TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 112/2022/HS-ST NGÀY 23/11/2022 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Hôm nay, ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2022/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2022/QĐXXST - HS ngày 08/11/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Văn Đ, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; ĐKHKTT : Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh H. Nơi ở hiện nay : Thôn Bình Phúc, xã Y, huyện M, tỉnh H; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đinh Văn Hiển (đã chết); Con bà: Phạm Thị Hiền, sinh năm 1968; Vợ : Nguyễn Thị Thuỷ (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không Danh chỉ bản số 248 lập ngày 05/8/2022 tại Công an huyện Đan Phượng. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ 20/5/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; vắng mặt tại phiên toà.
Địa chỉ: Thôn 4, xã T, huyện P, thành phố N.
2. Ông Nguyễn Đăng T1, sinh năm 1959; vắng mặt tại phiên toà.
Địa chỉ: Thôn 7, xã T, huyện P, thành phố N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Đinh Văn C, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
2. Ông Phạm Bá L, sinh năm 1970; địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7 năm 2016, Đinh Văn Đ, sinh năm 1991 ở Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh H quen biết người đàn ông tên Đăng (không rõ lai lịch) qua mạng xã hội Facebook và được người này cho 01 áo xuân hè cảnh sát nhân dân, 01 quần dài cảnh sát nhân dân và 01 biển tên Công an nhân dân số hiệu 157-991 mang tên Đinh Văn Đ. Sau đó khoảng tháng 3 năm 2021, Đ nảy sinh ý định đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đã lên mạng xã hội Facebook vào trang “Shop chuyên đồ công an chính hãng” đặt mua 01 quân hàm cấp bậc Thượng úy, 01 cặp ve hàm Công an nhân dân, 01 thắt lưng Công an nhân dân, 01 đôi giày da công an nhân dân màu đen và 03 quần dài Công an nhân dân. Sau đó, Đ lên mạng Facebook có tên “Hỗ trợ giấy tờ” để tìm người làm giả giấy tờ Ngành công an thì được hướng dẫn liên hệ Zalo có số điện thoại 0919.204.081 (Điệp không rõ là ai). Sau khi liên hệ, Đ được hướng dẫn gửi các thông tin cá nhân, chụp ảnh chân dung của Đ rồi gửi cho tài khoản Zalo trên để làm giả 01 chứng minh Công an nhân dân, 01 giấy chứng nhận Điều tra viên Trung cấp mang tên Đinh Văn Đ với giá là 4.600.000 đồng. Đến khoảng tháng 8 năm 2021, Đ tiếp tục nhờ người có số điện thoại Zalo trên làm thêm 01 giấy phép lái xe Công an nhân dân hạng B2 mang tên Đinh Văn Đ với số tiền 1.570.000 đồng với mục đích tham gia giao thông không bị lực lượng công an phạt.
Ngoài hành vi nêu trên, Đ còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể: Do trước đó Đ đã quen biết chị Uông Thị H, sinh năm 1978 ở phố T, thị trấn P, huyện Đ, thành phố N nên khi có đầy đủ giấy tờ chứng minh Công an nhân dân, 01 giấy chứng nhận Điều tra viên Trung cấp giả, Đ mặc đầy đủ trang phục Công an nhân dân và mang toàn bộ giấy tờ Công an nhân dân giả mang tên mình đến hiệu thuốc “Phương H” của chị H ở thị trấn P, huyện Đ, thành phố N, Đ cho chị H xem Giấy chứng minh công an nhân dân và Giấy chứng nhận Điều tra viên trung cấp giả trên.Vì tin tưởng Đ là Công an, vào khoảng cuối tháng 11 năm 2021, chị H đã nhờ Đ lo giảm án phạt tù cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 ở thôn 4, xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội (anh T đang trong thời gian hoãn thi hành án). Đến khoảng 21 giờ ngày 21/11/2021, Đ đến hiệu thuốc của chị H để gặp anh T. Tại đây, Đ giới thiệu mình là Cán bộ Công an đang công tác tại Cục Cảnh sát hình sự C02 - Bộ công an với anh T và bạn chị H là anh Nguyễn Văn Long; sinh năm 1975 ở thôn 6, xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội đồng thời Đ đưa Giấy chứng minh Công an nhân dân đã làm giả trước đó cho mọi người xem để tạo lòng tin. Đ đưa ra thông tin bản thân có khả năng lo giảm án phạt tù, hưởng đặc xá cho anh T chỉ phải chấp hành mức án phạt tù khoảng hơn 01 năm chứ không phải chấp hành 51 tháng tù như bản án đã tuyên nhưng chi phí hết 300.000.000 đồng và anh T phải đưa trước cho Đ 100.000.0000 đồng, số tiền còn lại sẽ thanh toán nốt khi giảm án thành công, anh T tưởng thật nên đồng ý và thực hiện việc chuyển khoản luôn cho Đ. Do tài khoản 1098.7170.1077 mở tại Ngân hàng Vietinbank của anh T chỉ có 80.000.000 đồng nên anh T chuyển khoản trước vào tài khoản 0981.318.X của Đinh Văn Đ mở tại Ngân hàng MB Bank còn số tiền 20.000.000 đồng hai bên thống nhất sẽ trả nốt vào ngày hôm sau. Đến khoảng 17 giờ ngày 22/11/2021, được sự đồng ý của Đ, anh T bảo vợ là chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980 ở thôn 4, xã T, huyện P, thành phố N dùng số tài khoản 1.00000.X.07 của chị N mở tại Ngân hàng ViettinBank chuyển nốt 20.000.000 đồng vào tài khoản 33.8888.X mở tại Ngân hàng MB Bank của chị H. Số tiền này, chị H khấu trừ vào số tiền Đ nợ chị H trước đó nên không chuyển lại cho Đ.
Thông qua anh T, khoảng tháng 01 năm 2022, Đ gặp ông Nguyễn Đăng T1, sinh năm 1959 ở thôn 7, xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội để lo giảm án cho con trai ôngT1 là anh Nguyễn Hà Tuyên, sinh năm 1983 (hiện đang chấp hành bản án 07 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được 4 năm). Quá trình gặp gỡ, Đ đưa cho ôngT1 và con trai ôngT1 là anh Nguyễn Thanh Tùng, sinh năm 1988 ở thôn 7, xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xem Giấy chứng nhận Công an nhân dân giả của mình để tạo lòng tin. Đ hứa với ôngT1 sẽ lo giảm án cho anh Tuyên chỉ còn phải chấp hành hơn 01 năm nữa sẽ được về, chi phí hết 300.000.000 đồng và phải đưa trước cho Đ 100.000.0000 đồng, số tiền còn lại sẽ thanh toán nốt khi giảm án thành công, ôngT1 tưởng thật nên đồng ý và bảo anh Tùng chuyển số tiền 80.000.000 đồng từ tài khoản 1903.1915.7130.10 của Ngân hàng Techcombank của anh Tùng đến tài khoản 0981.318.X của Đ. Sau khi chuyển tiền lo giảm án, anh T yêu cầu Đ viết 02 giấy nhận (mỗi bên là 80.000.000 đồng) cho anh T và ôngT1 với nội dung để lo giảm án. Anh T giữ 02 giấy nhận tiền trên.
Đến khoảng tháng 3 năm 2022, Đ thông báo cho anh T hồ sơ xin giảm án của anh T đã quá hạn nên phải làm lại, chi phí phát sinh thêm là 20.000.000 đồng. Anh T đồng ý và chuyển số tiền trên vào số tài khoản 0981.181.X của Đinh Văn Đ.
Sau khi chiếm đoạt được tiền của anh T và ôngT1, Đ chuyển cho em trai là anh Đinh Văn C, sinh năm 1993 số tiền 10.000.000 đồng; chuyển cho cậu là ông Phạm Bá L, sinh năm 1970 đều ở thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh H giữ hộ số tiền 85.000.000 đồng. Số tiền còn lại Đ tiêu xài cá nhân hết. Sau nhiều lần thất hẹn, anh T, ôngT1 thấy Đ không lo được thủ tục giảm án nên đã yêu cầu Đ trả lại tiền nhưng đến nay vẫn chưa trả (Bút lục số 17 -18, 19 - 23, 27 - 58, 59 - 80).
Ngày 25/8/2022, anh Đinh Văn C tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra số tiền 10.000.000 đồng, ông Phạm Bá L giao nộp cho cơ quan điều tra số tiền 85.000.000 đồng (Bút lục 131 - 133).
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đã thu giữ: 01 giấy chứng minh công an nhân dân số 157-991; 01 Giấy chứng nhận Điều tra viên trung cấp số 157-991; 01 giấy phép lái xe hạng B2;
01 số hiệu Công an nhân dân số 157-991 đều mang tên Đinh Văn Đ; 01 áo trang phục Cảnh sát nhân dân xuân hè dài tay; 01 áo Cảnh sát nhân dân xuân hè cộc tay; 04 quần dài trang phục Cảnh sát nhân dân; 02 cầu vai cấp bậc hàm Thượng úy của Lực lượng Công an nhân dân; 02 ve hàm có gắn phù hiệu Công an nhân dân; 01 thắt lưng da kiểu trang phục của Lực lượng công an nhân dân;
01 đôi giày da màu đen kiểu giày trang phục của Lực lượng Công an nhân dân;
01 máy tính xách tay Dell màu đen; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A5 màu đen; 02 giấy biên nhận tiền và số tiền 95.000.000 đồng.
Ngày 23/5/2022, Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chữ ký, chữ viết trong các giấy biên nhận ngày 21/11/2021 có chữ viết, chữ ký mang tên Đinh Văn Đ.
Tại Kết luận số 5249/KL-KTHS ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Đinh Văn Đ trên các mẫu cần giám định với chữ viết, chữ ký đứng tên Đinh Văn Đ trên các mẫu so sánh là chữ do cùng một người viết và ký ra (bút lục 144).
Ngày 23/5/2022, Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định trưng cầu giám định tài liệu đối với số giấy tờ thu được của Đinh Văn Đ.
Tại Kết luận số 4650/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Giấy chứng minh Công an nhân dân số 157-991, họ tên Đinh Văn Đ cấp ngày 15/5/2016 là giấy chứng minh Công an nhân dân giả; Giấy chứng nhận Điều tra viên trung cấp số 157-991, họ tên Đinh Văn Đ là giấy chứng nhận giả; Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Đinh Văn Đ đều là giấy phép lái xe giả (bút lục 145).
Tại Kết luận số 4669/KL-KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Giấy nhận tiền đứng tên Đinh Văn Đ với bản tự khai với Bản tự khai, biên bản ghi lời khai Đinh Văn Đ là chữ do cùng một người viết và ký ra (bút lục 143).
Đối với trang Facebook “Shop chuyên đồ công an chính hãng” và trang Facebook có tên “Hỗ trợ giấy tờ”, Cơ quan điều tra tiến hành lập kiểm tra nhưng đều đã bị khóa nên không làm rõ được. Về số điện thoại Zalo 0919.204.081 của người làm giả giấy tờ công an nhân dân cho Đinh Văn Đ, Cơ quan điều tra đã có Công văn đề nghị mạng viễn thông Vinaphone cung cấp thông tin chủ sở hữu số điện thoại trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Do thời hạn điều tra đã hết nên ngày 12/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng ra Quyết định tách rút tài liệu liên quan đến vụ việc trên để tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với chị Uông Thị H, anh Nguyễn Văn Long là người giới thiệu Đinh Văn Đ với anh T đồng thời sau đó anh T giới thiệu Đ cho ông Nguyễn Đăng T1 và chứng kiến việc trao đổi lo giảm án phạt tù giữa Đ và anh T, ôngT1. Quá trình điều tra xác định được chị H, anh Thưởng, anh Long không liên quan gì đến hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tiền của Đ nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị H, anh Long, anh Phương.
Anh Đinh Văn C và ông Phạm Bá L là người được Đinh Văn Đ cho tiền và nhờ giữ hộ tiền nhưng không biết số tiền đó do Đ đi lừa đảo được mà có nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng không xem xét, xử lý.
Quá trình điều tra, Đinh Văn Đ khai có nhờ người tên Thành là cán bộ Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên để lo giảm án phạt tù nhưng ngoài lời khai của Đ không có tài liệu nào khác nên không có cơ sở để làm rõ. Ngoài ra Đ khai còn hỏi người tên Trần Hữu Huy; sinh năm 1980 là Cán bộ thanh tra giao thông quận Long Biên, thành phố Hà Nội nhưng quá trình xác minh không có ai có lý lịch nêu trên làm tại Thanh tra giao thông quận Long Biên.
Về dân sự: Ông Nguyễn Đăng T1 yêu cầu Đinh Văn Đ trả 80.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T yêu cầu trả số tiền 120.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: 01 giấy chứng minh công an nhân dân số 157-991; 01 Giấy chứng nhận Điều tra viên trung cấp số 157-991; 01 giấy phép lái xe hạng B2; 01 số hiệu Công an nhân dân số 157-991 đều mang tên Đinh Văn Đ; 01 áo trang phục Cảnh sát nhân dân xuân hè dài tay; 01 áo Cảnh sát nhân dân xuân hè cộc tay; 04 quần dài trang phục Cảnh sát nhân dân; 02 cầu vai cấp bậc hàm Thượng úy của Lực lượng Công an nhân dân; 02 ve hàm có gắn phù hiệu Công an nhân dân; 01 thắt lưng da kiểu trang phục của Lực lượng công an nhân dân; 01 đôi giày da màu đen kiểu giày trang phục của Lực lượng Công an nhân dân; 01 máy tính xách tay Dell màu đen; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A5 màu đen chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đan Phượng để giải quyết trong giai đoạn xét xử.
Tại Bản cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 04/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng quyết định truy tố bị cáo Đinh Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, TP Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của những người bị hại, người liên quan, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt từ 10 năm đến 11 năm tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 giấy chứng minh công an nhân dân số 157-991; 01 Giấy chứng nhận Điều tra viên trung cấp số 157-991;
01 giấy phép lái xe hạng B2; 01 số hiệu Công an nhân dân số 157-991 đều mang tên Đinh Văn Đ; 01 áo trang phục Cảnh sát nhân dân xuân hè dài tay; 01 áo Cảnh sát nhân dân xuân hè cộc tay; 04 quần dài trang phục Cảnh sát nhân dân; 02 cầu vai cấp bậc hàm Thượng úy của Lực lượng Công an nhân dân; 02 ve hàm có gắn phù hiệu Công an nhân dân; 01 thắt lưng da kiểu trang phục của Lực lượng công an nhân dân; 01 đôi giày da màu đen kiểu giày trang phục của Lực lượng Công an nhân dân; Tịch thu suy quỹ Nhà nước 01 máy tính xách tay Dell màu đen; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A5 màu đen.
Về dân sự: Buộc bị cáo Đ phải bồi T cho ông Nguyễn Đăng T1 số tiền 80.000.000 đồng và bồi T cho anh Nguyễn Văn T số tiền là 120.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu hồi được số tiền 95.000.000 đồng của Đinh Văn Đ do đó Đề nghị Hội đồng xé xử dùng số tiền này để trả cho người bị hại và buộc bị cáo tiếp tục bồi T cho những người bị hại số tiền còn lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng, TP Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, TP Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Đinh Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, lời khai của người bị hại, người liên quan, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khoảng tháng 3/2021 Đinh Văn Đ đã nhờ 01 người (không rõ lai lịch) có số điện thoại Zalo 0919.204.081 để làm giả 01 chứng minh Công an nhân dân và 01 chứng nhận Điều tra viên trung cấp đều mang tên của Đinh Văn Đ với giá 4.600.000 đồng. Sau đó, trong khoảng thời gian từ ngày 21/11/2021 đến ngày 22/01/2022 tại cửa hàng thuốc “Phương H” của chị Uông Thị H ở thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội và tại nhà ông Nguyễn Đăng T1 ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, Đinh Văn Đ là đối tượng không phải là Điều tra viên đang công tác tại Cục Cảnh sát hình sự C02 - Bộ công an, không có khả năng làm giảm án phạt tù cho anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Hà Tuyên nhưng đã đưa ra các thông tin giả mạo về việc có khả năng xin giảm án phạt tù từ 51 tháng tù xuống còn phải chấp hành hơn 01 năm tù cho anh T và hơn 01 năm tù cho anhT1 để chiếm đoạt tổng số tiền là 200.000.000 đồng rồi cất giữ và sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Cùng thời điểm năm 2021 (vào khoảng tháng 8) Đ tiếp tục nhờ người có số điện thoại Zalo 0919.204.081 trên làm giả cho Đ 01 Giấy phép lái xe Công an nhân dân hạng B2 với số tiền 1.570.000 đồng nhằm mục đích tham gia giao thông mà vi phạm thì không bị lực lượng công an giao thông phạt.
Hành vi của bị cáo Đinh Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, c khoản 2 điều 341 và điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về hành vi phạm tội như trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài liệu, con dấu của các cơ quan tổ chức, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động bình T của một số cơ quan quản lý, gây mất niềm tin của nhân dân vào lực lượng công an nhân dân. Mặc dù bị cáo không trực tiếp làm giả tài liệu nhưng chỉ vì vụ lợi bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật tiếp tay cho các hành vi làm giả, gây khó khăn cho công tác quản lý tạo điều kiện phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo đã dùng tài liệu giả này để lừa đảo tài sản của ôngT1, anh T, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự cho tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, lần đầu phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với trang Facebook “Shop chuyên đồ công an chính hãng” và trang Facebook có tên “Hỗ trợ giấy tờ”, Cơ quan điều tra tiến hành lập kiểm tra nhưng đều đã bị khóa nên không làm rõ được. Về số điện thoại Zalo 0919.204.081 của người làm giả giấy tờ công an nhân dân cho Đinh Văn Đ, Cơ quan điều tra đã có Công văn đề nghị mạng viễn thông Vinaphone cung cấp thông tin chủ sở hữu số điện thoại trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Do thời hạn điều tra đã hết nên ngày 12/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng ra Quyết định tách rút tài liệu liên quan đến vụ việc trên để tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chị Uông Thị H, anh Nguyễn Văn Long là người giới thiệu Đinh Văn Đ với anh T đồng thời sau đó anh T giới thiệu Đ cho ông Nguyễn Đăng T1 và chứng kiến việc trao đổi lo giảm án phạt tù giữa Đ và anh T, ôngT1. Quá trình điều tra xác định được chị H, anh Thưởng, anh Long không liên quan gì đến hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tiền của Đ nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị H, anh Long, anh Phương là có căn cứ.
Anh Đinh Văn C và ông Phạm Bá L là người được Đinh Văn Đ cho tiền và nhờ giữ hộ tiền nhưng không biết số tiền đó do Đ đi lừa đảo được mà có nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng không xem xét, xử lý là có căn cứ.
Quá trình điều tra, Đinh Văn Đ khai có nhờ người tên Thành là cán bộ Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên để lo giảm án phạt tù nhưng ngoài lời khai của Đ không có tài liệu nào khác nên không có cơ sở để làm rõ. Ngoài ra Đ khai còn hỏi người tên Trần Hữu Huy, sinh năm 1980 là Cán bộ thanh tra giao thông quận Long Biên, thành phố Hà Nội nhưng quá trình xác minh không có ai có lý lịch nêu trên làm tại Thanh tra giao thông quận Long Biên nên cơ quan cảnh sát điều tra huyện Đan Phượng không xử lý được là có căn cứ.
[8] Về dân sự: Ông Nguyễn Đăng T1 yêu cầu Đinh Văn Đ trả 80.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn T yêu cầu trả số tiền 120.000.000 đồng. Xét thấy anh Chinh và ông Linh giao nộp tổng số tiền 95.000.000 đồng mà Đ chuyển cho là số tiền lừa đảo được nên cần trả lại cho người bị hại.
Trả lại cho ông Nguyễn Đăng T1 số tiền 40.000.000 đồng, trả lại cho anh Nguyễn Văn T số tiền 55.000.000 đồng (Số tiền trên đang lưu giữ tại kho bạc nhà nước huyện Đan Phượng) là hợp lý. Đồng thời Đinh Văn Đ còn phải trả cho ông Nguyễn Đăng T1 số tiền 40.000.000 đồng và phải trả cho anh Nguyễn Văn T 65.000.000 đồng.
[9] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 giấy chứng minh công an nhân dân số 157- 991;
01 Giấy chứng nhận Điều tra viên trung cấp số 157-991; 01 giấy phép lái xe hạng B2; 01 số hiệu Công an nhân dân số 157-991 đều mang tên Đinh Văn Đ;
01 áo trang phục Cảnh sát nhân dân xuân hè dài tay; 01 áo Cảnh sát nhân dân xuân hè cộc tay; 04 quần dài trang phục Cảnh sát nhân dân; 02 cầu vai cấp bậc hàm Thượng úy của Lực lượng Công an nhân dân; 02 ve hàm có gắn phù hiệu Công an nhân dân; 01 thắt lưng da kiểu trang phục của Lực lượng công an nhân dân; 01 đôi giày da màu đen kiểu giày trang phục của Lực lượng Công an nhân dân;
- 01 máy tính xách tay Dell màu đen; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A5 màu đen bị cáo dùng để liên lạc làm giả giấy tờ cần tịch thu suy quỹ Nhà nước.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1, Điều 52 (Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự :
Xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2022.
2. Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584, 585,586 và 589 Bộ luật dân sự Trả lại cho ông Nguyễn Đăng T1 số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng, trả lại cho anh Nguyễn Văn T số tiền 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng. Số tiền trên đang lưu giữ tại số tài kho bạc nhà nước huyện Đan Phượng. (Theo Ủy nhiệm chi ngày 23/11/2022 của Công an huyện Đan Phượng) Buộc bị cáo Đinh Văn Đ còn phải trả cho ông Nguyễn Đăng T1 số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng và phải trả cho anh Nguyễn Văn T số tiền 65.000.000 (Sáu mươi lăm triệu) đồng.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 giấy chứng minh công an nhân dân số 157-991; 01 Giấy chứng nhận Điều tra viên trung cấp số 157-991; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 800203329 mang tên Đinh Văn Đ; 01 số hiệu Công an nhân dân số 157- 991 đều mang tên Đinh Văn Đ; 01 áo trang phục Cảnh sát nhân dân xuân hè dài tay; 01 áo Cảnh sát nhân dân xuân hè cộc tay; 04 quần dài trang phục Cảnh sát nhân dân; 02 cầu vai cấp bậc hàm Thượng úy của Lực lượng Công an nhân dân; 02 ve hàm có gắn phù hiệu Công an nhân dân; 01 thắt lưng da kiểu trang phục của Lực lượng công an nhân dân; 01 đôi giày da màu đen kiểu giày trang phục của Lực lượng Công an nhân dân;
- Tịch thu suy quỹ Nhà nước 01 máy tính xách tay Dell màu đen; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A5 màu đen.
(Theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 21/01/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng và Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban T vụ Quốc hội. Áp dụng điều 584, 589 Bộ luật dân sự.
Bị cáo Đinh Văn Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.250.000 (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 112/2022/HS-ST
| Số hiệu: | 112/2022/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đan Phượng - Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 23/11/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về