Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 24/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 24/2023/HS-PT NGÀY 27/03/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2023/HS-PT ngày 09 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Trần Trung D do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2022/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo: Trần Trung D, sinh năm 1987, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố 4, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Cha: Ông Trần Văn T, sinh năm 1964 Mẹ: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1964; Hiện trú tại: khu phố 4, phường Lạc Đạo, thành phố P; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: bà Trần Thị Trúc L, sinh năm 1995; Con có 01 người sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không.

Bị cáo bị bắt ngày 14/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an thành phố P.

Bị cáo có mặt.

- Bị hại kháng cáo: Ông Đặng Minh H, sinh năm 1982.

Trú tại: Khu phố 4, phường , thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Vũ H, sinh năm 1996.

Trú tại: Khu phố 4, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Vũ H nhờ Trần Trung D thông qua môi giới để H mua một phần diện tích 200m2 đất cây trồng trong thửa đất số 13, tờ bản đồ 00 có tổng diện tích 1.396m2 với giá 200.000.000đồng tại thôn Phú Khánh, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận của Đặng Minh H3.

Khoảng tháng 11/2019 D4, H và H3 hẹn gặp nhau tại một quán nước thuộc khu phố 7, phường Đức Long, thành phố P, tại đây D4 đưa 02 bản hợp đồng mẫu chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hộp dấu lăn tay cho H3 và H để thực hiện việc mua bán. H3 viết thông tin lên hợp đồng chuyển nhượng từ mục “BÊN CHUYỂN NHƯỢNG” đến phần “BÊN NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG” thì điện thoại của H3 reo, H3 nghe máy nên D4 đã tự viết thông tin từ mục “ĐIỀU 1” đến “ĐIỀU 4” của hợp đồng chuyển nhượng, D4 tự viết tiếp vào hợp đồng chuyển nhượng còn lại. Sau khi viết xong, D4 đưa cho H3, H3 ký tên và lăn tay vào hai hợp đồng. H thấy H3 đã ký và lăn tay vào hợp đồng nên H không ký tên và lăn tay vào hợp đồng, H giữ lấy 01 hợp đồng và đưa cho H3 số tiền 200.000.000đồng cùng 01 hợp đồng như đã thỏa thuận mua bán.

Sau khi mua bán xong H3 đi về thì H nói với D4: “đến quán cà phê Sông Quê tại xã Tiến Lợi, thành phố P”, D4 trả lời: “H đến đó trước, D4 đến sau”, H đồng ý và đi đến quán cà phê Sông Quê, lúc này D4 nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 200.000.000đồng của H3 do H đã đưa cho H3 trước đó nên D4 mở cốp xe của D4 lấy 01 bản hợp đồng chưa viết nội dung, D4 viết nội dung chuyển nhượng thửa đất nói trên, đồng thời D4 ký giả tên của Đặng Minh H3 và lăn tay của D4 vào hợp đồng, rồi D4 chạy đến quán cà phê Sông Quê gặp H. D4 nói với H cho D4 mượn xem hợp đồng chuyển nhượng của H giao dịch với H3, lợi dụng lúc H không để ý, D4 đã đánh tráo hợp đồng chuyển nhượng của H giao dịch với H3 với hợp đồng do D4 tự làm, rồi đưa cho H hợp đồng do D4 tự làm. Đánh tráo được hợp đồng chuyển nhượng, D4 nói H “ngồi uống cà phê chờ D4 đi công việc một chút rồi quay lại”, D4 cầm bản hợp đồng chuyển nhượng của H giao dịch với H3 đến khu phố 7, phường Đức Long, thành phố P thì gặp H3, D4 nói dối với H3: “gia đình của H không cho mua đất và xin lấy lại tiền”, đồng thời D4 đưa cho H3 bản hợp đồng chuyển nhượng của H giao dịch với H3, H3 kiểm tra thấy đúng chữ ký của H3 nên H3 đồng ý và đưa số tiền 200.000.000đồng cho D4, đồng thời H3 lấy bút gạch chéo lên hai bản hợp đồng. Nhận được số tiền, D4 về lại quán cà phê Sông Quê gặp H, tại đây H đưa cho D4 số tiền 2.000.000đồng là phí môi giới mua bán, rồi cả hai ra về.

Ngày 16/6/2021 H đến thôn Phú Khánh, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam gặp H3 để xem lô đất 200m2 H đã mua của H3 vào tháng 11/2019, H3 nói: “D4 đã đến gặp H3 nói rằng H không mua đất, D4 trả lại hợp đồng chuyển nhượng của H giao dịch với H3 cho H3, H3 đã trả lại số tiền 200.000.000đồng cho D4”. Nghe H3 nói, H liên lạc điện thoại gặp D4, D4 đã thừa nhận có đến gặp H3 lấy 200.000.000đồng và có đưa hợp đồng chuyển nhượng của H giao dịch với H3. Đến ngày 06/7/2021 D4 trả lại số tiền 200.000.000đồng cho H, H cũng đã trả cho D4 01 bản hợp đồng do D4 tự làm mà D4 đã đánh tráo của H trước đó.

Đến ngày 20/12/2021 Đặng Minh H3 đến Công an phường Đức Long tố cáo về hành vi của Trần Trung D và D4 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng của vụ án:

+ 02 bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đánh dấu chéo ở mỗi mặt giấy do Đặng Minh H3 giao nộp (ký hiệu A1, A2 khi giám định).

+ 01 bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đánh dấu chéo ở mỗi mặt giấy do Trần Trung D giao nộp. (ký hiệu A3 khi giám định).

Tại Kết luận giám định số 864/KL-KTHS ngày 08/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Về dấu vân tay:

+ Dấu vân tay dưới mục: “Bên A” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với dấu vân tay của Đặng Minh H3 dưới mục: Người tự khai/người tường trình” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 là vân tay của cùng một người.

+ Dấu vân tay dưới mục: “Bên A” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 so với dấu vân tay của Trần Trung D dưới mục: Người tự khai/người tường trình” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M5 là vân tay của cùng một người.

Về chữ viết, chữ ký:

a) Chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Minh H3 dưới mục: “Bên A” trên 02 tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết cùng tên trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là do cùng một người ký, viết ra.

Chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Minh H3 dưới mục: “Bên A” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 so với chữ ký, chữ viết cùng tên trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là không phải do cùng một người ký, viết ra.

b) Chữ viết tại mục “BÊN CHUYỂN NHƯỢNG” và mục “BÊN NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ viết đứng tên Đặng Minh H3 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là do cùng một người viết ra.

c) Chữ viết tại các phần còn lại của tài liệu A2 (từ mục ĐIỀU 1 đến mục ĐIỀU 4);

Chữ viết từ mục “BÊN CHUYỂN NHƯỢNG” đến mục “ĐIỀU 4” trên tài liệu ký hiệu A1;

Chữ viết từ mục “BÊN CHUYỂN NHƯỢNG” đến mục “ĐIỀU 2” và chữ “ĐẶNG MINH HIỆP” dưới mục “BÊN A” trên tài liệu ký hiệu A3;

So với: Chữ viết đứng tên Trần Trung D trên các tài liệu mẫu so sánh M3, M4 là do cùng một người viết ra.

d) Không tiến hành giám định chữ ký dưới mục “BÊN A” trên các tài liệu ký hiệu A3 so với chữ ký đứng tên Trần Trung D trên các tài liệu mẫu so sánh M3, M4.

Về dân sự: Đặng Minh H3 đồng ý việc Trần Trung D hoàn trả số tiền 200.000.000đồng cho H. Đặng Minh H3 và Lê Vũ H không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2022/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận, quyết định:

Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung D4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung D4 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/9/2022.

Ngoài ra bản án sơ thẩm đã tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/01/2023 bị hại Đặng Minh H3 có đơn kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Trung D.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến: Bị hại kháng cáo nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì mới. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại Đặng Minh H3, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2022/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Ý kiến của bị hại: Bị cáo D4 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thấy được lỗi lầm của mình và đã khắc phục toàn bộ thiệt hại nhưng bản án tuyên hình phạt quá nghiêm khắc đối với bị cáo D4 nên xin Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt để lao động lo cho hoàn cảnh gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Trung D thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo Trần Trung D đều khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thể hiện: Khoảng tháng 11/2019, Trần Trung D có hành vi gian dối tự làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất rồi đánh tráo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Lê Vũ H giao dịch với Đặng Minh H3 để chiếm đoạt số tiền 200.000.000đồng của H3 do H đã thanh toán tiền mua đất của H3.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Tòa án nhân dân thành phố P xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị hại Đặng Minh H3: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại để khắc phục hậu quả, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tại phiên tòa được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và quyết định hình phạt 06 năm tù giam là đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Như vậy, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị hại kháng cáo đưa ra đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng cho bị cáo, tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị hại không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên kháng cáo của bị hại không có căn cứ pháp luật để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận là có căn cứ và đúng pháp luật hình sự.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Đặng Minh H3. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2022/HS-ST ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ vào: Điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung D4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung D4 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/9/2022.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2022/HS-ST ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố P không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/3/2023). 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

101
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 24/2023/HS-PT

Số hiệu:24/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về