TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 144/2024/HS-ST NGÀY 25/06/2024 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thị Cẩm T, sinh năm 1995 tại thành phố H; nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đ; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh P và bà Trương Ánh N; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; bị cáo có chồng là Dương Thanh T1 (sinh năm 1991) và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022).
Tiền án: Ngày 12/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 03 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 217/2022/HS-ST nhưng đang được hoãn thi hành án do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/05/2023, bị Công an tỉnh Đ khởi tố về hành vi “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” và “Giả mạo trong công tác” nhưng cho tại ngoại vì đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Bị hại: Lê Thị H, sinh năm 1982 (có mặt) Địa chỉ: Sô B L, phường C, quận G, thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Cẩm T là kế toán cho cơ sở “C T Vegan” tại ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đ do chị Lê Thị H, sinh năm 1982 làm chủ. Nhiệm vụ của T là: Theo dõi việc xuất nhập hàng, mua hàng và thanh toán công nợ với khách hàng. T thấy chị H và nhà cung cấp không làm hợp đồng với nhau, đồng thời cũng không ghi rõ số tài khoản, tên người hưởng thụ để thanh toán nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị H. T đã lập các tài khoản mang tên người khác để chị H chuyển tiền vào tài khoản để T chiếm đoạt. Tiến hành vào ngày 29/6/2023, T làm phiếu chi hàng hóa là nước rửa chén và đề nghị chị H duyệt với số tiền 3.850.000 đồng vào số tài khoản 1008105956xx tên Nguyen Van T2 ngân hàng C (V), đến ngày 5/7/2023 T làm phiếu chi hàng hóa là gia vị và đề nghị chị H duyệt với số tiền 8.232.000 đồng vào số tài khoản 1060015084xx tên Chu Nguyen Khoi N1 ngân hàng C (V), đến ngày 7/7/2023 T làm phiếu chi hàng hóa là dụng cụ bếp và đề nghị chị H duyệt với số tiền 5.000.000 đồng vào số tài khoản 5018044xx tên Phan Thi Kim N2 ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB), ngày 19/7/2023 T làm phiếu chi hàng hóa là gia vị và đề nghị chị H duyệt với số tiền 9.000.000 đồng vào số tài khoản 19699999999xx tên Nguyen Minh D ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB).
Tổng số tiền T chiếm đoạt là 26.082.000 đồng, số tiền này T tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 13/8/2023, chị H kiểm tra phát hiện nên đã trình báo Công an xã P, Công an xã chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đề điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản cáo trạng số 145/CT.VKSNT ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố Lê Thị Cẩm T về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thị Cẩm T về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Thị Cẩm T từ 16 tháng đến 18 tháng tù và tổng hợp hình phạt chung với bản án số 217/2022/HS-ST ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thị Cẩm T phải bồi thường cho chị Lê Thị H theo quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Minh T3, Chu Nguyễn Khôi N3, Phan Thị Kim N4, Nguyễn Minh Đ là chủ tài khoản được T chuyển tiền vào nhưng những người này không biết hành vi trên của T là lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị H và cũng không sử dụng đến số tiền này nên không xem xét giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Thị Cẩm T không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Cẩm T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:
Từ ngày 29/6/2023 đến ngày 19/7/2023, tại cơ sở “Cát tường Vegan” ở ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Lê Thị Cẩm T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 26.082.000 đồng của chị Lê Thị H thì bị phát hiện xử lý Hành vi của Lê Thị Cẩm T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu và có 01 tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị cáo đang trong thời gian hoãn thi hành án do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật, không chịu tu sữa bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang nuôi con nhỏ, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo các tình tiết trên khi quyết định hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 26.082.000đ cho chị Lê Thị H.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.304.100 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về những vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Minh T3, Chu Nguyễn Khôi N3, Phan Thị Kim N4, Nguyễn Minh Đ là chủ tài khoản được T chuyển tiền vào nhưng những người này không biết hành vi trên của T là lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị H và cũng không sử dụng đến số tiền này nên không xem xét giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Cẩm T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thị Cẩm T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án số 217/2022/HS-ST ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, buộc bị cáo Lê Thị Cẩm T chấp hành hình phạt chung là 4 (bốn) năm 8 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thị Cẩm T phải bồi thường số tiền 26.082.000 đồng (hai mươi sáu triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng) cho chị Lê Thị H.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.304.100 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 144/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 144/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nhơn Trạch - Đồng Nai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 25/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về