TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
BẢN ÁN 138/2024/HS-ST NGÀY 30/07/2024 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh B1 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST-HS ngày 15/7/2024 đối với bị cáo:
Bùi Thị Th, Sinh năm 2000;
HKTT: Thôn Quyết Tiến, xã Gia Lập, huyện Gia Viễn, tỉnh B.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Th và bà Nguyễn Thị `K, Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ nhất; Chồng: Anh Tống Kim T, sinh năm 1993, con: 02 con, con lớn sinh năm 2020; con nhỏ sinh ngày 04/5/2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 73 ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh B, xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự.
Bị cáo áp dung biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện có mặt tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Nh, Sinh năm 1989 (Có mặt);
HKTT: Thôn Bái Uyên, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh B1;
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn Bái Uyên, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh B1.
2. Anh Tống Kim T, sinh năm 1993 (Xin vắng mặt);
HKTT: Thôn Quyết Tiến, xã Gia Lập, huyện Gia Viễn, tỉnh B.
3. Chị Bùi Thị L, sinh năm 1989 (Xin vắng mặt);
HKTT: Thôn Phù Long, xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh B.
4. Chị Trịnh Thị Th, sinh năm 1985 (Xin vắng mặt);
HKTT: Thôn Quyết Tiến, xã Gia Lập, huyện Gia Viễn, tỉnh B.
5. Anh Đinh Khả Ph, sinh năm 2000 (Xin vắng mặt);
HKTT: Thôn Lãng Ngoại, xã Gia Lập, huyện Gia Viễn, tỉnh B.
5. Chị Bùi Thị Th, sinh năm 1989 (Xin vắng mặt);
HKTT: Xóm 5, xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Nguyễn Thị Nh làm nghề kinh doanh buôn bán quần áo trẻ sơ sinh. Chị Nh sử dụng tài khoản facebook “Pham Th H1” và tài khoản zalo “Nguyễn Văn Q” để kinh doanh buôn bán, chồng chị Nh là anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983. Anh Q phụ giúp chị Nh vận chuyển, gửi hàng xe khách và đóng hàng quần áo khi khách mua hàng. Bùi Thị Th, sinh năm 2000 trú tại thôn Quyết Tiến, xa Gia Lập, huyện Gia Viễn, tỉnh B. Th đi làm thuê tại xưởng may ở chợ Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Th biết chị Nh bán quần áo do trước đó Th đã một số lần mua quần áo của chị Nh cho con qua tài khoản facebook “Pham Th H1”.
Năm 2021, Th mở một xưởng may gia công quần áo tại nhà quá trình kinh doanh bị thua lỗ, nợ nhiều nên xưởng may của Th phải đóng cửa. Trong thời gian buôn bán quần áo và đến hiện nay Th sử dụng tài khoản facebook “Tống Kim Ng” sau này đổi thành “Thanh Th”; tài khoản zalo “Th Q áo” sau đổi thành “Th Th” đăng kí qua số điện thoại 0961.530.xxx. Th chỉ sử dụng 02 số tài khoản là 688688202xxx của Ng hàng Quân đội chi nhánh B và số tài khoản 0961530xxx của ngân hàng Quân đội Chi nhánh B đều mang tên Bùi Thị Th. Th không mở số tài khoản nào của Ng hàng Nông nghiệp.
Khi xưởng quần áo đóng cửa, Th ở nhà không có việc làm ổn định, không có thu nhập, bị nhiều người tìm đến đòi nợ nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách sử dụng tài khoản facebook tên “Tống Kim Ng” (là tên con gái của Th) sau này đổi tên là “thanh thu” nhắn tin MESSENGER với những ai đăng bài bán quần áo giả vờ hỏi mua nhưng không trả tiền mà gửi hóa đơn chuyển tiền giả nhằm chiếm đoạt số quần áo trên. Do đã từng kinh doanh buôn bán quần áo nên Th biết được quy luật của người kinh doanh nếu đặt mua quần áo với số lượng nhiều thì không ai bán cho và nếu có bán thì phải cọc tiền trước nên Th chỉ nhắn tin đặt mua với số lượng ít sau đó nói chuyện để bên bán tin tưởng hoặc nếu họ yêu cầu thanh toán thì Th làm hóa đơn chuyển tiền giả gửi để họ tin tưởng và gửi vào ngày thứ 7, chủ nhật. Nếu nghi ngờ thì Th sẽ nói nghẽn mạng. Sau khi có được lấy được hàng hóa thì Th sẽ bán lại cho khách với giá chỉ rẻ hơn khoảng 30% đến 50% so với lúc mua, khi mua và Th yêu cầu họ phải thanh toán luôn, không cho nợ.
Với cách thức trên Th đã dùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy A04, vỏ màu hồng, lắp số thuê bao 0961.530.xxx sử dụng tài khoản facebook tên “Tống Kim Ng” (là tên con gái của Th) nhắn tin MESSENGER vào tài khoản face của chị Nh là “Pham Th H1” để hỏi mua quần áo trẻ con cụ thể như sau:
- Ngày 16/3/2023, Th đặt 350 bộ quần áo cộc đủ màu loại thêu hoa văn hoặc con vật ở trước ngực, loại vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm với giá thành phẩm 28.000đ/1 bộ = 9.800.000 đồng. Trong ngày, chị Nh đã giao đủ 350 bộ quần áo cho Th.
- Ngày 18/3/2023, Th tiếp tục đặt 250 bộ quần và áo đủ màu loại thuê hoa văn hoặc con vật ở trước ngực, loại vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm là 28.000 đồng/1 bộ=7.000.000 đồng. Trong ngày, chị Nh đã giao đủ 250 bộ quần áo cho Th - Ngày 20/3/2023, Th đặt 975 bộ quần và áo cọc tay màu trắng và 390 bộ quần áo loại màu, loại vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm là 19.500 đồng/1 bộ = 26.617.500 đồng; 570 bộ quần áo cộc đủ các màu có họa tiết trên áo quần, vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm là 20.000 đồng/1 bộ =11.400.000 đồng. Trong ngày, chị Nh là giao đủ 1935 bộ quần áo cho Th.
Sau khi chuyển hàng cho Th 03 lần và chốt xong tiền hàng chị Nh cho Th số tài khoản của anh Q (chồng chị Nh) gồm số tài khoản 10100508xxxx của Ng hàng công thương chi nhánh B1 và tài khoản số 0912808236 của Ng hàng Quân đội chi nhánh B1 và yêu cầu Th trả tiền hàng. Ngày 23/3/2023, Th lên một trang mạng facebook chuyên làm hóa đơn chuyển tiền và Th đã làm 01 hóa đơn giả chuyển số tiền là 58.000.000 đồng từ ngân hàng Nông nghiệp sang tài khoản số 0912808236 của Ng hàng Quân đội chi nhánh B1 của anh Q với giá 50.000đ rồi sau đó gửi cho chị Nh. Chị Nh có bảo anh Q kiểm tra tài khoản nhưng số tiền chuyển khoản về tài khoản của anh Q nhiều nên anh Q nghĩ có số tiền Th chuyển không kiểm tra lại chỉ báo lại với chị Nh là Th đã chuyển. Chị Nh có hỏi Th “chuyển tiền thừa à” thì Th trả lời “ừ”. Thấy chị Nh tin tưởng nên Th tiếp tục lừa đặt hàng quần áo của chị Nh cụ thể:
- Ngày 24/3/2023, Th đặt 2325 bộ quần áo cộc gồm hai loại có hoạ tiết và trắng phối màu, loại vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm là 22.000 đồng/1 bộ = 51.150.000 đồng; 1395 bộ quần áo loại áo rời trơn nhiều màu, không có hoạ tiết loại vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm là 15.000 đồng/1 bộ = 20.925.000 đồng và 510 bộ quần áo cộc tay ba lỗ túi zip loại vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm là 24.000 đồng/1 bộ= 12.240.000 đồng.
- Ngày 25/3/2023, Th đặt 864 bộ quần và áo cọc kẻ, loại vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm là 23.000 đồng/1 bộ=19.872.000 đồng; 3000 bộ quần và áo cộc loại ba lỗ các màu trơn nhưng không có hoa văn họa tiết, loại vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm là 23.000 đồng/1 bộ= 69.000.000 đồng và 1087 bộ quần và áo cộc thuê loại quần vát thường, loại vải do Việt Nam sản xuất giá thành phẩm là 25.000 đồng/1 bộ= 27.175.000 đồng. Trong ngày 25/3/2024, chị Nh giao đầy đủ 9.181 bộ quần áo cho Th.
Sau khi chiếm đoạt được toàn bộ số quần áo trên của chị Nh thì Th bán lại cho chị Trần Thị Hồng L1, sinh năm 1993 ở Xóm 7, xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Th dùng tài khoản zalo “Th Q Áo” để giao dịch, trao đổi với tài khoản zalo của chị L1 “Xưởng May Việt L1”. Quá trình giao dịch, Th nói với chị L1 là hàng thanh lý chỉ bán với giá rẻ hơn giá mua của chị Nh từ khoảng 30% đến 50% và yêu cầu chị L1 thanh toán tiền luôn. Chị L1 tin tưởng, đồng ý mua số quần áo trên của Th đã chuyển khoản từ tài khoản 321055558xxxx của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam của chị L1 vào số tài khoản 688688202xxx Ng hàng Quân đội chi nhánh B của Th với tổng số tiền là 98.180.000 đồng. Sau khi nhận được tiền của chị L1 chuyển trả thì Th dùng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Lúc này, chị Nh yêu cầu Th thanh toán tiền hàng thì Th tiếp tục lên mạng làm hóa đơn giả với số tiền là 150.000.000 đồng từ tài khoản Ng hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam sang tài khoản 10100508xxxx Ng hàng Công thương chi nhánh B1 của anh Q và chụp ảnh lại hóa đơn gửi chị Nh, anh Q. Do chị Nh không nhận được tiền trên nên hỏi Th chưa nhận được thì Th tiếp tục nói dối do vào ngày nghỉ nên chưa nhận được. Sau này, chị Nh biết Th nói dối thì Th thay đổi tên tài khoản Facebook thành “thanh thu” và trốn tránh chị Nh. Chị Nh đã nhờ người liên lạc thì Th nói do vỡ nợ hiện không có khả năng chi trả chị Nh. Do vậy, chị Nh đã làm đơn trình báo đến cơ quan điều tra công an huyện Tiên Du.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 103/KL-ĐGTSTTHS ngày 14/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du, kết luận:
Trị giá còn lại gồm 600 bộ quần áo cộc đủ các mầu loại thêu hoa văn hoặc con vật ở trước ngực áo =16.800.000 đồng; 1365 bộ quần áo cộc loại trắng trơn = 26.617.500 đồng; 570 bộ quần áo cộc đủ các mầu có hoa văn hoạ tiết = 11.400.000 đồng; 2325 bộ quần áo cộc gồm hai loại có hoạ tiết và trắng phối màu = 51.150.000 đồng; 1395 bộ quần áo cộc loại áo rời trơn nhiều màu nhưng không có hoa văn hoạ tiết = 20.925.000 đồng; 510 bộ quần áo cộc ba lỗ có túi bóng zíp = 12.240.000 đồng; 864 bộ quần áo cộc kẻ gồm các màu không có hoạ tiết hoa văn = 19.872.000 đồng; 3000 bộ quần áo cộc loại ba lỗ các màu trơn nhưng không có hoa văn hoạ tiết = 69.000.000 đồng; 1087 bộ quần áo cộc thêu loại quần vát thường = 27.175.000 đồng (Tất cả các loại quần áo trên đều là quần áo trẻ con từ khoảng 8kg đến 18kg) là 255.179.500 đồng làm tròn là 255.180.000 đồng.
* Về vật chứng vụ án:
- Đối với số quần áo chị L1 mua của Th đến nay chị L1 đã bán hết, do thời gian đã lâu nên chị L1 không nhớ cụ thể bán số quần áo trên cho ai nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Khi nào thu hồi sẽ xử lý sau.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy A04, vỏ màu hồng Th dùng vào hành vi phạm tội hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Viễn (do Th có sử dụng chiếc điện thoại này thực hiện hành vi phạm tội tại huyện Gia Viễn).
*Trách nhiệm dân sự trong quá trình điều tra: Đến nay Th đã bồi thường cho chị Nh được 99.150.000đ. Chị Nh yêu câu Th phải trả cho chị số tiền còn lại là 156.030.000 đồng. Ngoài ra, chị Nh không yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự.
Quá trình điều tra bị cáo Bùi Thị Th đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 59/CT-VKSTD ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh B1. Truy tố bị cáo Th về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình xét hỏi tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên toà bị hại chị Nh trình bày: Chị đã nghe rõ lời khai của bị cáo Th, nội dung bị cáo khai đúng với hành vi của bị cáo. Đối với số tài sản bị cáo chiếm đoạt theo như Kết luận định giá chị không có ý kiến gì, đối với số tiền yêu cầu bồi thường, tại cơ quan điều tra chị yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 156.030.000 đồng, tuy nhiên đến nay chị được biết trong 99.150.000 đồng bị cáo đã trả cho vợ chồng chị có 28.000.000 đồng bị cáo do phạm tội mà có, bản án số 73 ngày 22/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh B đã tuyên buộc vợ chồng chị phải nộp lại số tiền trên để trả cho anh Tuân là bị hại. Vì vậy trong vụ án này chị tiếp tục yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 28.000.000 đồng. Đối với số tiền bị cáo Th chuyển trả cho chị Bùi Thị L là 10.000.000 đồng, Bùi Thị Th là 3.200.000 đồng, anh Đinh Khả Ph là 4.000.000đồng, chị Trịnh Thị Th là 4.000.000 đồng, thì buộc những người này phải nộp lại và trả cho chị. Số tiền còn lại bị cáo phải trả cho chị là 162.830.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Toà án xét xử theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Th phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a, khoản 3, Điều 174; điểm b, n, s, khoản 1; Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bùi Thị Th từ 7 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 73/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh B. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án là từ 10 năm tù đến 10 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ vào các điều 47, 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS; các điều 584; 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo phải trả cho chị Nguyễn Thị Nh số tiền 162.830.000 đồng. Buộc chị Bùi Thị L nộp lại số tiền 10.000.000 đồng trả cho chị Nh.
Buộc chị Trịnh Thị Th nộp lại số tiền số tiến 4.000.000 đồng trả cho chị Nh.
Buộc chị anh Đinh Khả Ph nộp lại số tiền số tiền 4.000.000 đồng trả cho chị Nh.
Buộc chị chị Bùi Thị Th nộp lại số tiền số tiền 3.200.000 đồng trả cho chị Nh.
Trong phần tranh luận:
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt;
Bị cáo nhận thấy bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.
Bị hại chị Nh: không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nhất trí với bản luận tội, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Du, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ, xin vắng mặt tại phiên toà; đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng tới việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với với thời gian, địa điểm, lời khai bị hại, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trong khoảng thời gian từ ngày 16/3/2023 đến 25/3/2023, do không có tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân nên Bùi Thị Th dùng thủ đoạn gian dối là dùng tài khoản facebook giả vờ đặt mua quần áo của chị Nh để bán nhưng không trả tiền và làm hóa đơn chuyển tiền giả gửi cho chị Nh để chị Nh tin tưởng nhằm chiếm đoạt 11.716 bộ quần áo trị giá 255.180.000 đồng để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Thị Th đã phạm tội tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, với số tiền chiếm đoạt nêu trên bị cáo bị truy tố theo điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh B1 đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp công dân, được pháp luật bảo vệ, gây mất gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải đưa bị cáo ra xét xử kịp thời và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
Ngày 22/11/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh B, xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự, tuy nhiên hành vi phạm tội tại huyện Gia Viễn bị cáo thực hiện ngày 09/4/2023 sau ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án tại huyện Tiên Du, tỉnh B1, nhưng Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh B đã xét xử trước, đến nay bản án đã có hiệu lực pháp luật, với bản án trên bị cáo không bị tính là có tiền án.
Đối với hành vi của bị cáo 02 lần dùng hóa đơn chuyển tiền giả (03 hóa đơn chuyển tiền giả) để chị Nh tin tưởng nhằm chiếm đoạt số quần áo của chị Nh chuyển cho, mỗi lần đều đủ căn cứ cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, ngoài ra trong thời gian phạm tội bị cáo đang mang thai và hiện nay đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, n, s khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự.
Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du là phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy:
Cần thiết phải xử bị cáo một mức án tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung, giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật.
Đối với Bản án số 73 ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh B, xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự, đến nay đã có hiệu lực pháp luật nên căn cứ điều 56 BLHS cần tổng hợp bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của hai bản án.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích bán lấy tiền ăn tiêu, lẽ ra ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung một khoản tiền đối với bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật; Tuy nhiên bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng gì, đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền 28.000.000 đồng bị cáo đã trả cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị Nh là tiền bị cáo phạm tội trong vụ án khác, anh Q và chị Nh đã bị truy thu trong vụ án khác nên bị cáo phải bồi thường cho chị Nh số tiền 28.000.000 đồng.
Bị cáo đã trả cho chị Nh được 99.150.000 đồng trong đó có số tiền 28.000.000 đồng do phạm tội mà có đã bị truy thu. Nay chị Nh yêu cầu bị cáo phải trả cho chị số tiền còn lại là 156.030.000 đồng và số tiền 28.000.000 đồng anh chị bị truy thu; tổng số tiền là 184.030.000 đồng là có căn cứ.
Trong đó từ ngày 24/3/2023 đến ngày 27/3/2023, bị cáo trả nợ cho: chị Bùi Thị L số tiền 10.000.000 đồng; chị Trịnh Thị Th số tiến 4.000.000 đồng; anh Đinh Khả Ph số tiền 4.000.000 đồng; chị Bùi Thị Th số tiền 3.200.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có trong vụ án này nên buộc chị Bùi Thị L phải nộp lại số tiền 10.000.000 đồng; chị Trịnh Thị Th nộp lại số tiền số tiến 4.000.000 đồng; anh Đinh Khả Ph nộp lại số tiền số tiền 4.000.000 đồng; chị Bùi Thị Th nộp lại số tiền số tiền 3.200.000 đồng để trả cho chị Nh.
Từ ngày 24/3/2023 đến ngày 27/3/2023, bị cáo chuyển tiền cho anh Tống Kim T 04 lần với tổng số tiền 47.800.000 đồng, tuy nhiên anh T đã chuyển khoản lại cho bị cáo số tiền 35.000.000 đồng, còn lại số tiền 12.800.000 đồng anh T đã ra cây ATM rút tiền và đưa lại cho bị cáo, số tiền trên bị cáo chi tiêu cá nhân hết nên hội đồng xét xử không xem xét truy thu số tiền trên đối với anh Tống Kim T.
Do vậy bị cáo còn phải trả cho chị Nh số tiền là 162.830.000đồng.
Trường hợp bị cáo có nghĩa vụ trả tiền cho chị Bùi Thị L, chị Trịnh Thị Th, anh Đinh Khả Ph, chị Bùi Thị Th thì chị Bùi Thị L, chị Trịnh Thị Th, anh Đinh Khả Ph, chị Bùi Thị Th có quyền yêu cầu bị cáo thực hiện trách nhiệm đối với mình bằng một vụ án khác.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Đối với số quần áo chị L1 mua của Th đến nay chị L1 đã bán hết, do thời gian đã lâu nên chị L1 không nhớ cụ thể bán số quần áo trên cho ai nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Khi nào thu hồi sẽ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy A04, vỏ màu hồng Th dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Viễn (do Th có sử dụng chiếc điện thoại này thực hiện hành vi phạm tội tại huyện Gia Viễn). Đối với chiếc điện thoại này đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73 ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh B với hình thức là tịch thu sung ngân sách Nhà nước đúng quy định pháp luật nên trong vụ án này Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền còn lại bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết, đến nay không thu hồi được, bị cáo không nhớ chi tiêu vào việc gì, trả nợ cho ai nên không có căn cứ xử lý và thu hồi.
[8] Liên quan trong vụ án này:
Đối với chị Trần Thị Hồng L1 là người mua toàn bộ quần áo của Th, quá trình mua bán chị L1 không biết tài sản do Th phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra tiến hành giáo dục nhắc nhở chị L1 là phù hợp Đối với tài khoản facebook mà Th đặt làm hóa đơn giả do thời gian đã lâu và Th đã xoá hết nội dung nói chuyện nên chưa đủ căn cứ để làm rõ con người cụ thể. Do vậy, khi nào làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị L, chị Trịnh Thị Th, anh Đinh Khả Ph, chị Bùi Thị Th bị cáo chuyển trả tiền nợ, không biết tiền trả nợ của bị cáo do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra tiến hành giáo dục nhắc nhở là đúng quy định pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Th phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" .
Căn cứ điểm a, khoản 3, Điều 174; điểm b, n, s, khoản 1; Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38, Điều 56 BLHS.
Xử phạt: Bùi Thị Th 07 năm 06 tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tại bản án số 73/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh B.
Buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 10 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Căn cứ các Điều 47, 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Điều 584; Điều 585, Điều 586, Điều 589 BLDS.
Buộc bị cáo phải trả cho chị Nguyễn Thị Nh số tiền 162.830.000 đồng. Buộc chị Bùi Thị L nộp lại số tiền 10.000.000 đồng để trả lại cho chị Nguyễn Thị Nh.
Buộc chị Trịnh Thị Th nộp lại số tiền số tiến 4.000.000 đồng để trả lại cho chị Nguyễn Thị Nh.
Buộc chị anh Đinh Khả Ph nộp lại số tiền số tiền 4.000.000 đồng để trả lại cho chị Nguyễn Thị Nh.
Buộc chị Bùi Thị Th nộp lại số tiền số tiền 3.200.000 đồng để trả lại cho chị Nguyễn Thị Nh.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, người phải người thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự.
Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
*Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 9.201.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 138/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 138/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 30/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về