Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 205/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 205/2023/HS-PT NGÀY 25/10/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 239/2023/TLPT-HS ngày 02/10/2023, đối với bị cáo Nguyễn Thị Huyền T, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2023/HS-ST ngày 25/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền T - Sinh ngày: 17/9/1996, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Tổ dân phố C (nay là tổ dân phố D), phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Chăm sóc sắc đẹp; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chung T1 và bà Đặng Thị Lương A; bị cáo có chồng là Nguyễn Khắc H (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/02/2023, đến ngày 10/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Thanh L - Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh Đ, vắng mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2023, Nguyễn Thị Huyền T đến Công an phường T, thành phố B để tố giác chị Nguyễn Ngọc Q Giao, về việc chị G mượn tiền của T nhưng không trả. Lúc đó, T biết anh Lê Duy K, cũng cho chị G mượn tiền nhưng chị G cũng chưa trả, nên T gặp và quen biết anh Lê Duy K và bà Nguyễn Thị Kim D, ông Lê Bảo Q1 (là bố mẹ của anh K). Sau khi được Công an phường T giải thích nội dung T tố giác là tranh chấp dân sự nên không thụ lý, thì T đi về. Sau đó, T gặp anh K và bà D tại quán cà phê nói chuyện thì anh K cho T biết có chơi các ứng dụng (App) đầu tư trên mạng xã hội Online và nợ số tiền khoảng 90.000.000 đồng. Qua trò chuyện, T nhận thấy anh K và bà D không am hiểu pháp luật, rất sợ Cơ quan Công an, đồng thời do đang thiếu tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân nên T nảy sinh ý định lừa dối anh K và bà D để chiếm đoạt tiền. T dự định sẽ tạo dựng nên 02 nhân vật là cán bộ Công an của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ và 01 người là cán bộ của phòng An ninh mạng để lừa gia đình bà D. T sử dụng số điện thoại di động X.073273 đăng nhập tài khoản Zalo tên “Shin” để nhắn tin, gọi điện nói chuyện với anh K và bà D. Đồng thời, sử dụng số điện thoại 0X.940872 tạo lập tài khoản zalo tên “Phan N” và số điện thoại X.482682 tạo lập tài khoản zalo tên “Samoroat” với mục đích lừa dối anh K và bà D. T nói với anh K và bà D là T đang gửi đơn của T kèm theo nội dung của anh K để tố giác chị G đến Công an tỉnh Đ, T tự giả danh ra 02 người là chị N - cán bộ Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, công tác tại địa chỉ C L, thành phố B và anh D1 - cán bộ Công an Phòng An ninh mạng Công an tỉnh Đ. T lên mạng Internet nghiên cứu rồi nói dối với bà D là Cơ quan Công an sau khi nhận đơn thì xác định hành vi của anh K khi chơi các App trên mạng là hành vi “Đánh bạc online”, việc anh K tố giác chị G nhưng lại sử dụng tài khoản khác để chuyển tiền cho chị G là hành vi “Vu Khống”, còn việc T đi tố giác chị G mà anh K không tham gia đi cùng là hành vi “Che giấu tội phạm” và anh K sẽ bị khởi tố, cho đi tù. T biết gia đình bà D rất sợ bị liên quan đến pháp luật nên sẽ nhờ T hỏi để không bị liên quan pháp luật. Sau đó, bà D sử dụng số điện thoại 0X.420649, tài khoản Zalo tên “Kim Dung” nhắn tin, gọi điện liên lạc với T để hỏi sự việc. Lúc này, T nói với bà D là T có quen biết chị N và anh D1 (là các cán bộ Công an đang thụ lý vụ việc), T cung cấp số điện thoại và tài khoản Zalo tên “Phan N” và “Samoroat” mà T giới thiệu là của chị N và anh D1 để bà D liên hệ trực tiếp. Do tin tưởng T nên bà D liên hệ với các số điện thoại mà T cung cấp thì T sử dụng điện thoại của T thoát khỏi tài khoản Zalo tên “Shin” và lần lượt đăng nhập tài khoản “Phan N” để giả làm nhân vật tên N nhắn tin, gọi điện với bà D. Khi sử dụng tài khoản “Samroat” để giả làm nhân vật tên D1 thì T chỉ nhắn tin chứ không nhận cuộc gọi, còn khi đóng giả là nhân vật N thì T nhắn tin và gọi điện thoại nhưng T giả giọng nói của T thành tiếng tỉnh Quảng Bình để đánh lừa bà D, nên bà D đều tin là có chị N và anh D1 như T nói. Khi giả làm người tên N và tên D1 thì T đều cho bà D biết hành vi của anh K là hành vi phạm tội, đáng lẽ sẽ bị xử lý hình sự, phải đi tù nhưng nhờ có T đứng ra xin giúp nên sẽ chuyển qua xử lý phạt hành chính để khép hồ sơ, rồi đề nghị bà D liên hệ T để giao tiền nhờ T đóng phạt giúp cho anh K để chị N và anh D1 khép hồ sơ. Sau đó, bà D liên hệ với T qua tài khoản Zalo “Shin” nhờ T giao tiền cho nhân vật N.

Đến ngày 17/01/2023 bà D sử dụng tài khoản ngân hàng của LÊ NGUYỄN KIỀU K1 (con bà D) chuyển khoản 02 lần qua tài khoản Ngân hàng V số 02310006X1 mang tên NGUYỄN THỊ HUYỀN TR số tiền 17.500.000 đồng (mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng). Bà D còn gặp trực tiếp đưa cho T 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) và ngày 18/01/2023, bà D nhờ ông Lê Bảo Q1 đến Ngân hàng V chi nhánh tỉnh Đ để chuyển cho T số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng). Như vậy, thông qua 04 lần giao nhận tiền vào ngày 17/01/2023 và 18/01/2023 thì T nhận của bà D số tiền 23.700.000 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng). Trong ngày 17/01/2023, để cho anh K và bà D tin là thật, T nói anh K lên gặp, rồi T chở anh K đến trụ sở Phòng C1, Công an tỉnh Đ, địa chỉ B H, thành phố B. Khi đến nơi T dẫn anh K vào khu vực chờ của người dân đến làm thủ tục hành chính, T nói là đi gặp riêng cán bộ Công an để nhờ họ giải quyết, nhưng thực ra T chỉ đi ra ngoài đợi sau đó quay lại và nói với anh K là “Việc của em đã xong”, rồi cả hai đi về.

Sau đó, T tiếp tục đăng nhập tài khoản “Phan Nga” để nhắn tin với bà D với nội dung việc anh K cho G vay tiền có lấy lãi là hành vi “Cho vay lãi nặng” yêu cầu bà D liên hệ T đóng thêm 10.000.000 triệu (mười triệu đồng) để khép hồ sơ nếu không sẽ lật lại tất cả các hành vi vi phạm của anh K, thì bà D cho rằng hành vi của anh K không phải là hành vi cho vay lãi nặng và không đồng ý đưa thêm tiền cho T, nên T thoát khỏi tài khoản Zalo ‘Phan N” hủy kết bạn với tài khoản Zalo của bà D và đổi tên tài khoản “Phan N” thành “Huế N”. Sau đó, T sử dụng tài khoản zalo “Shin” nhắn tin với bà D nội dung là “Do anh K được bỏ qua các hành vi vi phạm nên anh K không tố giác Giao nữa thì T bị Cơ quan Công an xử phạt số tiền 6.900.000 đồng (sáu triệu chín trăm ngàn đồng) về hành vi vu khống và đề nghị bà D trả số tiền này cho T, vì T đã giúp con bà D, thì bà D đề nghị T phải cho xem hóa đơn đóng phạt thì mới tin. Lúc này, T lên trang Web G1 tìm mẫu “Phiếu thu” rồi đến tiệm pho to in ra 04 bản, sau đó T tự viết 01 phiếu thu tên người nộp tiền là “Lê Duy K” nộp số tiền 10.200.000 đồng, ngày 17/01/2023; 01 phiếu thu tên người nộp tiền là “Lê Duy K” nộp số tiền 7.500.000 đồng, ngày 17/01/2023; 01 phiếu thu tên người nộp tiền là “Nguyễn Thị Huyền T” nộp số tiền 6.900.000 đồng, ngày 17/01/2023 và 01 phiếu thu tên người nộp tiền là “Lê Duy K” nộp số tiền 6.000.000 đồng, ngày 18/01/2023. Đến ngày 03/02/2023, bà D hẹn gặp và đi cùng ông Trịnh Gia Q2, sinh năm 1977, trú tại 1 N, phường T, thành phố B, là người quen của bà D đến gặp T tại quán C2, số G Y, phường T, thành phố B. Tại đây, T đã đưa cho bà D 04 phiếu thu tiền nêu trên để bà D tin. Do có phiếu thu tiền nên bà D hẹn đến ngày 04/02/2023 sẽ quay lại quán C2 để đưa cho T số tiền 6.900.000 đồng, nhưng do thấy các phiếu thu do T không có dấu và không đủ chữ ký, bà D nghi ngờ bị T lừa, nên ngày 04/02/2023 bà D làm đơn trình báo với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 04/02/2023, bà D và ông Q2 đến quán cà phê B gặp T, rồi bà D giao cho T số tiền 6.900.000 đồng, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B lập biên bản sự việc và tạm giữ số tiền 6.900.000 đồng cùng 01 điện thoại di động Iphone 5, màu vàng, gắn sim thuê bao số X.073273, để xác minh xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 207/2023/HSST ngày 25/07/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2023 đến ngày 10/02/2023; Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/7/2023, bị cáo Nguyễn Thị Huyền T có đơn kháng cáo, với nội dung: đề nghị được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Huyền T giữ nguyên nội dung kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng người, đúng tội. Về mức hình phạt 01 năm tù mà bản án sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; bị cáo phạm tội nhiều lần nên cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền T 01 năm tù.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đối với người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Nguyễn Thị Thanh L vắng mặt tại phiên tòa không có lý do và bị cáo Nguyễn Thị Huyền T đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Huyền T tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối để bà Nguyễn Thị Kim D tin tưởng giao tiền, rồi chiếm đoạt tiền của bà D, cụ thể vào các ngày 17/01/2023, 18/01/2023 và 04/02/2023, bị cáo Nguyễn Thị Huyền T đã chiếm đoạt của bà D tổng số tiền là 30.600.000 đồng. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đảm bảo đúng người, đúng tội.

[3] Đối với kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an chung của xã hội, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội đã thực hiện. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, đồng thời bị cáo lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp luật của bị hại và phạm tội một cách táo bạo, liều lĩnh, nên cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo cho việc cải tạo, giáo dục bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp biên lai đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và Phiếu kết quả siêu âm kết luận bị cáo có thai khoảng 08 tuần, bị cáo xác định bị cáo có thai sau khi xét xử sở thẩm, đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt 01 năm tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; khi quyết định hình phạt bản án sơ thẩm cũng đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Do đó, không có cơ sở để xem xét giảm nhẹ hình phạt và kháng cáo đề nghị được hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận, nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo, là phù hợp.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thờ i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Huyền T; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 207/2023/HS-ST ngày 25/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[2] Về hình phạt:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2023 đến ngày 10/02/2023.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

71
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 205/2023/HS-PT

Số hiệu:205/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/10/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về