TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
BẢN ÁN 36/2024/HS-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS, ngày 16 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/HSST-QĐ ngày 25/4/2024, số 04/2024/HSST-QĐ ngày 22/5/2024, số 07/2024/HSST-QĐ ngày 21/6/2024, số 09/2024/HSST-QĐ ngày 19/7/2024, số 11/2024/HSST-QĐ ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:
Hứa Văn S, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1989 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Xuân T và bà Vi Thị N; vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân:
+ Ngày 08/5/2014 bị công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích;
+ Ngày 06/12/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa: Ông Đinh Xuân D – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- Bị hại: Anh Lý Thế H, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
+ Anh Lý Văn N1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Hứa Văn L, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
+ Anh Triệu Văn T2, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
+ Anh Hoàng Văn T3, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2020, Hứa Văn S đi lao động tại khu công nghiệp ở xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang thì dùng điện thoại di động có kết nối internet vào mạng xã hội Facebook để tìm mua xe cũ tại các trang mạng, S nhìn thấy hình ảnh chiếc xe nhãn hiệu YAMAHA EXCITER và ưng ý nên tìm số điện thoại của người bán xe cũ đăng trên Facebook rồi vào ứng dụng Z, tìm kiếm tài khoản Zalo theo số điện thoại để liên lạc, trao đổi mua chiếc xe với một người đàn ông Sự không quen biết, không rõ địa chỉ. Sau khi trao đổi với người bán xe, S biết rõ xe không có Giấy chứng nhận đăng ký xe, không có biển số đăng ký, muốn có thì phải làm giả, S thỏa thuận mua chiếc xe không rõ nguồn gốc kèm giấy tờ xe giả với giá 7.000.000 đồng. Theo hướng dẫn của người đàn ông, S đã chụp ảnh hai mặt chứng minh nhân dân của mình gửi cho người đàn ông đó để làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hứa Văn S. Sau khi thỏa thuận với người đàn ông được khoảng 3 ngày thì người đàn ông hẹn Sự đến khu vực Cầu S ở thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để giao dịch mua bán xe. S đi một mình đến chỗ hẹn, gặp một người đàn ông cao, gầy, khoảng 20 tuổi (S không hỏi tên, địa chỉ). Tại đây, sau khi xem xe thấy xe đúng như đã thỏa thuận, S đưa số tiền 7.000.000 đồng do S đi làm thuê có được cho người đàn ông và được người đàn ông giao xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu sơn đen, gắn biển số 97B1-X cùng một giấy chứng nhận xe mô tô, xe máy giả mang tên Hứa Văn S. Sau khi mua được xe, S đã dùng chiếc xe trên cùng Giấy đăng ký xe giả mang tên mình để đi lại. Đến ngày 07/5/2021, S đi chiếc xe mô tô đến cửa hàng mua bán xe mô tô, xe máy của ông Lý Thế H tại thôn K, xã M, huyện B, sau đó, trao đổi mua bán chiếc xe trên. Sự nói đó là xe của S, S đang cần tiền, có ý định bán xe và đưa giấy đăng ký xe cho ông H xem, hai người thỏa thuận giá mua bán là 20.000.000 đồng rồi làm hợp đồng mua bán xe, ông H trả Sự số tiền 20.000.000 đồng như thỏa thuận, S giao xe và giấy tờ xe giả mang tên Hứa Văn S cho ông H. Quá trình mua bán làm hợp đồng có anh Hứa Văn L chứng kiến.
Sau khi mua xe của S, ông H đã để chiếc xe trên bày bán tại cửa hàng. Đến ngày 19/01/2023, Hoàng Văn T1 đi cùng anh trai là Hoàng Văn T3 đến cửa hàng xe của ông H để tìm mua xe. Tại đây, T1 hỏi mua chiếc xe mô tô YAMAHA EXCITER gắn biển số đăng ký 97B1-X, hai bên thỏa thuận giá là 21.500.000 đồng, vì là chỗ quen biết nên ông H cho T1 trả dần số tiền trên. Ông H đã giao xe kèm theo giấy đăng ký xe mang tên Hứa Văn S cho T1 và T1 đã trả cho ông H được 18.000.000 đồng, còn nợ ông H 3.500.000 đồng.
Hoàng Văn T1 đã mang xe về nhà để sử dụng cho việc đi lại, đến khoảng tháng 4/2023, T1 đã chia sẻ thông tin lên mạng xã hội Facebook để bán xe và nhờ bạn của T1 là Triệu Văn T2 hộ tìm người mua xe. Ngày 17/4/2023, anh Lý Văn N1 hỏi mua xe trên, T1 đồng ý bán cho N1 với giá 21.000.000 đồng và làm hợp đồng mua, bán xe tại nhà Triệu Văn T2. Anh N1 đã trả đủ số tiền 21.000.000 đồng cho T1, T1 giao chiếc xe cùng giấy đăng ký xe mang tên Hứa Văn S cho anh N1. Ngày 19/4/2023, khi anh N1 điều khiển xe mô tô trên đến K+200 Quốc lộ B thuộc địa phận tổ dân phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thì gặp Tổ công tác Phòng C Công an tỉnh B dừng xe kiểm tra, do phát hiện có nghi vấn về giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy nên đã tạm giữ xe và chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xử lý. Qua quá trình xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chuyển toàn bộ hồ sơ cùng tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để tiến hành điều tra, xác minh theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số 187/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Giấy chứng nhận xe mô tô, xe máy cần giám định là giả.
Tại Kết luận giám định số 189/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Ký tự chữ, số khung và chữ, số máy của xe mô tô YAMAHA EXCITER, màu sơn đen, biển số đăng ký 97B1-X là ký tự chữ số nguyên thủy do nhà sản xuất đóng; Biển số xe mô tô 97B1-X (mẫu cần giám định) không đồng nhất với biển số đăng ký xe mô tô 97B1-751.53 (mẫu so sánh) do phòng PC08 cấp và không phù hợp với quy định tại phụ lục 04 Thông tư số 58/2020/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ trưởng Bộ C1 ban hành.
Tại Kết luận định giá tài sản số 72/KL/HĐĐG ngày 08/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện B kết luận: Một xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu sơn đen, biển số đăng ký 97B1-X giả, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả tại thời điểm ngày 07/8/2021 trị giá 5.000.000 đồng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu sơn đen, số khung RLCUG0610HY516021, số máy G3D4E538845 xác định chủ xe là Trần Văn Đ, biển số đăng ký là 98B3-030.14. Điển đã bán chiếc xe trên vào năm 2020 cho một người không quen biết làm công nhân ở khu công nghiệp V, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Đối với biển số đăng ký 97B1-X xác định là biển số đăng ký thật của chiếc xe nhãn hiệu HONDA WAVE, chủ xe là Đặng Văn N2, ông N2 đã chết năm 2022, gia đình ông N2 cho biết chiếc xe đã được ông N2 bán nhưng không biết ông N2 bán cho ai, vào thời gian nào.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe YAMAHA EXCITER, màu sơn đen, số khung RLCUG0610HY516021, số máy G3D4E538845 nhưng chưa có kết quả; Ngày 16/10/2023 Công an huyện B thông báo kết quả tra cứu xe vật chứng đối với chiếc xe trên, kết quả xác định: Không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng.
Quá trình giải quyết vụ án, Hứa Văn S khai: Do không có tiền để mua xe mới nên S đã vào trang mạng để tìm mua xe không rõ nguồn gốc. Quá trình trao đổi, mua bán xe không rõ nguồn gốc với người đàn ông không quen biết, S đều biết giấy tờ, biển số đăng ký liên quan đến chiếc xe đều phải làm giả và không do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước cấp. Sự đã cung cấp thông tin cá nhân để làm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy giả để sử dụng. Sau đó, do cần tiền tiêu xài, S đã cố tình bán chiếc xe gắn biển số đăng ký 97B1-X giả kèm giấy tờ xe giả cho ông Lý Thế H lấy số tiền 20.000.000 đồng vào ngày 07/5/2021. Số tiền bán xe, S đã chi dùng hết.
Bị hại Lý Thế H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình mua bán chiếc xe trên đều không biết xe sử dụng giấy chứng nhận xe giả, biển số giả.
Anh Lý Thế H yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền đã bỏ ra để mua xe là 20.000.000 đồng; Ngày 22/01/2024, S đã trả được cho anh H số tiền 1.000.000 đồng, hai bên nhất trí thỏa thuận Sự trả tiếp cho anh H số tiền 19.000.000 đồng.
Anh Hoàng Văn T1 yêu cầu anh Lý Thế H trả lại số tiền đã bỏ ra để mua xe với số tiền 18.000.000 đồng; anh H nhất trí thỏa thuận nhưng chưa trả được khoản tiền nào.
Anh Lý Văn N1 yêu cầu anh Hoàng Văn T1 trả lại số tiền đã bỏ ra để mua xe với số tiền 21.000.000 đồng; anh T1 nhất trí nhưng chưa trả được khoản tiền nào.
Với hành vi trên, bản Cáo trạng số: 07/CT-VKSBB ngày 14/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Hứa Văn S về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm d khoản 2 Điều 341 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Hứa Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Hứa Văn S theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn S phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341; khoản 1 Điều 174; Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hứa Văn S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và xử phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù từ 03 năm đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, sống phụ thuộc gia đình nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 341, khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý vật chứng:
+ Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 biển số đăng ký 97B1-X (giả).
+ Chuyển lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 022811 mang tên Hứa Văn S (giả);
+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu sơn đen, số khung RLCUG0610HY516021, số máy G3D4E538845 đã qua sử dụng kèm theo chìa khóa xe: Giao Công an huyện B tiếp tục tạm giữ, bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lý Thế H số tiền còn lại là 19.000.000 đồng;
+ Bị hại anh Lý Thế H có trách nhiệm hoàn trả cho anh Hoàng Văn T1 số tiền 18.000.000 đồng;
+ Anh Hoàng Văn T1 có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lý Văn N1 số tiền 21.000.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với tội danh và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội. Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, người bào chữa nhất trí các nội dung trong bản luận tội của Viện kiểm sát, tuy nhiên, đối với nội dung mức hình phạt của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người bào chữa đề nghị áp dụng cho bị cáo là 06 tháng tù. Kiểm sát viên đã đối đáp đầy đủ các ý kiến của người bào chữa và giữ nguyên quan điểm luận tội.
Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng quy định.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Xét thấy, những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đơn xin xét xử vắng mặt, đã nêu rõ phần quyền, nghĩa vụ của họ nên việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của Tòa án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng giữa năm 2020, Hứa Văn S do có nhu cầu mua xe để đi lại nên đã truy cập vào mạng xã hội Zalo nhắn tin, trao đổi với một tài khoản Zalo mà S không nhớ thông tin cụ thể để mua một xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu sơn đen. Sự biết rõ xe không rõ nguồn gốc, không có biển số đăng ký và giấy chứng nhận nhưng S đã đồng ý cung cấp thông tin cá nhân để làm Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả mang tên Hứa Văn S và xe có biển số đăng ký là giả. Khoảng 3 ngày sau khi trao đổi, S đã đến khu vực cầu S thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh để nhận xe có biển số đăng ký là 97B1-X giả kèm giấy tờ xe giả mang tên Hứa Văn S và trả cho đối tượng bán xe số tiền 7.000.000 đồng.
Sự sử dụng xe đến ngày 07/5/2021, do cần tiền tiêu dùng, S đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu sơn đen, gắn biển số đăng ký 97B1-X giả kèm theo giấy chứng nhận xe giả mang tên Hứa Văn S cho anh Lý Thế H để chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng. Sự không nói cho anh H biết về nguồn gốc của xe; anh H thấy xe là chính tên chính chủ, có đầy đủ giấy tờ xe nên tin tưởng và mua xe.
Hứa Văn S có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, vì nhu cầu mua xe rẻ về sử dụng và cần tiền để tiêu dùng, mặc dù biết rõ hành vi sử dụng giấy tờ xe, biển số xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp là vi phạm pháp luật nhưng S vẫn cố tình mua xe có giấy tờ giả, biển số xe giả để sử dụng, sau đó bán cho người khác để chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng. Hành vi của Hứa Văn S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước và xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Vì S sử dụng giấy tờ xe giả không những để che giấu cơ quan, tổ chức về tính hợp pháp của chiếc xe mà còn sử dụng giấy tờ xe giả để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng là “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại khoản 1 Điều 174 nên Sự chịu tình tiết định khung về tội “Sử dụng giấy tờ, tài liệu giả” theo điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể truy tố Hứa Văn S về các tội nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 08/5/2014, bị công an huyện B xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích; Ngày 06/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 8 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã tự nguyện bồi thường cho anh Lý Thế H số tiền 1.000.000 đồng để khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, Bằng khen, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng; bị hại anh Lý Thế H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo. Bị cáo phạm hai tội nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt 06 tháng tù đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cho bị cáo là chưa nghiêm, không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174, khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại; Bị cáo đã bồi thường cho anh H số tiền 1.000.000 đồng, anh H yêu cầu và bị cáo nhất trí bồi thường tiếp cho anh H số tiền là 19.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn T1 yêu cầu anh Lý Thế H phải trả lại số tiền 18.000.000 đồng mà anh T1 đã trả cho anh H khi mua xe.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Văn N1 yêu cầu anh Hoàng Văn T1 phải trả lại số tiền 21.000.000 đồng mà anh N1 đã trả cho anh T1 khi mua xe.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án ghi nhận trong bản án; xét thấy sự thỏa thuận là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 biển số đăng ký 97B1-X (giả).
- Chuyển lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 022811 mang tên Hứa Văn S (giả);
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu sơn đen, số khung RLCUG0610HY516021, số máy G3D4E538845 đã qua sử dụng kèm theo chìa khóa xe, hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên xét thấy cần giao cơ quan có chức năng là Đội Cảnh sát giao thông – Trật tự Công an huyện B thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật; Hết thời hạn theo quy định của pháp luật kể từ ngày thông báo mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì tiến hành các thủ tục để tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.
[7]Về án phí:
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Trước khi mở phiên tòa, bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và trách nhiệm dân sự, đề nghị Tòa án ghi nhận. Căn cứ điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[9] Vấn đề khác:
Trong vụ án này có Lý Thế Hoàng, Hoàng Văn T1, Lý Văn N1 là những người mua, bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu sơn đen, gắn biển số đăng ký 97B1-X giả cùng giấy chứng nhận xe giả mang tên Hứa Văn S: Những người này đều không biết xe gắn biển số giả, giấy tờ xe giả nên không xem xét xử lý.
Đối với đối tượng làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy giả và đối tượng giao xe mô tô gắn biển số đăng ký giả và giấy chứng nhận đăng ký xe giả cho Hứa Văn S: Sự không biết họ tên, địa chỉ của các đối tượng này nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Đối với chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A20 mà bị cáo S khai dùng để liên lạc mua xe mô tô, xe máy gắn biển số xe giả, bị cáo đã làm rơi ở tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan điều tra không tạm giữ được.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm d khoản 2 Điều 341; Điều 38, Điều 47; Điều 48, Điều 50, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn S phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Hứa Văn S 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 biển số đăng ký 97B1-X (giả).
- Chuyển lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 022811 mang tên Hứa Văn S (giả);
- Giao Đội Cảnh sát giao thông – Trật tự Công an huyện B thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu sơn đen, số khung RLCUG0610HY516021, số máy G3D4E538845 đã qua sử dụng kèm theo chìa khóa xe.
Hết thời hạn theo quy định của pháp luật kể từ ngày thông báo mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì tiến hành các thủ tục để tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/02/2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).
4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lý Thế H số tiền còn lại là 19.000.000 đồng;
+ Bị hại anh Lý Thế H có trách nhiệm hoàn trả cho anh Hoàng Văn T1 số tiền 18.000.000 đồng;
+ Anh Hoàng Văn T1 có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lý Văn N1 số tiền 21.000.000 đồng.
Việc thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 36/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 36/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Ba Bể - Bắc Kạn |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 09/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về