Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 05/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023, đối với:

Bị cáo HỒ TẤN Đ - Sinh ngày: 23/3/1996 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn An Dưỡng, xã Bình An, huyện Thăng Bình, Quảng Nam; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Tấn S và bà Trần Thị Q; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam ngày 18/7/2023, đến ngày 13/10/2023 được thay thế bằng biện pháp cho bảo lĩnh, có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Anh L V T, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn An Thái, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-Ông Ngô Đức H, sinh năm 1967. Địa chỉ: thôn Kế Xuyên 2, xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

-Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971. Địa chỉ: khối phố 3, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

-Bà Phan Thị Thanh N, sinh năm 1985. Địa chỉ: thôn Trà Long, xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2021, bà Trần Thị Q (sinh năm 1973, trú thôn An Dưỡng, xã Bình An, huyện Thăng Bình), là mẹ ruột của H T Đ, có mua cho Hồ Tấn Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, chủng loại SH125i BKS: 92H1-819.xxx (Giấy chứng nhận đăng ký xe đứng tên Hồ Tấn Đ) để Đ làm phương tiện đi lại. Trong quá trình sử dụng, Đ đem xe đi cầm cố lấy tiền tiêu xài nên bà Quý đi chuộc xe về và giữ giấy chứng nhận đăng ký xe không giao cho Đ.

Khoảng đầu tháng 5/2022, Đ nảy sinh ý định đem xe mô tô BKS 92H1- 819.xxx đi cầm cố lấy tiền tiêu xài nhưng vì giấy chứng nhận đăng ký xe mẹ Đ cất giữ, không thể cầm được. Để cầm được xe, thông qua mạng xã hội Facebook Đ thuê một người (không rõ nhân thân lai lịch) làm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 92H1-819.xxx giả (thông tin, hình ảnh giấy chứng nhận đăng ký xe do Đ cung cấp vì trước đây Đ có chụp ảnh và lưu lại trong điện thoại) với giá 2.000.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, Đ nhận được giấy chứng nhận đăng ký xe giả mang tên Hồ Tấn Đ. Sau khi có được giấy chứng nhận đăng ký xe giả, ngày 13/5/2023, Đ đem xe mô tô BKS: 92H1-819.xxx kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe giả và chứng minh nhân dân mang tên H T Đ đến tiệm cầm đồ Thành Thuận 2 của anh L V T ở thôn An Thành 2, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, với mục đích cầm xe lấy 20.000.000 đồng. Để vừa lấy được tiền, vừa có xe sử dụng đi lại và tránh bị cha mẹ phát hiện, Đ với anh T thoả thuận Đ làm hợp đồng bán xe cho anh T rồi làm thủ tục thuê lại xe mô tô BKS: 92H1-819.xxx để sử dụng với tiền thuê là 1.600.000 đồng/tháng. Khoảng 01 tháng sau, sau khi tiêu xài hết 20.000.000 đồng, Đ quay lại tiệm cầm đồ Thành Thuận 2 gặp anh T nói cầm xe thêm 10.000.000 đồng nữa, sau đó Đ lấy đưa lại anh T 1.600.000 đồng nói là trả tiền thuê xe. Đến khoảng đầu tháng 8/2022 Đ tiếp tục đến gặp anh T lấy thêm 20.000.000 đồng, sau đó Đ đưa lại cho anh T 2.400.000 đồng nói là trả tiền thuê xe. Khoảng tháng 11/2022, Đ nói bà Trần Thị Q đưa giấy chứng nhận đăng ký xe lại cho Đ để Đ đi bảo trì xe, sau khi bà Quý đưa giấy chứng nhận đăng ký xe cho Đ thì Đ đem xe mô tô BKS 92H1-819.xxx đến tiệm cầm đồ Bin 290, Trần Cao Vân thành phố Tam Kỳ cầm cố cho bà Nguyễn Thị Mai lấy 50.000.000 đồng tiêu xài. Ngày 18/4/2023, quá thời hạn thỏa thuận không thấy Đ chuộc lại xe, bà Mai thanh lý (bán) xe mô tô BKS 92H1-819.xxx cho bà Phan Thị Thanh Nga, bà Nga đã làm thủ tục sang tên cho mình.

Về phía anh Lê Văn Tấn, sau khi cho Đ thuê xe nhiều tháng không thấy Đ đến trả tiền thuê, anh T sinh nghi Đ làm giấy chứng nhận đăng ký xe giả để bán xe nên anh T đến báo cáo Công an huyện Thăng Bình.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 32/KL-HĐĐG ngày 01/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thăng Bình kết luận: Xe mô tô BKS 92H1-819.xxx có giá trị là 78.300.000 đồng.

Tại Bản Kết luận giám định số: 73/KL-KTHS(TL) ngày 09/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận:

- Phôi của tài liệu cần giám định ký hiệu A so với phôi của tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải được in từ cùng phương pháp in.

- Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “CÔNG AN HUYỆN THĂNG BÌNH*CÔNG AN TỈNH QUẢNG NAM*” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A không phải do con dấu có hình dấu tròn mang nội dung “CÔNG AN HUYỆN THĂNG BÌNH*CÔNG AN TỈNH QUẢNG NAM*” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 đóng ra.

- Chữ ký đứng tên Trần Văn Xuân trên tài liệu cần giám định ký hiệu A không phải do người ký chữ ký đứng tên Trần Văn Xuân trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 ký ra.

Tại Cáo trạng số 82/CT-VKSTB-HS ngày 31/10/2023 của VKSND huyện Thăng Bình truy tố bị cáo H T Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS 2015 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm d khoản 2 Điều 341 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo H T Đ và đề nghị:

Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 xử phạt H T Đ từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt H T Đ từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Áp dụng Điều 55 BLHS, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 48 tháng tù đến 60 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Lưu giữ theo hồ sơ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 92H1-819.xxx giả; trả lại cho bị cáo 01 giấy Chứng minh nhân dân mang tên H T Đ.

Tại phiên tòa, bị cáo H T Đ thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung như Cáo trạng đã truy tố là đúng, thống nhất ý kiến của Đi diện Viện kiểm sát về mức hình phạt. Lời nói sau cùng của bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của bị hại: Lời khai của anh L V T tại hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 13/5/2022, bị cáo Đ đến tiệm cầm đồ của anh T để bán chiếc xe BKS 92H1- 819.xxx cho anh T và sau đó thuê xe lại để đi. Sau khi thuê xe lại để sử dụng thì Đ cắt liên lạc với anh T, anh T nghi ngờ Đ dùng giấy tờ giả để bán xe nên đã báo Công an. Quá trình điều tra, anh T đã được bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo H T Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, ý kiến Kiểm sát viên và các chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 13/5/2022 đến tháng 8/2022, tại tiệm cầm đồ Thành Thuận 2 ơ thôn An Thành 2, xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, vơi mục đích chiếm đoạt tài sản, thông qua mạng xã hội, Hồ Tấn Đ đã có hành vi thuê một người không rõ nhân thân lai lịch làm 01 Giấy chưng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 92H1-819.xxx giả mang tên Hồ Tấn Đ và sử dụng giấy đăng ký xe giả này để bán chiếc xe mô tô BKS: 92H1-819.xxx cho anh Lê Văn Tấn. Anh Lê Văn Tấn đã tin tương giấy đăng ký xe mà Đ giao là thật và đưa cho bị cáo Hồ Tấn Đ tổng số tiền 50.000.000 đông (trong đó: lần nhất 20.000.000 đồng, lần thứ hai 10.000.000 đồng và lần thứ ba 20.000.000 đồng) và chỉ giư lại giấy chưng nhận đăng ký xe, giấy chưng minh nhân dân mang tên H T Đ mà không biết giấy chưng nhận đăng ký xe đó là giả. Vì vậy hành vi của H T Đ phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm d khoản 2 Điều 341 BLHS năm 2015.

Do đó, Cáo trạng của VKSND huyện Thăng Bình và lời luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận định:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý hành chính của nhà nước, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan chức năng của nhà nước và trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người dân tốt.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh T 03 lần với tổng số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng . Vì vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên được áp dụng Điều 54 BLHS để xử mức dưới khung hình phạt đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 174 và khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đ.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[4] Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Chứng minh nhân dân mang tên H T Đ; lưu giữ theo hồ sơ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 92H1- 819.xxx giả.

[5] Những vấn đề liên quan trong vụ án:

Bị cáo Hồ Tấn Đ khai liên lạc để làm giấy chứng nhận đăng ký xe giả thông qua mạng xã hội facebook. Qua điều tra và tại phiên toà, không xác định được họ tên, địa chỉ của người này nên HĐXX không có cơ sở để xử lý.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thăng Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo H T Đ phải chịu 200.000 đồng. Vì các lẽ trên;

Về tội danh và hình phạt:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật Hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo H T Đ phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản’’. Xử phạt bị cáo H T Đ 18 (Mười tám) tháng tù.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo H T Đ phạm tội “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo H T Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015. Tổng hợp hình phạt của hai tội trên, buộc bị cáo H T Đ phải chấp hành hình phạt chung là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Bị cáo được trừ thời gian tạm giam (từ ngày 18/7/2022 đến ngày 13/10/2022) vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS: Tuyên:

- Trả lại cho bị cáo H T Đ 01 Chứng minh nhân dân mang tên H T Đ.

- Lưu giữ theo hồ sơ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 92H1- 819.xxx giả.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/01/2024) bị cáo H T Đ có quyền kháng cáo bản án để đề nghị TAND tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

90
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 05/2024/HS-ST

Số hiệu:05/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thăng Bình - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về