TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 27/2024/HS-ST NGÀY 13/08/2024 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS, ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thái H2 (T); Sinh ngày: 19/12/1960; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Cha ruột: Ông Thái N (đã chết); Cha nuôi: Ông Thạch P (đã chết); Mẹ ruột: Bà Thạch Thị S (đã chết); Mẹ nuôi: Bà Lâm Thị K (đã chết); Vợ trước: Khưu Thị S1; Vợ sau: Trịnh Kim T; Con: 05 người, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/9/2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Huỳnh Thị Diệu O - Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh S; Địa chỉ: Số 939, đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị hại: Ông Trần Thanh T1; Sinh ngày: 01/01/1964; Nơi cư trú: Số C, tỉnh lộ 837, Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Trần Thị Như N1 (Như Ý); Sinh ngày: 16/6/1987; Nơi cư trú: Số C, tỉnh lộ 837, Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An; (Có mặt)
2. Bà Thái Kiều T2; Sinh ngày: 01/01/1984; Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; (Có mặt)
3. Bà Thái Thị Ngọc H (Đều); Sinh năm: 1955; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; (Có mặt)
4. Bà Thái Thị Ngọc H1; Sinh năm: 1969; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; (Có mặt)
5. Ông Thái Lý M; Sinh năm: 1958; Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; (Có mặt)
6. Bà Thái Thị Trúc P1; Sinh năm: 1980; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thái H2 (tên gọi khác T3), sinh ngày 19/12/1960, đăng ký thường trú ấp Đại Nghĩa T4 nhưng sinh sống tại ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và Thái Kiều T2, sinh năm 1984, đăng ký thường trú ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, chỗ ở khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An có quan hệ “chủ cháu ruột”, T2 kêu H2 là “chú S1”.
Ngày 13/11/2019, Trần Minh Q, sinh năm 1985 (chồng T2), Trần Minh T5, sinh năm 1995 (em ruột Q) cùng cư trú khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An và T2 bị Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng bắt, sau đó bị khởi tố về tội vận chuyển hàng cấm (xe tải 62C-121.97 do Q điều khiển có chở 1.210 cây thuốc lá nhập lậu), do có con nhỏ T2 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (tại ngoại). Trong quá trình điều tra, thông qua sui gia là ông Thái Lý M, sinh năm 1958 (cha ruột T2) nên ông Trần Thanh T1, sinh năm 1964 (cha ruột Q) cùng Trần Thị Như N1, sinh năm 1987 (em ruột Q) có đến gặp H2 để nhờ giúp đỡ, khi đó H2 nói với gia đình ông T1 là có quen biết lãnh đạo Công an, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng nên có thể nhờ để lo cho Q, T5, T2 (Q, T5 được tại ngoại) và lấy xe đang bị giữ ra. Do tin tưởng nên gia đình ông T1 đã nhiều lần đưa và chuyển khoản tiền cho H2, tuy nhiên sau khi đưa tiền, Q, T5 và T2 bị tuyên mức hình phạt không đúng như H2 nói, nhận thấy H2 không thực hiện đúng lời hứa, đồng thời trốn tránh không nghe điện thoại, sau đó phủ nhận không có nhận tiền của gia đình ông T1, do đó N1 đã làm đơn tố cáo và đến Cơ quan điều tra trình báo.
Quá trình điều tra đã chứng minh được, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2019 đến tháng 4/2020, H2 nhiều lần đưa ra thông tin gian dối để gia đình ông T1 đưa và chuyển tiền sau đó chiếm đoạt, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Không xác định ngày cụ thể, khoảng 10 ngày sau khi Q, T5 và T2 bị bắt và được nhờ giúp đỡ, H2 đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tìm ông Lâm Minh D (thời điểm này là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng), để hỏi thăm và trình bày về trường hợp của Q, T5, T2. Ông D có giải thích cho H2 biết về các quy định pháp luật, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được quy định, yêu cầu cung cấp các tài liệu nếu có, sau đó H2 kêu N1 làm các giấy tờ xác nhận ở địa phương để làm tình tiết giảm nhẹ. Khoảng 03 ngày sau khi gặp ông D tại cơ quan Viện kiểm sát thì H2 nói sẽ đến gặp ông D tại nhà, lúc đi thì T2 đưa cho H2 một bao thư được dán băng keo, bên trong có 80.000.000 đồng tại nhà bà H, H2 bỏ tiền vào cốp xe, H2 trình bày sau khi nhận tiền chạy xe một mình đến nhà ông D, gặp ông D cũng ở nhà một mình, H2 năn nỉ ông D xem xét giảm án cho Q, T5 và T2 sau đó bỏ bao thư có tiền lên bàn trong nhà ông D và đi về, tuy nhiên H2 không có tài liệu gì để chứng minh việc đến nhà và đưa tiền cho ông D.
Lần thứ hai, cũng không nhớ chính xác ngày, sau khi gặp ông D, H2 đến Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng để gặp ông Phạm Thanh T6 (thời điểm này là Chánh án Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng) để hỏi thăm vụ án, ông T6 cũng giải thích về thẩm quyền cũng như các tình tiết giảm nhẹ, H2 hỏi thì biết được ông T6 nhà ở thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Đến khoảng ngày 25 tháng chạp (nhằm ngày 19/01/2020 dương lịch), gần tết Nguyên đán 2020 thì H2 nói sẽ đến nhà gặp ông T6, do biết trước đó số tiền đã đưa bên Viện kiểm sát nên lúc đi thì T2 đưa cho H2 một bao thư được dán băng keo, bên trong có 80.000.000 đồng tại nhà bà H, sau khi nhận tiền H2 bỏ vào cốp xe, H2 trình bày chạy xe một mình đến nhà ông T6, sau khi hỏi thăm, năn nỉ ông T6 xem xét giảm án cho Q, T5 và T2 thì H2 đưa bao thư cho ông T6 (do cháu ông T6 cầm) nói lì xì tết và đi về, H2 cũng không có tài liệu gì để chứng minh việc đến nhà và đưa tiền cho ông T6.
Lần thứ ba, vào ngày 21/01/2020, sau khi H2 nói cần bồi dưỡng thêm cho người này người kia (những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng), ông T1 kêu T2 chuyển khoản cho H2 vào số điện thoại 84395092xxx qua dịch vụ chuyển tiền Viettelpay T, tỉnh Long An số tiền là 50.000.000 đồng (có phiếu chuyển tiền kèm theo). H2 đến nhận tiền tại Thế giới di động S2 (đường H), số tiền này H2 trình bày đã trả cho Thái Thị Ngọc H1, sinh năm 1969 (em ruột H2) 40.000.000 đồng (do T2 đã mượn của bà H1 trước đó), còn lại 10.000.000 đồng ông T1 lì xì cho H2 xài tết. Tuy nhiên, mặc dù H1 thừa nhận là có nhận tiền do H2 trả nhưng không nhớ rõ thời gian, kết quả chứng minh xác định lần chuyển tiền này T2 được T1 kêu chuyển cho H2 để giúp việc xin giảm nhẹ hình phạt cho Q, T5, T2, không phải là để trả tiền như bị cáo trình bày.
Lần thứ tư, đoạn ghi âm ngày 20/02/2020 có nội dung ông H2 thông tin cho ông T1 là ông D bên Viện kiểm sát có gợi ý bồi dưỡng thêm 50.000.000 đồng để xem xét hồ sơ và giảm án xuống khung 2 từ 02 đến 03 năm tù (hồ sơ giai đoạn này đã kết luận điều tra chuyển Viện kiểm sát, theo Bản Kết luận điều tra ngày 14/2/2020). Sau khi nghe H2 nói thì ông T1 có hứa là ngày mai (Thứ Sáu, ngày 21/02/2020) sẽ cố gắng chạy tiền để chiều chuyển lên cho ông H2. Vào ngày 21/2/2020 khi có tiền ông T1 kêu N1 chuyển khoản cho H2 vào số điện thoại 84395092xxx qua dịch vụ chuyển tiền Viettelpay T, tỉnh Long An số tiền là 50.000.000 đồng (có phiếu chuyển tiền kèm theo). H2 đến nhận tiền tại cửa hàng V (đường L), số tiền này H2 không trình bày sử dụng vào việc lo cho Q, T5 và T2 nhưng không rõ sử dụng như thế nào.
Lần thứ năm, Vào ngày 16/4/2020 ông T1 tiếp tục kêu N1 chuyển khoản cho H2 vào số điện thoại 84395092xxx qua dịch vụ chuyển tiền V1, Long An số tiền 5.000.000 đồng (có phiếu chuyển tiền kèm theo). H2 đến nhận tiền tại cửa hàng V (đường L), số tiền này H2 không nhớ đã sử dụng vào mục đích gì.
Kết luận giám định số 928/C09B, ngày 13/5/2021 và Văn bản số 608/C09B ngày 15/6/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh về các file ghi âm và giọng nói của Thái H2 trong các đoạn ghi âm, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong 35 file âm thanh mẫu cần giám định; Tiếng nói của người nam xưng là "chu", "t hat oi^ prime prime trong mẫu cần giám định và tiếng nói của ông Thái H2 trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra; Tiếng nói của người nam xưng là "chi^ prime prime trong 21 file âm thanh có số thứ tự 01, 02, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 11, 12, 13, 18, 19, 20, 21, 22, 30, 33, 34 là tiếng nói của ông Thái H2; Tiếng nói của người nam xưng là "em", "tôi" (được gọi là ông S1) trong 11 file âm thanh có số thứ tự 14, 15, 16, 17, 23, 24, 25, 27, 28, 29, 31 là tiếng nói của ông Thái H2; Trong 03 file âm thanh có số thứ tự 26, 32, 35 không có tiếng nói của ông Thái H2.
Kết luận giám định số 07/KLKTSPT-KTHS ngày 24/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh S về giám định kỹ thuật số, điện tử, kết luận: (1) Trong máy tính bảng màu trắng đã qua sử dụng, nhãn hiệu S3 (2016), số kiểu máy: SM-T285, số sêri: R52J61lQS9Y, số IMEI 355755087166955, không kèm theo thẻ SIM (Ký hiệu A1). Tìm thấy: 59 cuộc gọi gồm: 6 cuộc gọi đến, 37 cuộc gọi đi, 16 bỏ lỡ; 49 tin nhắn sms, 48 tin nhắn đến, 01 tin nhắn đi. Chi tiết thể hiện trong tệp tin “A1-Samsung Tab A-AA.xls" lưu trữ trong đĩa DVD-R kèm theo; 179 tin nhắn Google Mail: 178 tin nhắn đến, 01 tin nhắn đi. Chi tiết thể hiện trong tệp tin "A1-Samsung Tab A-AB.xls" lưu trữ trong đĩa DVD-R kèm theo; 10 tệp âm thanh trong tên có dòng chữ “Ghi âm cuộc gọi” 01 tệp âm thanh trong tên có dòng chữ “Ghiâmcuộcgọi", 32 tệp âm thanh khác. Chi tiết thể hiện trong tệp tin “A1-Samsung Tab A-AB.xls” lưu trữ trong đĩa DVD-R kèm theo. (2) Trong điện thoại di động màu đỏ đã qua sử dụng, nhãn hiệu S4 A10s, số kiểu máy: SM-A107F/DS, số sêri: R9WM805D151, số IMEI (khe 1): 358176102303084; IMEI (khe 2): 358177102303082, không kèm theo thẻ SIM (Ký hiệu A2). Tìm thấy: 2000 cuộc gọi, 933 cuộc gọi đến, 782 cuộc gọi đi, 222 bỏ lỡ, 63 không gửi được; 146 tin nhắn sms, 137 tin nhắn đến, 09 tin nhắn đi. Chi tiết thể hiện trong tệp tin “A2-S5-AA.xls" lưu trữ trong đĩa DVD-R kèm theo; 37 tệp âm thanh trong tên có dòng chữ “Ghi âm cuộc gọi”, 02 tệp âm thanh trong tên có dòng chữ “Ghiâmcuộcgọi”, 17 tệp âm thanh trong tên có dòng chữ "Ghi cuộc gọi”, 01 tệp tin tên “Thoại 001.m4a". Chi tiết thể hiện trong tệp tin “A2-S5-AA.xls" lưu trữ trong đĩa DVD-R kèm theo; 11 tệp ghi âm có phần mở rộng tên “amr", 15 tệp âm thanh khác. Chi tiết thể hiện trong tệp tin "A2-S5-AB.xls" lưu trữ trong đĩa DVD-R kèm theo. (3) Trong điện thoại di động màu xanh đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A5s số kiểu máy: CPH1912, số sêri: RWPF95PBGUUG9LEY, số IMEI 1: 865222044039455; số IMEI 2: 865222044039448, không kèm theo thẻ SIM (Ký hiệu A3). Tìm thấy: 2073 cuộc gọi, 221 cuộc gọi đến, 582 cuộc gọi đi, 52 bỏ lỡ, 02 không gửi được (từ chối); 1216 tin nhắn không rõ, 50 tin nhắn đến sms, 50 tin nhắn đến. Chi tiết thể hiện trong tệp tin “A3-Oppo A5S-AA.xls" lưu trữ trong đĩa DVD-R kèm theo; 06 tệp ghi âm có phần mở rộng tên “amr”, 46 tệp âm thanh khác. Không tìm thấy tệp âm thanh trong tên có dòng chữ “Ghi âm cuộc gọi”, “Ghiâmcuộcgọi”, và “Ghi cuộc gọi” Chi tiết thể hiện trong tệp tin "A3-Oppo A5s-AA.xls" và tệp tin “A3-Oppo A5S-AB.xls" lưu trữ trong đĩa DVD-R kèm theo.
Bị cáo Thái H2 nhiều lần đưa ra thông tin gian dối làm cho ông Trần Thanh T1 tin tưởng là thật để kêu người thân (con dâu, con ruột) nhiều lần đưa và chuyển tiền, từng lần có giá trị trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên. Trước khi phạm tội, bị can không có tiền án, tiền sự, có nhiều đóng góp cho địa phương, trường học được xác nhận, trong quá trình điều tra thừa nhận về hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn, hối hận, có tác động gia đình bồi thường một phần trách nhiệm dân sự.
Đồ vật đang tạm giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động màu xanh đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A5s (do bị can giao nộp); các phiếu chuyển tiền (bản chính); các thủ tục giải quyết đối với vụ vận chuyển hàng cấm (bản phô tô chứng thực), tài liệu thăm gặp tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng và một số tài liệu khác được đưa vào hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSST-P2 ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Thái H2 về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố Nhà nước đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng và tuyên bố bị cáo Thái H2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng như:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, nộp tiền khắc phục một phần hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ các vật chứng gồm 01 (một) điện thoại di động màu xanh đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A5s (do bị can giao nộp); các phiếu chuyển tiền (bản chính); các thủ tục giải quyết đối với vụ vận chuyển hàng cấm (bản phô tô chứng thực), tài liệu thăm gặp tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng và một số tài liệu khác được đưa vào hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị hại Trần Thanh T1 yêu cầu bồi thường tổng cộng 641.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường 100.000.000 đồng nên còn phải bồi thường 541.000.000 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa ông T1 có thay đổi yêu cầu phải bồi thường tổng cộng 711.000.000 đồng. Xét thấy yêu cầu trên của bị hại là không có căn cứ, vì không có tài liệu nào thể hiện việc bị cáo đã nhận và chiếm đoạt toàn bộ số tiền do người bị hại tố cáo và yêu cầu, do đó chỉ có căn cứ bồi thường đối với số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 265.000.000 đồng, quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 100.000.000 đồng nên còn 165.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này, giai đoạn xét xử gia đình bị cáo tiếp tục nộp thêm số tiền 65.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng. Xét thấy việc bị cáo đồng ý bồi thường là do tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần ghi nhận, do đó buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Trần Thanh T1 số tiền 165.000.000 đồng (được khấu trừ vào số tiền 65.000.000 đồng đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng). Đối với yêu cầu của ông Trần Thanh T1 như đã đề cập ở phần trên, do không có tài liệu chứng minh nên không xem xét giải quyết trong vụ án, ông T1 có thể khởi kiện để giải quyết theo thủ tục dân sự.
*Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt cũng như về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
* Bị hại ông Trần Thanh T1 trình bày: Về trách nhiệm hình sự yêu cầu xử lý bị cáo Thái H2 theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu bị cáo Thái H2 bồi thường số tiền 711.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường được 100.000.000 đồng.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Thái H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung vụ án đã nêu ở phần trên. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định: Thái H2 sau khi được nhờ giúp đỡ xem xét giảm án (chạy án), trong khoảng thời gian từ tháng 11/2019 đến tháng 4/2020 đã nhiều lần nhận tiền của ông Trần Thanh T1, đưa ra thông tin gian dối là cần đưa cho những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) huyện M, tỉnh Sóc Trăng nhưng thực chất là bị cáo chiếm đoạt số tiền 265.000.000 đồng để phục vụ chi tiêu cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Vì vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, là đúng người, đúng tội không oan cho bị cáo.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như thế mới đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
[4] Trong vụ án này Cơ quan điều tra chứng minh được, bị cáo cũng khai nhận bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo đặt ra là trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo, khắc phục một phần hậu quả, các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Trong vụ án này, qua lời khai bị cáo và lời khai của bị hại Trần Thanh T1, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trần Thị Như N1 và Thái Kiều T2 có dấu hiệu phạm tội “đưa hối lộ” theo quy định tại Điều 364 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngày 06/6/2024, Hội đồng xét xử đã ban hành Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 03/2024/HSST-QĐ để trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng để điều tra, làm rõ nội dung này. Tuy nhiên, tại Công văn số 978/VKS-P2 ngày 21/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng không chấp nhận việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Hội đồng xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị Tòa án cấp trên xem xét nội dung này theo thẩm quyền.
[6] Đối với tố giác của ông Trần Thanh T1 về các lần đưa hoặc chuyển cho bị cáo, người thân của bị cáo, gồm: ông T1 đưa cho bà Thái Thị Ngọc H3, sinh năm 1955 (chị ruột bị cáo) 200.000.000 đồng, ông T1 kêu T2 đem đưa cho bà H 150.000.000 đồng, ông T1 kêu N1 chuyển khoản cho bà H 110.000.000 đồng sau đó H rút đưa lại T2 để đưa cho bị cáo, ông T1 đưa số tiền 1.000.000 đồng cho bị cáo tại Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng, do không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không đủ cơ sở để quy kết việc bị cáo đã chiếm đoạt số tiền trên. Đối với số tiền ông T1 kêu N1 chuyển khoản cho ông M 20.000.000 đồng, số tiền này ông M trả tiền chi phí thời gian ông T1 cùng gia đình ăn ở, sinh hoạt tại nhà bà H 5.000.000 đồng, còn 15.000.000 đồng ông M cho lại T2 nên cũng không có căn cứ để quy kết bị cáo chiếm đoạt số tiền này. Đối với Thái Thị Ngọc H, Thái Thị Ngọc H1, Thái Lý M không biết và không tham gia cùng Thái H2 chiếm đoạt tài sản nên không có căn cứ để xử lý với vai trò đồng phạm. Do không có căn cứ để kết luận việc các ông Lâm Minh D, Phạm Thanh T6 nhận tiền nên việc không xử lý hành vi đưa, nhận và môi giới hối lộ là có căn cứ.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thanh T1 yêu cầu bị cáo Thái H2 bồi thường số tiền 711.000.000 đồng. Xét thấy, trong vụ án này chỉ có căn cứ bị cáo đã nhận và chiếm đoạt của bị hại Trần Thanh T1 265.000.000 đồng, tại phiên tòa hôm nay bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 265.000.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt cho bị hại nên cần buộc bị cáo Thái H2 bồi thường cho bị hại Trần Thanh T1 số tiền 265.000.000 đồng. Trong giai đoạn điều tra gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại T1 số tiền 100.000.000 đồng tại phiên tòa hôm nay bị hại ông T1 cũng xác nhận là ông có nhận 100.000.000 đồng này nên bị cáo H2 phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền còn lại là 165.000.000 đồng. Đối với số tiền còn lại là 446.000.000 đồng (711.000.000 đồng - 265.000.000 đồng) không có căn cứ xác định bị cáo H2 đã nhận và chiếm đoạt của bị hại T1 nên yêu cầu này là chưa đủ căn cứ Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ các vật chứng gồm 01 (một) điện thoại di động màu xanh đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A5s (do bị cáo giao nộp); các phiếu chuyển tiền (bản chính); các thủ tục giải quyết đối với vụ vận chuyển hàng cấm (bản phô tô chứng thực), tài liệu thăm gặp tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng và một số tài liệu khác được đưa vào hồ sơ vụ án. Xét thấy, đối với các phiếu chuyển tiền (bản chính); các thủ tục giải quyết đối với vụ vận chuyển hàng cấm (bản phô tô chứng thực), tài liệu thăm gặp tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng và một số tài liệu khác đã được đưa vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật. Đối với 01 (một) điện thoại di động màu xanh đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A5s (do bị cáo giao nộp) là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Tiếp tục quản lý số tiền 65.000.000 đồng do bà Thái Thị Trúc P1 nộp khắc phục hậu quả cho bị cáo Thái H2 theo Biên lai thu tiền số 0001798 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng để đảm bảo thi hành án.
[9] Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Lời đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị của Người bào chữa về việc áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Xét thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Do đó, lời đề nghị này của Người bào chữa cho bị cáo là chưa đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Các điều 23 và 26 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; đối với yêu cầu của người hại ông Trần Thanh T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 446.000.000 đồng không được Hội đồng xét chấp nhận nên bị hại T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 21.840.000 đồng. Nhưng bị cáo Thái H2 và bị hại ông Trần Thanh T1 là người cao tuổi là đối tượng được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bị cáo Thái H2 và bị hại ông Trần Thanh T1 được miễn toàn bộ án phí.
[12] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
1. Tuyên bố: Bị cáo Thái H2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
2. Tuyên xử: Phạt bị cáo Thái H2 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/9/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Trần Thanh T1 số tiền 165.000.000 đồng.
- Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:
+ Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
+ Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự 2014.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu xanh đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A5s (do bị cáo Thái H2 giao nộp);
Tiếp tục quản lý số tiền 65.000.000 đồng do bà Thái Thị Trúc P1 nộp khắc phục hậu quả cho bị cáo Thái H2 theo Biên lai thu tiền số 0001798 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng để đảm bảo thi hành án.
5. Về án phí:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; các điều 23 và 26 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Thái H2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được miễn.
- Bị hại ông Trần Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 21.840.000 đồng nhưng được miễn.
6. Về quyền kháng cáo:
- Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 27/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 27/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 13/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về