TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TỈNH CB
BẢN ÁN 28/2025/HS-ST NGÀY 18/09/2025 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh CB tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Đào Đình Th (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 11 năm 1996 tại: huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn Cổ M, xã Phật Tích, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, chính quyền đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Đào Thị Thược; Con bà: Nông Thị Hường; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Bị cáo là con cả trong gia đình có 02 anh em; Tiền án: 01 tiền án, Ngày 15/3/2016, Tòa án nhân dân thành phố CB xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội cố ý gây thương tích. Tiền sự: 02 tiền sự, ngày 21/9/2022, Công an thành phố CB xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác bằng hình thức phạt tiền, ngày 06/8/2024, Công an thành phố CB xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố CB từ ngày 10/6/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị Hại: Nông Thị Hải Tr, sinh năm: 2004.
Địa chỉ: Xóm Nà Ch, xã Phục Hòa, tỉnh CB.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.Anh Mông Hoàng C, sinh năm: 2001.
Địa chỉ: Tổ dân phố 05 Hòa Ch, phường TG, tỉnh CB.
2.Anh Trần Phùng C2, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Tổ 02, xã Phục Hòa, tỉnh CB.
Bị hại trà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan C có mặt, vắng mặt có lý do C2.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ tháng 4/2024, Đào Đình Th thuê phòng trọ tại dãy trọ của Vương Thị Đẹp (sinh năm: 1993, trú tại: Tổ Đề Thám 3, phường Thục Phán, tỉnh CB). Đến tháng 8/2024, Nông Thị Hải Tr đến thuê phòng trọ bên cạnh phòng của Thông. Trong quá trình sinh sống tại dãy trọ, Thông có mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát: 11U1 -xxxxx của Trà (Giấy đăng ký xe mang tên chồng là Trần Phùng C) vài lần để đi lại và trả đúng hạn. Một thời gian sau, Thông cần tiền tiêu sài cá nhân nên nảy sinh ý định mượn xe của Trà để bán lấy tiền. Khoảng 20 giờ ngày 08/10/2024, Thông gọi điện thoại cho Mông Hoàng C (sinh năm 2001, trú tại: Tổ Hòa Chung 05, phường TG, tỉnh CB) trao đổi về việc mua bán xe, vì đang có nhu cầu mua xe để đi lại nên Cương đồng ý. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, Thông sang phòng Trà hỏi mượn xe như những lần trước, rồi một mình điều khiển xe đến nhà Mông Hoàng C. Tại đây, Thông nói với Cương chiếc xe là của mình nhưng quyên không mang theo giấy tờ xe muốn bán lại với giá 6.000.000đ. Do không có giấy tờ xe nên Cương trả trước 4.000.000đ, khi có đầy đủ giấy tờ xe sẽ trả thêm 2.000.000đ. Thông giao xe, căn cước công dân và viết giấy bán xe đưa cho Cương. Sau khi bán được xe, Thông không trở lại phòng trọ tại tổ Đề Thám 3, phường Thục Phán, tỉnh CB cũng không về nhà tại xã Phật tích, tỉnh Bắc Ninh mà bỏ trốn đến các tỉnh thành khác. Trà có liên lạc đòi lại xe nhưng Thông lấy lý do hứa hẹn nhiều lần và không trả lại xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đào Đình Th về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Thông bỏ trốn khỏi địa phương, không xác minh được đang ở đâu nên ngày 17/3/2025, Cơ quan điều tra ban hành Quyết định truy nã, đến ngày 10/6/2025 tiến hành bắt được Đào Đình Th tại xã Đại Đồng, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 24/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố CB ban hành yêu cầu định giá tài sản số 1983/YC-CSĐT. Tại bản kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: Giá trị của chiếc xe là 12.466.666đ.
*Tại bản cáo trạng số: 20/CT - VKSKV1, ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - CB đã truy tố các bị cáo Đào Đình Th về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đào Đình Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Bị hại Nông Thị Hải Tr cùng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Phùng C xác nhận: Ngày 08/10/2024 Trà có được cho bị cáo Đào Đình Th mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát: 11U1 -xxxxx (Giấy đăng ký xe mang tên chồng là Trần Phùng C) nhiều ngày không trả và đã trình báo công an. Quá trình điều tra Công an đã thu được tài sản và trả lại tài sản cho chúng tôi nên chúng tôi không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt và bản khai tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Mông Hoàng C trình bày: Ngày 08/10/2024, tôi có được mua lại của bị cáo Thông xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát: 11U1 -xxxxx không có giấy tờ xe với giá 6.000.000đ (đã thanh toán tiền mặt 4.000.000đ), phần tiền còn lại sẽ thanh toán khi Thông bàn giao giấy tờ xe. Khi mua bán không biết xe là tài sản do phạm tội mà có, nay Cơ quan công an làm rõ tôi đã trả lại xe cho người bị hại. Đề nghị Tòa án xét xử buộc bị cáo trả lại số tiền 4.000.000đ tiền bán xe tôi đã thanh toán cho bị cáo ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Đình Th. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đào Đình Th phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và xử phạt bị cáo Đào Đình Th từ 20 - 24 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trà và người liên quan Công đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị HĐXX xem xét. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản của người có quyền lợi liên quan Mông Hoàng C, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 584, 585 của Bộ luật dân sự. Công nhận sự thỏa thuận chấp nhận bồi thường của bị cáo Thông cho Cương số tiền 4.000.000đ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử: Trả lại cho bị cáo Đào Đình Th 01 Căn cước công dân số 027096006xxx, mang tên Đào Đình Th, sinh ngày 05/11/1996, quê quán: Phật Tích, Tiên Du, Bắc Ninh, nơi thường trú: Thôn Cổ M, Phật Tích, Tiên Du, Bắc Ninh. Vì đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo.
Về án phí, đề nghị HĐXX xử buộc bị cáo phải chịu nộp tiền án phí hình sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh CB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - CB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Đào Đình Th đã khai nhận toàn bộ hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bản thân, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện. Hồi 21 giờ 20 phút, ngày 08/10/2024, do cần tiền tiêu sài cá nhân nên Đào Đình Th đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát: 11U1 -xxxxx của Nông Thị Hải Tr có giá trị 12.466.666đ, đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.
Bị cáo Đặng Đình Thông tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày 08/10/2024, tuy đã chấp hành xong phần hình phạt tù giam, tiền án phí nhưng chưa chấp hành phần quyết định khác của Bản án: "phần bồi thường thiệt hại tài sản của Bản án số 14/2016/HSST, chưa được xóa án tích nên đã bị coi là tái phạm trong bản án số 10/2020/HSST ngày 28/02/2020 và thuộc trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
Do đó, Hành vi của bị cáo Đặng Đình Thông đã cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ
2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) ...
2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) ...
d) Tái phạm nguy hiểm;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Viện kiểm sát khu vực 1 - CB truy tố bị cáo Đào Đình Th về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì Bị cáo Đặng Đình Thông tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày 08/10/2024, tuy đã chấp hành xong phần hình phạt tù giam, tiền án phí nhưng chưa chấp hành phần quyết định khác của Bản án: "phần bồi thường thiệt hại tài sản của Bản án số 14/2016/HSST, chưa được xóa án tích nên đã bị coi là tái phạm trong bản án số 10/2020/HSST ngày 28/02/2020 và thuộc trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
Do đó, Hành vi của bị cáo Đặng Đình Thông đã cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[3]Hành vi của bị cáo Đào Đình Th đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm pháp, nhưng do bản thân bị cáo thích ham chơi, lười lao động, để có tiền phục vụ nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích với lỗi cố ý nên đã bị coi là đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
[4]Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đào Đình Th không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo Đào Đình Th đã khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6]Về hình phạt chính: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Đào Đình Th là người có nhân thân xấu, đã chấp hành án phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trở về địa phương bị cáo không tu chí làm ăn, không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, sửa chữa bản thân để trở thành công dân tốt, chưa chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường dân sự của Bản án số 14/2016/HSST của Tòa án nhân dân thành phố CB mà ngày 08/10/2024 lại tiếp tục thực hiện hành vi "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", thuộc trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc trên mức khởi điểm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian suy nghĩ, cải tạo bản thân, từ đó, nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm lừa đảo nói riêng.
[7]Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định, chưa có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8]Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trà và người liên quan Công đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản số tiền 4.000.000đ mua xe của người có quyền lợi liên quan Mông Hoàng C, tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường cho người có quyền lợi liên quan Cương. Sự thỏa thuận nhất trí bồi thường của bị cáo là tự nguyện không trái đạo đức xã hội phù hợp quy định của pháp luật nên cần được công nhận.
[9]Về việc xử lý vật chứng: Đối với 01 Căn cước công dân số 027096006xxx, mang tên Đào Đình Th, sinh ngày 05/11/1996, quê quán: Phật Tích, Tiên Du, Bắc Ninh, nơi thường trú: Thôn Cổ M, Phật Tích, Tiên Du, Bắc Ninh. Đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
[10]Đối với Mông Hoàng C là người mua chiếc xe mà Thông chiếm đoạt trái phép, tuy nhiên Cương không hề biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.
[11]Đối với đề nghị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự "Tái phạm" của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - CB đối với bị cáo Đào Đình Th. HĐXX xét thấy, bị cáo Thông chưa chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường dân sự của Bản án số 14/2016/HSST của Tòa án nhân dân thành phố CB mà ngày 08/10/2024 lại tiếp tục thực hiện hành vi "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", thuộc trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự, là tình tiết định khung hình phạt. Căn cứ khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự "Các tình tiết đã được bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng". Do đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Về điều luật áp dụng:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Đình Th.
2.Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Đào Đình Th phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
3.Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Đào Đình Th 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 10/6/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 468, các Điều 584, 585 của Bộ luật dân sự. Công nhận sự thỏa thuận chấp nhận bồi thường thiệt hại tài sản số tiền 4.000.000đ của bị cáo Thông cho Mông Hoàng C, địa chỉ: Tổ dân phố 05 Hòa Ch, phường TG, tỉnh CB.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Cương có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền 4.000.000đ mà bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thai hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trách nhiệm dân sự này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5.Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử: Trả lại cho bị cáo Đào Đình Th 01 Căn cước công dân số 027096006xxx, mang tên Đào Đình Th, sinh ngày 05/11/1996, quê quán: Phật Tích, Tiên Du, Bắc Ninh, nơi thường trú: Thôn Cổ M, Phật Tích, Tiên Du, Bắc Ninh.
Vật chứng trên hiện đang được lưu tại kho Chi cục thi hành án dân sự tỉnh CB theo biên bản giao nhận vật chứng số 130 ngày 16/9/2025 của Chi cục thi hành án dân sự khu vực 1 - CB.
6.Về án phí: Áp dụng Điều 135 Của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Đào Đình Th phải chịu nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.
7.Về thực hiện quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan Công có mặt có quyền kháng cáo bản án, phần quyền lợi liên quan trong bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 18/9/2025. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cương vắng mặt có quyền kháng cáo phần quyền lợi liên quan trong bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 28/2025/HS-ST ngày 18/09/2025
| Số hiệu: | 28/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hà Quảng - Cao Bằng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 18/09/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về