TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 28/2023/HS-PT NGÀY 21/02/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 521/2022/HSPT ngày 28 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T; sinh ngày 12/8/1980 tại tỉnh TH; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn ĐQ, xã HL, huyện HT, tỉnh TH; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Phạm Thị K; có vợ Lê Thị U và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giam ngày 27/7/2022 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Y nhận được hồ sơ vụ án Nguyễn Minh E và Nguyễn Văn T bị bắt quả tang vì có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam TV (viết tắt Công ty VPBFC) địa chỉ trụ sở chính: 09 ĐVB, X, Quận V, Thành phố H tại số 02 P, phường BN, Quận Y do Công an phường BN, Quận Y chuyển đến. Quá trình điều tra xác định:
Khoảng tháng 9/2018, thông qua mạng xã hội Facebook Nguyễn Minh E biết được thông tin Công ty VPBFC cho vay tiền, điều kiện cho vay đơn giản chỉ cần chụp hình giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận đăng ký xe máy, mô tô là Công ty VPBFC cho vay không cần qua thẩm định hồ sơ vay. Do cần tiền tiêu xài nên E lên mạng xã hội Facebook tìm người để làm giả giấy tờ và đã tìm được một người sử dụng tài khoản Zalo tên “Cogaitg” làm giả giấy chứng minh nhân dân với giá 1.700.000 đồng. Sau khi thỏa thuận E đã lên mạng xã hội Facebook tải hình của 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch rồi gửi hình ảnh của người đàn ông đó kèm thông tin do E tự nghĩ ra số chứng minh 321480X; họ tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 25/6/1983; nguyên quán xã PMT, huyện MCB, tỉnh BT; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Phước Trung, xã PMT, huyện MCB, tỉnh BT; cấp ngày 21/11/2016; nơi cấp: Công an tỉnh Bến Tre.
Sau đó E đã gửi tin nhắn qua Zalo tài khoản tên “cogaitg” để đặt làm giấy chứng minh nhân dân giả. Ngày 27/9/2018, E nhận được điện thoại của người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đến giao cho E chứng minh nhân dân và giấy chứng nhận đăng ký xe giả tại trước hẻm số 159 đường Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5. Ngày 29/9/2018, E đã dùng giấy chứng minh nhân dân giả và giấy đăng ký xe giả BS: 71B3-X mang tên Nguyễn Văn N để đăng ký vay tiền theo mẫu trong ứng dụng phần mềm điện tử của Công ty VPBFC. Sau khi đăng ký hồ sơ qua mạng Internet E nhận được thông báo của Công ty VPBFC chấp nhận hồ sơ vay với số tiền vay là 33.175.000 đồng. Khoảng 08 giờ ngày 05/10/2018, E nhận được thông báo của Công ty VPBFC đã chấp thuận bộ hồ sơ xin vay tiền với tin nhắn nội dung mật mã nhận tiền là: “Hồ sơ hoàn tất. Từ ngày làm việc kế tiếp, QK đem CMND và không được cung cấp mã số 24666720AA31E5 cho ai ngoại trừ giao dịch viên khi nhận tiền”. Công ty VPBFC yêu cầu đến Bưu Điện thành phố, số 02 P, phường BN, Quận Y để rút số tiền vay.
Do cần người đóng giả là Nguyễn Văn N, sau khi nhận được thông báo của Công ty VPBFC, E gọi điện thoại liên lạc với Lê Thị C yêu cầu C kiếm người để đưa hình ảnh 3cm x 4cm để E làm giả giấy chứng minh nhân dân và người trong hình sẽ đi rút tiền, C sẽ được trả công 200.000 đồng và người đi rút tiền sẽ được trả công 3.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận với E xong, C gặp Nguyễn Văn T là người thuê phòng gần chỗ ở C tại số 457/38 BT, khu phố W, phường BHHB, quận BT. Do cần tiền nên khi C nói T lấy tấm hình thẻ 3cm x 4cm đưa cho E để E làm giả giấy chứng minh nhân dân, T sẽ đi rút tiền cho E và được trả công 3.000.000 đồng và T đồng ý giao cho C tấm hình thẻ 3cm x 4cm.
Sau khi nhận được hình ảnh của T, C ra bến xe Miền Tây gửi hình về bến xe Mỹ Tho cho E và C chịu phí vận chuyển. Khi nhận được hình của T, E tiếp tục đặt làm giả qua người có tài khoản “cogaitg” để làm giấy chứng minh giả tên Nguyễn Văn N. Đến khoảng 18 giờ, E được 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đưa cho 01 giấy chứng minh nhân dân giả mang tên Nguyễn Văn N có dán hình của T tại trước hẻm 159 NT, Phường W, Quận Q.
Ngày 07/10/2018, E điện thoại liên lạc với Lê Thị C hẹn 09 giờ ngày 08 tháng 10 năm 2018, C đi cùng T đến Bưu Điện thành phố số 02 P, phường BN, Quận Y để rút tiền. Tại đây E đưa cho T 01 chiếc điện thoại di động hiệu Mobell màu đỏ đen trong đó có tin nhắn mật mã rút tiền của Công ty VPBFC có nội dung: “Hồ sơ hoàn tất. Từ ngày làm việc kế tiếp, QK đem CMND và không được cung cấp mã số 24666720AA31E5 cho ai ngoại trừ giao dịch viên khi nhận tiền” và 01 giấy chứng minh nhân dân số 321480X, họ tên Nguyễn Văn N; sinh ngày 25/6/1983; nguyên quán: PMT, MCB, BT; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp PT, PMT, MCB, BT; cấp ngày 21 tháng 11 năm 2016; nơi cấp: Công an tỉnh Bến Tre có dán ảnh của T đồng thời nói T học thuộc nội dung trong giấy chứng minh nhân dân, nếu có ai hỏi thì nói T tên là Nguyễn Văn N.
Sau khi T vào trong Bưu Điện thành phố đến quầy giao dịch số 11 gặp bà Nguyễn Khoa Diệu Trinh là giao dịch viên để làm thủ tục rút số tiền 33.175.000 đồng. Khi lấy được tiền T và C cùng đi đến chỗ E đang đứng thì bị nhân viên Công ty VPBFC bắt giữ đưa về Công an phường BN, Quận Y lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Y để xử lý theo thẩm quyền.
Theo bản kết luận giám định số: 1446/KLGĐ-TT ngày 20/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 07 giấy Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Minh E; Nguyễn Anh D, Lê Thị A; Nguyễn Văn H; Nguyễn Thanh B; Võ Thị M; Nguyễn Văn N; 04 giấy Chứng minh nhân dân mang tên Lê Thị R, sinh năm: 1999; Lê Thị R, sinh năm: 1981; Lê Thị R, sinh năm: 1980; Lê Thị R, sinh năm: 1975; 04 giấy Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Khắc Anh K, sinh năm: 1993; Nguyễn Khắc Anh K, sinh năm: 1973; Nguyễn Khắc Anh K, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1993; Nguyễn Khắc Anh K, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1993; 07 Giấy đăng ký xe biển số: 63B8- X mang tên Lê Thị Mộng Lành; biển số: 71B3-C mang tên Lê Thị A;
biển số: 71B3-V mang tên Nguyễn Anh D; biển số: 71B3-X mang tên Nguyễn Văn Hào; biển số: 71B3-Q mang tên Võ Thị M; biển số: 71B3- Y mang tên Nguyễn Thanh B; biển số: 71B3-R mang tên Nguyễn Văn N; 03 Giấy đăng ký xe biển số: 71B3-A mang tên Lê Thị R; biển số: 71B3- G mang tên Lê Thị R; biển số: 71B3-B mang tên Lê Thị R; 03 Giấy đăng ký xe biển số: 71B3-X mang tên Nguyễn Khắc Anh K; biển số: 71B3- C mang tên Nguyễn Khắc Anh K; biển số: 71B3-58514 mang tên Nguyễn Khắc Anh K là giả.
Sau khi bắt giữ, Nguyễn Minh E, Lê Thị C và Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Ngày 28/5/2019, Tòa án nhân dân Quận Y đã xét xử đối với Nguyễn Minh E, Lê Thị C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Riêng Nguyễn Văn T sau khi phạm tội đã bỏ trốn đến ngày 27/7/2022, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Y bắt giữ theo quyết định truy nã.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 159/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm h, s khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành chung là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/7/2022.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/11/2022 bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp, không nặng so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận Y.
Bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.
[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Do cần tiền tiêu xài và biết được thông tin Công ty VPBFC cho vay tiền, điều kiện cho vay đơn giản chỉ cần chụp hình giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận đăng ký xe máy, mô tô là Công ty VPBFC cho vay mà không cần qua thẩm định hồ sơ vay, nên E lên mạng xã hội Facebook tìm người có tài khoản Zalo tên “Cogaitg” để làm giả giấy chứng minh nhân dân. E tự nghĩ ra số chứng minh 321480X; họ tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1983; nguyên quán xã PMT, huyện MCB, tỉnh BT; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp PT, xã PMT, huyện MCB, tỉnh BT; cấp ngày 21/11/2016; nơi cấp: Công an tỉnh BT. Sau đó E liên hệ với Nguyễn Văn T, nói T đưa tấm hình thẻ 3cm x 4cm để E làm giả giấy chứng minh nhân dân cho T đi rút tiền. E tiếp tục đặt người có tài khoản “cogaitg” để làm giấy chứng minh giả tên Nguyễn Văn N.
Sau khi nhận được giấy chứng minh nhân dân giả mang tên Nguyễn Văn N có dán hình của T thì T đi đến Bưu Điện thành phố tại số 02 P, phường BN, Quận Y, sử dụng mật mã rút tiền của Công ty VPBFC do E cung cấp trước đó và chứng minh nhân dân giả để làm thủ tục rút 33.175.000 đồng. Khi T lấy được tiền thì bị nhân viên Công ty VPBFC bắt giữ đưa về Công an phường BN lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Nguyễn Văn T nhận thức được hành vi cung cấp hình thẻ 3cm x 4cm cho Nguyễn Minh E và sử dụng chứng minh nhân dân giả mang tên Nguyễn Văn N do E cung cấp là vi phạm pháp luật nhưng T vẫn đồng ý giúp sức cho E thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt 33.175.000 đồng của công ty VPBFC. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo T đã làm thủ tục rút được 33.175.000 đồng tại quầy giao dịch bưu điện và cầm được số tiền này đi đến chỗ hẹn với E thì bắt quả tang nên hành vi của T đã hoàn thành, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là không phù hợp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết này đối với bị cáo T.
Xét thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng không cung cấp được tài liệu bổ sung nào khác, do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 159/2022/HSST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành chung là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2022.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 28/2023/HS-PT
| Số hiệu: | 28/2023/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 21/02/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về