 23: Sáng ngày 28/11/2019, Hi nhắn tin cho chị H nói dối bị vợ kiện ra tòa, Hi đã nhờ bạn giúp nhưng cần 80 triệu đồng để chạy án. Hi nhờ chị H lo tiền giúp và mạo danh bà L nhắn tin nói dối vì việc của Hi ảnh hưởng đến việc bà L cúng lễ nên H phải giúp đỡ Hi. Chị H đi vay tiền của bà Phạm Thị Nhữ, sinh năm 1972, trú tại: thôn An Chỉ, xã B Nguyên 100 triệu đồng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, chị H gặp Hi tại quán nước ngã tư đường Lê Đại Hành, thành phố Thái B, Hi nói vì việc của H mà Hi đã vay tiền của anh Trần Nghệ Tổng phải trả lãi suất; Hi bảo chị H đưa hết 100 triệu nên chị H, đưa cho Hi 100.000.000 đồng.

Lần thứ 24: Ngày 29/11/2019, Hi nhắn tin cho chị H nói dối, cần 10 triệu đồng chi cho 2 người xét xử tại tòa, nhờ chị lo giúp, chị H trả lời chỉ vay được 08 triệu, Hi bảo chị chuyển vào tài khoản, thiếu 02 triệu Hi sẽ vay nên chị H chuyển khoản cho Hi 8.000.000 đồng.

Lần thứ 25: Ngày 05/12/2019, Hi nhắn tin cho chị H nói dối đã kết thúc phiên tòa tại Hà Nội nhưng vợ Hi gửi đơn kháng cáo về Tòa án Thái B. Hi tự tạo đoạn hội thoại giữa Hi và Tiến rồi chụp màn hình gửi cho chị H với nội dung: Tiến sẽ lo giúp Hi chạy án tại Tòa án Thái B, chi phí hết 50 triệu; Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo H lo tiền giúp Hi, nên ngày 06/12/2019 chị H chuyển khoản cho Hi 20.000.000 đồng, ngày 07/12/2019, chị H chuyển khoản cho Hi 29.000.000 đồng, tổng hai lần là 49.000.000 đồng.

Lần thứ 26: Ngày 16/12/2019, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối việc Hi bị kiện ảnh hưởng đến bà L cúng lễ cho H nên H phải cúng lễ cho Hi được an toàn, H mới lấy được 03 tỷ đồng, chị H chuyển khoản cho Hi 20.000.000 đồng.

Lần thứ 27: Ngày 19/12/2019, Hi tạo đoạn hội thoại tin nhắn giữa Hi và Tiến rồi chụp màn hình gửi cho chị H với nội dung: Tiến sẽ giúp Hi xóa hồ sơ tại Tòa án, vợ Hi không kiện được nữa nhưng phải chi phí hết 50 triệu đồng. Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H, bảo chị H phải giúp Hi, xong việc chắc chắn chị sẽ lấy lại được 03 tỷ đồng; chị H đi vay bà Phạm Thị Nhữ, sinh năm 1972, trú tại: thôn An Chỉ, xã B Nguyên nhưng chỉ vay được 40 triệu đồng, Hi nói H cứ chuyển khoản cho Hi, Hi sẽ vay 10 triệu đồng nữa cho đủ nên chị H chuyển khoản cho Hi 40.000.000 đồng.

Lần thứ 28: Ngày 27/12/2019, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: bây giờ chị phải chuyển thêm tiền sắm 3 lễ, mỗi lễ 7 triệu để lễ tạ cho công việc của Hi được thuận lợi; chị H nhắn tin hỏi tại sao phải lễ thì Hi tiếp tục mạo danh bà L nói nếu không chuyển tiền thì bà sẽ đốt 03 tỷ đồng, chị H đã chuyển khoản cho Hi 21.000.000 đồng.

Lần thứ 29: Ngày 03/01/2020, chị H nhắn tin đến số 0392.242.X hỏi bà L bao giờ trả tiền thì không ai trả lời. Chị H gọi điện cho Hi nhờ hỏi bà L thì Hi nói dối điện thoại của bà L hết tiền, không trả lời được, Hi bảo chị chuyển 02 triệu nhưng chị H không có đủ tiền nên chị H chỉ chuyển khoản cho Hi 100.000 đồng.

Lần thứ 30: Ngày 08/01/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H: trong quá trình cúng lễ, vong nói đã bảo vệ cho gia đinh H mấy nãm nay, bây giờ gia đình vong khó khăn, nhờ H lo cho gia đình vong ít tiền sinh hoạt, nên chị H đã chuyển khoản cho Hi 6.000.000 đồng, sau đó Hi mạo danh bà L nhắn tin nói: vong bảo chuyển ít tiền quá nên vong giận dữ, nếu không chuyển thêm, vong sẽ không cho nhận 03 tỷ đồng, nên ngày 10/01/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 20.000.000 đồng, tổng hai lần là 26.000.000 đồng.

Lần thứ 31: Ngày 04/02/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H: cần 02 triệu đồng mua lễ nhưng không còn nên chị H chuyển khoản cho Hi 2.000.000 đồng.

Lần thứ 32: Ngày 13/02/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H: không còn tiền mua thức ăn, không có sức khỏe để lễ, nhờ H chuyển 2.000.000 đồng, chị H chuyển khoản cho Hi 2.000.000 đồng.

xin 03 triệu đồng để mua thuốc tim mạch, sức khỏe yếu không cúng lễ cho chị được, chị H chuyển khoản cho Hi 3.000.000 đồng.

Lần thứ 34: Ngày 24/02/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H: bây giờ chị phải cố gắng lo thêm 01 lễ 7 triệu, kết thúc việc lễ chị sẽ lấy được 03 tỷ đồng, chị H chuyển khoản cho Hi 7.000.000 đồng.

Lần thứ 35: Ngày 26/02/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: nếu chị H nhận tiền 03 tỷ đồng thì chắc chắn Hi sẽ chết, con chị cũng sẽ chết theo; chị H không đồng ý thì Hi mạo danh bà L nói tùy chị, nhưng chắc chắn con chị sẽ chết, muốn cứu con thì phải sắm 7 lễ, mỗi lễ 7 triệu đồng, chị H chuyển khoản cho Hi 49.000.000 đồng.

Lần thứ 36: Ngày 28/02/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: đã lễ xong nhưng phải sắm thêm 02 lễ, mỗi lễ 7 triệu, bà L có 4 triệu rồi, chị H phải chuyển 10 triệu, hứa chắc chắn lễ xong thì chị H sẽ nhận được 03 tỷ đồng, chị H chuyển khoản cho Hi 10.000.000 đồng.

Lần thứ 37: Ngày 06/3/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: do trước đây bà L vay tiền của xã hội đen để làm lễ cho H nên bị xã hội đen đánh, đòi nợ. Hi đã nhờ người đến nhà bà L xem thì thấy bà L bị đánh tím hết mặt. Sau đó Hi mạo danh bà L nói dối nhờ H lo 30 triệu để bà L trả nợ; chị H nhắn tin cho Hi là chỉ vay được 15 triệu và chị H đã chuyển khoản cho Hi 15.000.000 đồng.

Lần thứ 38: Ngày 14/3/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: do vong nữ không đồng ý cho bà L trả tiền nên bà L phải mang tiền đến tỉnh Yên Bái nhờ thầy của bà L cúng lễ giúp. Trên đường từ Yên Bái về Hà Nội, khi khai báo y tế Công an Hà Nội yêu cầu bà L giải trình nguồn gốc 03 tỷ đồng; chị H đề nghị sẽ trực tiếp lên Hà Nội để giải trình về số tiền này nhưng bà L không đồng ý, bà sẽ nhờ người làm giấy xác nhận chứng minh mang tiền đi để mua nguyên liệu thuốc Đông y nhưng không mua được phải quay về; phải làm hồ sơ mua hóa đơn giá trị gia tăng về số tiền 03 tỷ đồng của Công ty dược Thiên Ân, cần số tiền 5 triệu đồng và bảo chị H lo tiền gấp, chị H chuyển khoản cho Hi 5.000.000 đồng.

Lần thứ 39: Ngày 09/4/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói đối: sẽ có Công an Hà Nội nhắn tin cho H hỏi về số tiền 03 tỷ đồng, dặn H trả lời là nhờ 3 người đi mua nguyên liệu làm thuốc cho Công ty dược Thiên Ân. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Hi sử dụng số điện thoại 0865.147.563 mạo danh Công an Hà Nội nhắn tin cho H hỏi về số tiền 03 tỷ đồng, H đã trả lời là nhờ 3 người đi mua nguyên liệu làm thuốc cho Công ty dược Thiên Ân. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Hi mạo danh bà L nhắn tin nói dối là Công an Hà Nội yêu cầu nộp 100 triệu đồng thì trong một tuần mới lấy được 03 tỷ đồng, bà L đã lo được 50 triệu đồng, H phải lo ngay 50 triệu, chị H chuyển khoản cho Hi 50.000.000 đồng.

nói dối: Công an Hà Nội đã làm xong hồ sơ, chuyển về Công an huyện Kiến Xương để xác minh về H, sẽ không xác minh công khai mà làm bí mật. Sau đó, Hi nói dối tiền đã được 2 cán bộ Công an Hà Nội đưa về Công an huyện Kiến Xương, Hi quen anh Huy cán bộ Công an huyện là người trực tiếp mở hồ sơ. Hi bảo H chi 10 triệu cho anh Đức - Giám đốc Công an huyện Kiến Xương, chi 10 triệu cho anh Huy, chi 05 triệu đồng để Hi mời anh Đức, anh Huy đi ăn cơm, ngày 22/4/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 5.000.000 đồng, ngày 23/42020 chuyển 10.000.000 đồng, ngày 24/4/2020 chuyển 10.000.000 đồng, tổng ba lần chị H chuyển khoản cho Hi là 25.000.000 đồng.

Lần thứ 41: Ngày 04/5/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: phải sắm 1 lễ 7 triệu để chị lấy tiền tại Công an huyện thuận lợi, chị H chuyển khoản cho Hi 7.000.000 đồng.

Lần thứ 42: Ngày 15/5/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: vì Hi đứng ra làm lễ cho H nên Hi gặp nguy hiểm đến tính mạng, nếu Hi chết, con gái H cũng chết, bảo chị H phải chi 20 triệu cúng lễ cứu Hi và con gái, chị H chuyển khoản cho Hi 20.000.000 đồng.

Lần thứ 43: Ngày 16/5/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: phải sắm 02 lễ là 14 triệu đồng để cứu con gái H nếu không phải đưa con gái đi ngủ với Hi, không được làm cho Hi nổi giận sẽ ảnh hưởng đến việc cúng lễ, ngày 18/5/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 10.000.000 đồng.

Lần thứ 44: Ngày 01/6/2020, Hi gọi điện cho chị H nói dối bà L bị ốm, đang cần tiền mua thuốc. Hi nói H phải lo tiền thuốc cho bà L để bà L khỏe nhanh mới cúng lễ cho H lấy được 03 tỷ đồng, chị H đã chuyển khoản cho Hi 2.000.000 đồng.

Lần thứ 45: Ngày 03/6/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: cố gắng duy trì việc cúng lễ để giúp Hi được sống và con gái H mạnh khỏe, ngày mai sẽ được nhận 03 tỷ đồng nhưng bảo chị H phải sắm lễ hết 02 triệu đồng, chị H chuyển khoản cho Hi 2.000.000 đồng.

Lần thứ 46: Cũng trong tháng 6/2020, chị H điện thoại hỏi Hi về số tiền 03 tỷ đã mang về Công an Kiến Xương để ở đâu thì Hi nói dối là tiền để ở Kho bạc huyện Kiến Xương, anh Huy đã xác minh tại xã B Nguyên, do H nợ nần nhiều nên đã chuyển tiền lên Công an tỉnh Thái B. Ngày 10/6/2020, chị H tiếp tục hỏi khi nào chị được nhận tiền thì Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo chị H chuyển 14 triệu để cúng lễ, giúp chị nhận 03 tỷ đồng, do không có đủ tiền, chị H chỉ chuyển khoản cho Hi 5.000.000 đồng.

Lần thứ 47: Ngày 15/6/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: vì lo cúng lễ cho con gái H không bị ảnh hưởng tương lai nên bị ốm, phải nhập viện thở máy, không có tiền để lo viện phí ảnh hưởng đến việc cúng lễ cho con chị H, chị H chuyển khoản cho Hi 6.500.000 đồng.

Lần thứ 48: Ngày 15/6/2020, chị H nhắn tin vào số điện thoại ghi bà L nhờ bà L cúng lễ để gia đình chị không liên quan đến Hi nữa. Ngày 16/6/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: vì cúng lễ cho H và con mà Hi gặp nguy hiểm đến tính mạng, bảo chị sắm 02 lễ là 14 triệu, nhưng chị không có đủ tiền nên tại đường xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương chị H gặp và đưa cho Hi 10.000.000 đồng.

Lần thứ 49: Sáng ngày 19/6/2020, chị H gọi điện bảo Hi gọi điện cho chú Thanh ở Bộ Công an hỏi về số tiền 03 tỷ đồng và dẫn H đến nơi giữ tiền thì Hi nói dối tiền được giữ trên Công an tỉnh Thái B nên Hi và H mỗi người đi một xe máy đến khu vực cổng Bệnh viện An Đức, phường Trần Lãm, thành phố Thái B thì Hi giả vờ gọi điện chửi ầm ĩ, Hi nói dối vừa chửi chú Thanh nên chú tắt máy. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Hi mạo danh bà L nhắn tin trách H làm Hi áp lực, bà L phải đến gặp chú Thanh bảo chú ấy mở máy lại, bảo H phải chuyển 40 triệu để làm hồ sơ chi cho Công an Hà Nội và Công an tỉnh Thái B, ngày 19/6/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 40.000.000 đồng.

Lần thứ 50: Ngày 01/7/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: sẽ về qua đền Trần - Nam Định để xin các Quan đồng ý đưa tiền cho H. Ngày 03/7/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: Hi bị Công an Hà Nội triệu tập vì bố, mẹ vợ chết liên quan đến Hi, nếu không lễ Hi phải đi tù. Hi mạo danh bà L bảo chị H phải chuyển 20 triệu lễ cứu Hi, ngày 04/7/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 20.000.000 đồng.

Lần thứ 51: Ngày 06/7/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: mẹ Hi đang bị bệnh nặng, bảo H phải có trách nhiệm vì lễ cho H mà gia đình Hi bị liên lụy. Sau đó, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: vì cúng lễ cho H mà gia đình Hi sắp chết hết, mục đích cho H sợ không dám đòi tiền bà L nữa và nói bà L quay về Hà Nội lập đàn cũng lễ cứu mẹ Hi. Ngày 22/7/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo chị H phải sắm 01 lễ 7 triệu đồng để cứu mẹ Hi, chị H chuyển khoản cho Hi 7.000.000 đồng.

Lần thứ 52: Ngày 01/8/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối bà L ốm, phải thay dây ten tim, bảo H phải chuyển 40 triệu đồng cứu bà L, nếu bà L chết thì H không nhận được 03 tỷ đồng, ngày 01/8/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 10.000.000 đồng, ngày 03/8/2020 chị H chuyển 20.000.000 đồng, ngày 04/8/2020 chị H đưa trực tiếp cho Hi 10.000.000 đồng, tổng ba lần chị H đưa cho Hi là 40.000.000 đồng.

Lần thứ 53: Ngày 07/8/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: thứ 3 bà L ra viện sẽ trực tiếp mang tiền từ Hà Nội về Thái B trả cho H, bảo H xóa toàn bộ nội dung tin nhắn giữa H và bà L. Ngày 11/8/2020, bảo H chuyển cho bà L 02 triệu để cúng lễ, giúp H nhanh lấy được tiền, chị H đã chuyển khoản cho Hi 2.000.000 đồng.

Lần thứ 54: Ngày 14/8/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H bảo chị phải sắm 03 lễ, mỗi lễ 7 triệu để cúng lễ giải hạn cứu con gái, nên chị H chuyển khoản cho Hi 20.000.000 đồng.

Lần thứ 55: Ngày 20/8/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: sẽ trả tiền cho H qua tài khoản và bảo chị mở tài khoản tại ngân hàng. Ngày 22/8/2020, Hi mạo danh bà L bảo chị phải sắm 3 lễ, mỗi lễ 7 triệu để cứu Hi, nhưng thầy của bà L đã lo 02 lễ, H phải lo 1 lễ. Nếu không Hi sẽ chết, con H cũng chết, chị H chuyển khoản cho Hi 7.000.000 đồng.

Lần thứ 56: Ngày 29/8/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: bà L đã ra địa chỉ 78 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội để làm thủ tục chuyển tiền vào tài khoản của H. Ngày 01/9/2020, Hi mạo danh bà L bảo nếu H nhận tiền ngay thì Hi sẽ chết, con H cũng chết theo và bảo chị phải chuyển 20 triệu để cúng lễ, xong việc bà L sẽ chuyển 03 tỷ đồng cho H, chị H chuyển khoản cho Hi 20.000.000 đồng.

Lần thứ 57: Ngày 08/9/2020, chị H nhắn tin vào số điện thoại ghi tên bà L hỏi khi nào bà chuyển tiền, thì Hi mạo danh bà L nhắn tin trả lời: soi thấy gia đình H và con gái gặp nguy hiểm, phải sắm 01 lễ 7 triệu và hẹn ngày 09/9/2020 lễ xong sẽ trả 03 tỷ đồng cho H, chị H chuyển khoản cho Hi 7.000.000 đồng.

Lần thứ 58: Ngày 15/9/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H bảo chị phải chuyển 10 triệu để chuộc xe cho Hi, vì xe này rất quan trọng cho việc cúng lễ để chị H nhận được 03 tỷ đồng, chị H chuyển khoản cho Hi 10.000.000 đồng.

Lần thứ 59: Ngày 16/9/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: bà L bị ốm, sức khỏe yếu không thể trả tiền cho H được, cần tiền mua thuốc, Hi bảo nếu bà L chết thì chị không lấy được 03 tỷ đồng, ngày 17/9/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 3.000.000 đồng.

Lần thứ 60: Ngày 18/9/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: do áp vong vào Hi để lễ nên Hi rất mệt; ngày 21/9/2020 Hi mạo danh bà L nhắn tin: ngày 23/9/2020 là sinh nhật Hi, nếu H lấy tiền thì Hi chết do sinh dữ tử lành. Ngày 28/9/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: do không có tiền mua thức ăn, không có sức khỏe để cúng lễ, bảo H chuyển 02 triệu đồng nhưng chị H không có đủ tiền nên chị H đã chuyển khoản cho Hi 700.000 đồng.

Lần thứ 61: Ngày 30/9/2020, Hi nhắn tin nói dối chị H là bị Công an bắt vì va chạm xe, đang bị tạm giam, không gọi điện được, chỉ nhắn tin. Hi bảo cần gấp 200 triệu đồng để bảo lãnh được ra, nếu Hi bị bắt thì không ai đứng ra lấy 03 tỷ cho H, Sau đó Hi bảo bố mẹ đã vay được 120 triệu đồng, bảo H lo giúp 80 triệu đồng, ngày 05/10/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 30.000.000 đồng; ngày 08/10/2020 chuyển khoản cho Hi 25.000.000 đồng.

Ngày 16/10/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo H nói phải sắm 02 lễ 14 triệu, chị H chuyển khoản cho Hi 14.000.000 đồng. Sau đó, Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo H chuyển tiền để cứu Hi không liên quan đến pháp luật, ngày 20/10/2020 chị H đã chuyển khoản cho Hi 5.000.000 đồng. Ngày 21/10/2020 chuyển khoản cho Hi 20.000.000 đồng, tổng năm lần chị H chuyển khoản cho Hi là 94.000.000 đồng.

Lần thứ 62: Ngày 23/10/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo chị H chuyển cho Hi 03 triệu đồng để Hi gửi cho con của vong nhờ họ mua sắm lễ, thuê người cúng cho vong, kết hợp với bà L lễ trên Hà Nội, do H không có đủ tiền, ngày 24/10/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 1.500.000 đồng.

Lần thứ 63: Ngày 04/11/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo chị H sắm 1 lễ 7 triệu để kết thúc việc lễ lấy tiền, nếu không lo được thì phải chịu hậu quả không lấy được 03 tỷ đồng, do không có đủ tiền nên chị H chuyển khoản cho Hi 6.000.000 đồng.

Lần thứ 64: Ngày 08/12/2020, bà Phạm Thị Nhữ, sinh năm 1972, trú tại thôn An Chỉ, xã B Nguyên đến nhà chị H đòi tiền và xô xát với mẹ H nên H nhờ Hi nộp đơn kiện của gia đình lên Công an huyện. Hi nói dối chị H phải chi 25 triệu đồng cho cán bộ Công an huyện thụ lý hồ sơ để họ giải quyết giúp; chị H nói với Hi không có tiền, Hi mạo danh bà L bảo H phải lo tiền vì Hi đã nhờ người ta rồi, phải cảm ơn. Ngày 18/12/2020 Hi nói dối phải chuyển khoản tạm cho anh Hoàn Công an huyện 05 triệu để anh ấy thụ lý hồ sơ, số tiền 20 triệu còn lại lo sau, do không có đủ tiền nên ngày 18/12/2020 chị H chuyển khoản cho Hi 2.250.000 đồng.

Lần thứ 65: Ngày 21/12/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H bảo lo tiền đưa cho Hi để lo việc cho gia đình chị được suôn sẻ và phải có trách nhiệm vì Hi đã nhờ người ta rồi, tại đường gần nhà Hi chị H đưa cho Hi 8.500.000 đồng.

Lần thứ 66: Ngày 30/12/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin nói dối chị H: đang lễ tại nhà anh Huân con của vong tại xã Q, sau khi lễ xong sẽ trả H 03 tỷ đồng, chị H nói muốn ra nhà anh Huân gặp bà L nhưng Hi mạo danh bà L không đồng ý. Ngày 31/12/2020, Hi mạo danh bà L nhắn tin do H gây áp lực cho Hi nên Hi đã mang dao ra nhà anh Huân chém vào tay bà L, đe dọa giết chết bà L. Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo chị H phải sắm 3 lễ là 21 triệu, nếu không bà L sẽ đốt 03 tỷ đồng, không đưa cho H nên chị H chuyển khoản cho Hi 19.800.000 đồng.

Lần thứ 67: Ngày 03/01/2021, chị H gọi điện hỏi Hi khi nào bà L trả tiền thì Hi mạo danh bà L nhắn tin hẹn ngày 05/01/2021 và bảo chị H đưa Hi 05 triệu để bà L làm bàn thờ cho vong vì vong bảo vệ cho gia đình H, tại đầu ngõ nhà Hi, chị H đưa cho Hi 5.000.000 đồng.

Lần thứ 68: Ngày 08/01/2021, Hi mạo danh bà L nhắn tin cho chị H nói dối: ngày giỗ bà Hi nên vợ Hi về quê sẽ hại con H và bảo chị H chuyển 02 triệu để lễ bảo vệ cho con H, do chị H không có đủ tiền chỉ chuyển khoản cho Hi 1.000.000 đồng.

Lần thứ 69: Ngày 11/01/2021, chị H liên tục gọi điện cho Hi đề nghị Hi đòi tiền bà L, thì Hi dọa sẽ giết chết bà L để H không lấy được 03 tỷ đồng. Ngày 14/01/2021, Hi mạo danh bà L nhắn tin yêu cầu chị H lo tiền để bà L làm một điện thờ nhỏ ở xã Q cho vong ngự vào, che chở cho tất cả gia đình H và gia đình Hi, nhưng chị H không lo được tiền; Hi tiếp tục mạo danh bà L nhắn tin bảo chị phải lo ngay 07 triệu để lễ và mua đồ cho vong, ngày 16/01/2021, Hi mạo danh bà L nhắn tin nói dối là đã lo được 02 triệu, chị H phải lo 05 triệu, do chị H không có đủ tiền, khoảng 10 giờ ngày 16/01/2021, chị H đến cổng nhà Hi đưa cho Hi 1.000.000 đồng, buổi chiều cùng ngày chị H chuyển khoản cho Hi 3.000.000 đồng, tổng hai lần chị H đưa cho Hi là 4.000.000 đồng.

Lần thứ 70: Ngày 19/01/2021, Hi mạo danh bà L nhắn tin xin lỗi chị H, nói dối: vì lễ quên không đặt tiền lên bàn thờ nên chưa lễ xong, hẹn ngày 20/01/2021 chắc chắn sẽ trả H 03 tỷ đồng, đã xin vong cho H được nhận tiền. Hi mạo danh bà L bảo H phải đưa Hi 05 triệu để chuộc xe máy vì xe đó rất quan trọng cho việc cúng lễ bảo vệ 02 con của H, do chị H không có đủ tiền, ngày 21/01/2021, chị H chuyển khoản cho Hi 1.000.000 đồng. Sau đó, Hi tiếp tục mạo danh bà L nhắn tin bảo H phải chuyển 3,2 triệu mua lễ, do chị H không có đủ tiền chỉ đưa cho Hi 1.500.000 đồng, ngày 28/01/2021, chị H chuyển khoản cho Hi 300.000 đồng, tổng ba lần chị H đưa cho Hi là 2.800.000 đồng.

Lần thứ 71: Ngày 29/01/2021, Hi mạo danh bà L nhắn tin nói dối chị H: sẽ không ở lại xã Q nữa, đã áp vong vào 03 tỷ đồng, nhờ anh Huân mang tiền vào nhà Hi để, bà L sẽ về Hà Nội lập điện thờ, hẹn ngày 01/02/2021 sẽ về Thái B trả tiền H. Ngày 11/3/2021, Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo chị H chuyển cho Hi 02 triệu để mua lễ, do chị H không đủ tiền chỉ chuyển khoản cho Hi 300.000 đồng.

Lần thứ 72: Ngày 11/3/2021, chị H điện thoại kể cho Hi việc nhờ cán bộ Bệnh viện đa khoa huyện Kiến Xương chuyển viện cho người nhà, xong việc sẽ cảm ơn bằng tiền. Lợi dụng việc này, Hi mạo danh bà L nhắn tin là soi được tương lai của H sẽ liên quan đến pháp luật vì việc này rất nguy hiểm, bà L bảo chị H phải lo ngay 01 lễ 7 triệu nên ngày 15/3/2021 chị H chuyển khoản cho Hi 7.000.000 đồng.

Lần thứ 73: Ngày 16/3/2021, Hi mạo danh bà L nhắn tin hẹn chị H ngày 17/3/2021 sẽ trả H 03 tỷ đồng. Ngày 17/3/2021, Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo chị H chuyển 03 triệu đồng lo công việc lễ đến sáng 18/3/2021 trả tiền H, do không có đủ tiền, chị H chuyển khoản cho Hi 1.700.000 đồng.

Lần thứ 74: Do chị H kể với Hi đã hai lần phá thai nên ngày 19/3/2021, Hi mạo danh bà L nhắn tin bảo chị H phải chuyển cho Hi 03 triệu để cúng lễ cho 02 thai nhi được siêu thoát, phù hộ cho H, do không có đủ tiền nên ngày 22/3/2021, chị H chuyển khoản cho Hi 300.000 đồng.

Tổng số 74 lần lừa đảo chiếm đoạt của chị Trần Thị Thu H số tiền 1.735.450.000 đồng, Vũ Đức Hsử dụng như sau: Trả nợ anh Trần Nghệ Tổng, sinh năm 1X, trú tại thôn L, xã Q, huyện Kiến X, tỉnh ThB 1.093.000.000 đồng; đưa cho vợ là chị Lê Thị Minh, sinh năm 1984, trú tại Phòng 1.505, tòa nhà CT2A, đường Bát Khối, tổ 17, phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội là 20.772.000 đồng để nuôi con, sinh hoạt gia đình. Chuyển khoản cho anh Trần Thế Độ, sinh năm 1969, trú tại thôn L, xã Q, huyện Kiến X, tỉnh ThB 16 lần là 78.280.000 đồng để anh Độ đưa tiền mặt cho Hi chi tiêu. Chuyển khoản cho chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1999, trú tại thôn Quan Đình Bắc, xã Đông Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái B 11 lần là 58.500.000 đồng để chị H đưa tiền mặt cho Hi chi tiêu. Chuyển khoản cho anh Tô Thế Toàn, sinh năm 1988, trú tại sổ nhà 421, tổ 11, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái B làm quản lý quán Karaoke Martin đường Ngô Quyền, phường Trần Lãm, thành phố Thái B 15 lần là 50.359.000 đồng để thanh toán tiền hát Karaoke. Vũ Đức Hđưa cho bố đẻ ông Vũ Văn Nam, sinh năm 1957, trú tại thôn L, xã Q, huyện Kiến X, tỉnh ThB 60.000.000 đồng để xây nhà. Số tiền còn lại Hi đã chi tiêu cá nhân hết.

- Kết luận giám định số 6246/C09-P6 ngày 27/10/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, đối với điện thoại Apple Iphone 6s màu hồng của chị Trần Thị Thu H kết luận: “Trong điện thoại của chị H có 4079 tin nhắn iMessage giữa thuê bao 0987.288.118 với thuê bao 0987.922.X; 4667 tin nhắn SMS giữa thuê bao 0987.288.118 với thuê bao 0392.242.X; 10 tin nhắn giữa thuê bao 0987.288.118 với thuê bao 0865.147.563; 1101 tệp ảnh, 126 tệp video, 03 tệp ghi âm lưu trữ trong máy điện thoại di động” - Kết luận giám định số 6245/C09-P6 ngày 27/10/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đối với điện thoại Iphone 7 Plus màu vàng của Vũ Đức Hkết luận: “Tìm thấy 123 tin nhắn Imessage giữa thuê bao 0987.922.X với thuê bao 097.288.118, 01 tin nhắn SMS giữa thuê bao 0987.922.X với thuê bao 039.224.2X, 3226 tệp ảnh, 271 tệp video, 03 tệp ghi âm lưu trữ trong máy điện thoại gửi giám định. Không tìm thấy dữ liệu trong thẻ SIM”.

Cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 27/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái B đã truy tố bị cáo Vũ Đức Hỉệp về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 05/9/2022, Toà án nhân dân tỉnh Thái B đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, e, g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Vũ Đức Hphạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Đức H15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Vũ Đức Hphải bồi thường cho chị Trần Thị Thu H số tiền là 1.675.450.000 đồng (Một tỷ sáu trăm bẩy mươi lăm triệu bốn trám năm mươi ngàn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/9/2022, người bị hại chị Trần Thị Thu H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Chị Trần Thị Thu H giữ nguyên nội dung kháng cáo, chị H xác định tổng số tiền mà chị cáo Vũ Đức Hchiếm đoạt của chị là 10 tỷ đồng; điều này chính bị cáo Hi có nhiều lời khai thừa nhận, ngoài ra bị cáo Hi còn viết giấy biên nhận tổng số tiền Hi chiếm đoạt của chị là 10 tỷ đồng nhưng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm chỉ truy tố và xét xử buộc bị cáo Hi bồi thường cho chị 1.6675.450.000 đồng là không đúng, làm thiệt hại đến quyền lợi của chị; hình phạt 15 năm tù trong khi Hi chiếm đoạt của chị 10 tỷ đồng cũng là quá nhẹ; Tổng số tiền chị đưa cho bị cáo là tiền đi vay mọi người trong gia đình, vay người quen; Hi dùng số tiền chiếm đoạt của chị để đưa cho vợ, cho bố đẻ làm nhà, chi trả nợ cho nhiều người nhưng cơ quan điều tra không làm rõ để thu hồi lại trả cho chị cũng là không đúng. Hành vi của Hi khiến gia đình chị và gia đình bố mẹ đẻ chị tan nát, bị những người cho vay tiền đánh đập, xỉ nhục. Chị H xác định chị và bị cáo không hề có tình cảm mà Hi đã ép buộc để quan hệ tình dục với chị nhiều lần nên đề nghị xét xử Hi về tội cưỡng dâm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nêu quan điểm:

Kháng cáo của chị H trong thời hạn, đúng quy định nên cần được chấp nhận để xét.

Việc chấp hành pháp luật về tố tụng tại gia đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa của những người tham gia và những người tiến hành tố tụng đều đúng quy định.

Về hành vi của bị cáo từ tháng 4/2016 đến năm 2021 bằng thủ đoạn lợi dụng việc con của chị H ốm yếu và sự mê tín của chị H nên Hi đã 74 lần thực hiện hành vi lừa dối thông qua việc ngụy tạo một đối tượng biết cúng bái để nhắn tin lừa đối chiếm đoạt của chị H số tiền 1.675.450.000 đồng như tại bản án sơ thẩm đã quy kết. Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã truy tố và áp dụng khoản 4 Điều 174 đối với bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, chị H đã xác định số tiền bị cáo Hi chiếm đoạt của chị là 10 tỷ đồng chứ không phải là 1.675.450.000 đồng. Tại phiên tòa ngày 20/12/2022 chị H xuất trình bản chính tài liệu Hi viết xác nhận Hi cầm của chị H số tiền 10 tỷ đồng. Trong hồ sơ vụ án (BL 53) là giấy xác nhận nợ Hi xác nhận cầm của chị H 10 tỷ đồng chưa trả; Tại các biên bản lấy lời khai ngày 13/7/2021, ngày 14/7/2021 tại Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Thái B và lời khai ngày 20/7/2021 bị cáo Hi khai xác nhận cầm của chị H 10 tỷ đồng; sau đó chính bị cáo và chị H gặp nhau để chốt lại và bị cáo viết giấy xác nhận số tiền Hi cầm của chị H là 10 tỷ đồng . Do đó, có đủ căn cứ xác định Hi có hành vi lừa đảo để chiếm đoạt của chị H số tiền 10 tỷ đồng. Nhưng cơ quan điều tra chưa làm rõ toàn bộ số tiền đó là quan hệ dân sự hay hình sự để xác định trách nhiệm hình sự là điều tra chưa đầy đủ. Vấn đề này tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục, bổ sung được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Bị cáo Vũ Đức Hchỉ thừa nhận chiếm đoạt của chị H số tiền như bản án sơ thẩm đã xác định; việc nhiều lần Hi khai thừa nhận tổng số tiền 10 tỷ đồng của chị H là do bị điều tra viên đánh đập, Hi sợ nên phải nhận. Về giấy biên nhận bị cáo Hi thừa nhận đúng là chữ viết và chữ ký của bị cáo nhưng cho rằng bị cáo viết thế để chị H đưa cho gia đình yên tâm không truy chị H về việc vay tiền nhiều người và họ đe dọa gia đình bố mẹ chị H, thực chất bị cáo không chiếm đoạt của chị H số tiền 10 tỷ đồng. Bị cáo chấp nhận bản án sơ thẩm nên không kháng cáo, hiện bị cáo đang bị tạm giam nên có tác động gia đình bồi thường một phần cho chị H nhưng bố mẹ bị cáo đã già yếu, gia đình hiện chưa có điều kiện để bồi thường. Đề nghị Tòa án xem xét giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư Nguyễn An B bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về số tiền 10 tỷ đồng chị H khai đưa cho bị cáo là không có thật vì xuất phát từ quan hệ tình cảm, do áp lực từ phía gia đình bị hại và yêu cầu của chị H nên bị cáo mới viết giấy biên nhận số tiền 10 tỷ đồng để gia đình chị H yên tâm, chứ thực tế bị cáo không được nhận số tiền này. Cơ quan điều tra đã điều tra và không chấp nhận số tiền này vì không có căn cứ. Bản thân bị cáo Hi chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo là thương binh, đã bồi thường cho người bị hại 60 triệu đồng, bố mẹ bị cáo hiện đã già yếu, mẹ bị cáo bị tai nạn không có khả năng lao động, bị cáo có 02 con nhỏ, hoàn cảnh khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Luật sư Bùi Xuân Xanh có quan điểm: Chị H khai những lần đưa tiền cho bị cáo Hi thì có lần có người biết, có lần không có người biết, có lần có người nhưng không biết đó là tiền gì, chị H không nhớ rõ số tiền đưa cho bị cáo là bao nhiêu. Chị H cho rằng bị cáo chiếm đoạt của chị 10 tỷ đồng thì chưa được làm rõ. Bị cáo đã khắc phục bồi thường cho người bị hại được 60 triệu đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người bị hại Trần Thị Thu H làm trong hạn nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại xuất trình thêm tài liệu mới là “Giấy biên nhận” lập ngày 09/7/2021 có nội dung Vũ Đức Hxác nhận cầm của chị H 10 tỷ đồng, tại liệu này đã được công khai, tranh tụng tại phiên tòa nên được chấp nhận để xét.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và yêu cầu xác định số tiền bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và bồi thường là 10 tỷ đồng của người bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại phiên toà bị cáo Vũ Đức Hchỉ tiếp tục thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã xác định; bị cáo không thừa nhận đã lừa dối để chiếm đoạt của chị H số tiền 10 tỷ đồng mà chỉ dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của chị H số tiền như bản án sơ thẩm đã xác định. Tại phiên tòa người bị hại xuất trình Giấy xác nhận nợ ghi ngày 09/7/2021; bị cáo Vũ Đức Hxác nhận giấy này do chính bị cáo viết và ký tại một quán cà phê tại thị trấn Kiến Xương khi chỉ có hai người là chị H và bị cáo, nhưng bị cáo viết để cho chị H đưa về cho gia đình chị H tin chị H chứ thực chất bị cáo không cầm của chị H 10 tỷ đồng như nội dung ghi trong giấy.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét thấy lời khai của người bị hại tại phiên tòa phù hợp và thống nhất với lời khai của bị cáo trong các ngày 13/7, 14/7 tại Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Thái B và lời khai của bị cáo ngày 20/7/2021; điều này phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Giấy xác nhận nợ ghi ngày 09/7/2021 do chị Trần Thị Thu H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái B; Biên bản khám xét chỗ ở của Vũ Đức Hcủa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái B lập ngày 14/7/2021 thu giữ 01 điện thoại Nokia màu đen đã cũ, có sim 0584.036.X; Biên bản quản lý của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái B lập ngày 13/7/2021, Cơ quan điều tra quản lý của Vũ Đức H01 điện thoại Iphone 7 Plus màu vàng đã cũ, có sim số 0987.922.X; Biên bản quản lý của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái B lập ngày 09/7/2021, Cơ quan điều tra quản lý của chị Trần Thị Thu H 01 điện thoại Apple Iphone 6s màu hồng, đã cũ, số IMEI: 358570072721772 không có sim; Tài liệu sao kê giao dịch tài khoản Ngân hàng Techcombank chi nhánh Thái B, số tài khoản 19033879400011 của Vũ Đức H từ ngày 05/3/2019 đến ngày 28/6/2021 xác định: Chị Trần Thị Thu H đã 60 lần chuyển khoản vào tài khoản của Hi số tiền 714.450.000 đồng; Kết luận giám định số 6246/C09- P6 ngày 27/10/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an; Kết luận giám định số 41/KLGĐTL-PC09 ngày 09/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái B; Kết luận giám định số 6244/C09-P6 ngày 28/10/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an.

Từ đó, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã kết luận: Trong thời gian từ tháng 4/2016 đến ngày 26/3/2021, bị cáo Vũ Đức H lợi dụng chị Trần Thị Thu H là người mê bói toán, con hay ốm đau, đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị H bằng thủ đoạn “dựng” lên một bà L thầy cúng cao tay ở thành phố Hà Nội không có thật và nói dối chị H muốn con khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc, buôn bán có lộc, Hi sẽ nhờ bà L cúng lễ giúp và lừa dối trong việc trả cho chị H 03 tỷ đồng. Vũ Đức H đã thực hiện 74 lần lừa đảo chiếm đoạt của chị Trần Thị Thu H tổng số tiền 1.735.450.000 đồng (trong đó: chuyển qua tài khoản 714.450.000 đồng, trực tiếp đưa cho Hi 1.021.000.000 đồng, lần nhiều nhất chiếm đoạt 250.000.000 đồng, lần ít nhất là 100.000 đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo Hi đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra chị H đã nộp tài liệu là Giấy xác nhận nợ ghi ngày 09/7/2021 do chính Vũ Đức Hviết; Vũ Đức Hcòn có lời khai xác nhận nội dung này trong quá trình điều tra vào ngày 13 và ngày 14/7/29021 tại Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Thái B; lời khai ngày 20/7/2021 Vũ Đức Hvẫn khai thừa nhận nội dung này nhưng chưa được điều tra làm rõ cụ thể để xác định toàn bộ số tiền này là do bị cáo Hi dùng thủ đoan gian dối để chiếm đoạt của chị H hay có những khoản nào là quan hệ dân sự. Để từ đó xác định đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của Vũ Đức Hvề trách nhiệm hình sự cũng như trách nhiệm bồi thường đối với khoản tiền 10 tỷ đồng này. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Đức Hvẫn xác nhận Giấy xác nhận nợ này do chính bị cáo viết và ký tên khi chỉ có bị cáo và chị H. Nhưng bị cáo khai bị cáo viết để chị H đem về đưa cho gia đình chị H để đỡ bị gia đình chất vấn về vấn đề vay tiền của nhiều người. Thực tế quá trình điều tra bị cáo Hi vẫn có lời khai phù hợp với nội dung ghi trong giấy này. Nay bị cáo cho rằng bị cáo khai nhận là do bị điều tra viên đánh đập, bị cáo sợ nên khai nhận là không có căn cứ để chấp nhận. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với nội dung ghi trong giấy xác nhận do bị cáo tự nguyện viết nên có đủ căn cứ xác định bị cáo đã chiếm đoạt của người bị hại số tiền 10 tỷ đồng nhưng chưa được điều tra làm rõ để làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự cũng như trách nhiệm bồi thường đối với số tiền này như thế nào là điều tra chưa đầy đủ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội cũng đã đánh giá phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về vần đề thiếu sót này không thể khắc phục được tại phiên tòa phúc thẩm. Vì vậy cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giao hồ sơ cho cơ quan điều tra tiến hành điều tra làm rõ như nhận định trên.

[3] Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên bị cáo và người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng cáo của người bị hại chị Trần Thị Thu H;

Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thái B. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái B để điều tra lại.

2. Về án phí: Bị cáo Vũ Đức H, người bị hại chị Trần Thị Thu H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

155
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 365/2023/HS-PT

Số hiệu:365/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/05/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về