TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 220/2025/HS-PT NGÀY 22/04/2025 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Vào ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 03-01- 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 913/2025/QĐXXPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025.
1. Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh ngày 01/01/1977 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKNKTT: tổ E, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: số D B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; trình độ văn hoá: 10/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Đức V và con bà Phan Thị C); có chồng tên là Nguyễn Đăng P và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1997 và con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/5/2023, có mặt tại phiên tòa.
2. Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Phúc T - Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ, có mặt tại phiên toà.
3. Bị hại: bà Nguyễn Thị Sương T1, sinh năm 1980; nơi cư trú: số C đường N, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2021, Nguyễn Thị H lợi dụng lòng tin của bà Nguyễn Thị Sương T1 ở gần nhà với H. H đưa ra thông tin gian dối với bà T1 là có nhiều mối quan hệ với những người trong Ngân hàng tại thành phố Đà Nẵng và đang thực hiện việc kinh doanh mua bán nhiều bất động sản khác nhau. Vì vậy, H cần tiền để kinh doanh bất động sản và đáo hạn Ngân hàng. Sau khi đưa ra thông tin gian dối như trên thì H đề nghị bà T1 cho H vay tiền để H thực hiện công việc trên. H hứa hẹn đối với số tiền vay, mượn của bà T1 thì H trả trong khoản thời gian từ 07 ngày đến 30 ngày kể từ ngày nhận tiền bao gồm tiền vay và lãi vay kèm theo. Bà T1 tin tưởng H nên đồng ý cho H vay tiền theo thỏa thuận mà H đưa ra. Mọi giao dịch chuyển tiền đều được H thông qua số tài khoản 191221731380015 tại Ngân hàng TMCP K mang tên Nguyễn Thị H. Khi vay mượn tiền của T1, H sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo có số điện thoại 0908.259.177 của H để nhắn tin trả lời xác nhận số tiền T1 chuyển cho H thời gian nhận và trả. Nguyễn Thị H chỉ đưa ra thông tin có nguồn cần đáo hạn Ngân hàng và nhà, đất cần mua chứ không đưa ra bất cứ thông tin, giấy tờ, hình ảnh cụ thể nào về những nguồn đáo hạn, nhà, đất trên cho bà T1 biết. Sau khi nhận tiền và xác nhận với bà T1 thì Nguyễn Thị H không có thực hiện việc đáo hạn Ngân hàng cũng như mua bán nhà, đất mà sử dụng vào mục đích cá nhân như: Trả nợ, tiêu xài cá nhân, chuyển tiền cho Diệp Đình Q nộp giúp tiền vào tài khoản sàn giao dịch EXNESS của H, cho bà Nguyễn Thị B là chị ruột H mượn và sử dụng chính số tiền vay của T1 để trả tiền lãi cho bà T1. Thời gian đầu, H được bà Nguyễn Thị Bích C1 trả tiền mượn và tiền thu lợi được từ việc chơi nhị phân trên sàn EXNESS nên lấy tiền trả lại cho bà T1 kèm theo tiền lợi nhuận. Thấy H uy tín nên bà T1 càng tin tưởng H, khi H hỏi vay thêm thì bà T1 cho H vay thêm với số tiền tăng dần. Đến tháng 8/2021, bà T1 đòi lại tiền thì H nói dối đang làm đáo hạn nợ Ngân hàng, mua nhà, đất nhưng do dịch C, địa phương hạn chế việc ra đường nên chưa thực hiện xong và nhiều lý do khác để né tránh việc trả lại tiền cho bà T1. Sau nhiều lần hứa hẹn đến lúc H không còn khả năng trả lại tiền cho bà T1, H xóa tài khoản Zalo có số điện thoại 0908.259.177 cắt liên lạc với bà T1 rồi dùng tài khoản Zalo có số điện thoại 0905.121.437 để liên lạc với người khác. Tổng số tiền H đưa ra thông tin gian dối lấy của T1 là: 9.090.000.000 đồng (Chín tỷ không trăm chín mươi triệu đồng), bằng nhiều thủ đoạn H đã trả cho bà T1 số tiền 4.304.320.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm lẻ bốn triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng). Tổng số tiền còn lại H đang chiếm đoạt 4.785.680.000 đồng (Bốn tỷ bảy trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng).
Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 03-01-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 17 (mười bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 26/5/2023.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 13/01/2025, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 17/01/2025, bị hại Nguyễn Thị Sương T1 kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, tuy nhiên nếu bị cáo bồi thường thì xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Thị H và bị hại Nguyễn Thị Sương T1 trình bày giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà phát biểu:
Về tố tụng: kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H và bị hại Nguyễn Thị Sương T1 là trong thời hạn luật định.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 1 (mười bảy) năm tù là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đối với kháng cáo của bị hại, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 17 năm tù là thoả đáng, không nhẹ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh tụng: mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét số tiền quy kết bị cáo chiếm đoạt 09 tỷ đồng, vì bị cáo đã trả cho bị hại và đây là quan hệ dân sự. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, kính mong Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo. Bị cáo thống nhất quan điểm của Luật sư bào chữa.
Bị hại T1 tranh tụng: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật. Bị cáo chiếm đoạt tiền của tôi thì phải bồi thường cho tôi và tôi không biết ai ngoài bị cáo đã chiếm đoạt tiền của tôi. Do đó, bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho tôi.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
Ngày 13 tháng 01 năm 2025, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và ngày 17 tháng 01 năm 2025, bị hại Nguyễn Thị Sương T1 kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, tuy nhiên nếu bị cáo bồi thường thì xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Như vậy, kháng cáo của bị cáo, bị hại là trong thời hạn luật định. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, bị hại: [2.1] Về tội danh:
Tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị H nhận tội, thể hiện: bị cáo Nguyễn Thị H và bị hại Nguyễn Thị Sương T1 ở gần nhà nhau nên có quen biết. Lợi dụng vào sự nhẹ dạ cả tin của bị hại T1, bị cáo H đưa ra những thông tin gian dối là có nhiều mối quan hệ với những người làm việc trong Ngân hàng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đang thực hiện việc kinh doanh mua bán nhiều bất động sản khác nhau, nên cần tiền để kinh doanh bất động sản và đáo hạn Ngân hàng, từ thông tin này bị cáo đặt vấn đề vay mượn tiền của bà T1 và hứa trong vòng từ 07 ngày đến 30 ngày sẻ trả lại tiền gốc + lãi suất cho bà T1. Tin tưởng lời hứa hẹn của bị cáo, nên trong khoảng thời gian từ tháng 5/2021 đến tháng 8/2021 bị hại T1 đã nhiều lần chuyển tiền cho bị cáo thông qua chuyển khoản tại Ngân hàng với tổng số tiền 9.090.000.000 đồng (Chín tỷ không trăm chín mươi triệu đồng). Sau khi nhận được số tiền của bị hại T1, bị cáo không sử dụng vào việc đáo nợ Ngân hàng, cũng như không đầu tư kinh doanh bất động sản mà sử dụng chuyển tiền đầu tư sàn giao dịch EXNESS thông qua ông Diệp Đình Q chơi nhị phân bất hợp pháp, trả nợ, tiêu xài cá nhân; đồng thời, sử dụng chính tiền của bà T1 dùng trả lãi và trả gốc, hậu quả không còn khả năng trả lại tiền cho bà T1 nên cắt liên lạc với bà T1. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị H phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
… Bị cáo Nguyễn Thị H bị xét xử theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự có quy định khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân, phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Tài sản bị cáo chiếm đoạt gấp nhiều lần mức khởi điểm của khung hình phạt bị xét xử. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị H là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá, nhận định về tính chất, hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo đúng quy định của pháp luật. Từ đó xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 17 (mười bảy) năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật, không nhẹ.
[3] Tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị H cung cấp thông tin cho rằng có ông ngoại là Phan C2 là liệt sỹ, được tặng thưởng Huy chương. Xét thấy, mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là không nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới này là không đáng kể làm thay đổi mức hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H và kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Sương T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H và kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Sương T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
3. Về hình phạt: áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 17 (mười bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 26/5/2023.
4. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 220/2025/HS-PT
| Số hiệu: | 220/2025/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 22/04/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về