Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 04/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 04/2023/HS-ST NGÀY 30/03/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 30 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu (Điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh) vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 03/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 17/3/2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Quang V; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 06/9/1999, tại xã T, huyện C, tỉnh A; Nơi ĐKHKTT: Xã B, huyện D, tỉnh L; Nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh A; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông: Bùi Giang N và bà Nguyễn T; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/01/2023 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa (tại điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh).

2. Họ và tên: Nguyễn Như Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02/02/2001, tại huyện C, tỉnh A; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm 3, xã H, huyện C, tỉnh A; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông: Nguyễn Như L và bà Nguyễn Thị Y; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/01/2023 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa (tại điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh).

* Người bị hại:

- Anh Đinh Tiến N, sinh ngày: 06/5/2000; Địa chỉ: Thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh T; Nghề nghiệp: Chiến sỹ nghĩa vụ quân sự có thời hạn; Có mặt.

- Anh Nguyễn Huy H1, sinh ngày: 16/6/19xx; Địa chỉ: Thôn M, xã U, thành phố O, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Bùi Giang N, sinh ngày: 02/4/1968; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh A; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Có mặt.

- Anh Nguyễn Như L, sinh ngày: 18/4/1972; Địa chỉ: Xóm 3, xã H, huyện C, tỉnh A; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Có mặt.

- Anh Nguyễn Như D, sinh ngày: 18/4/2004; Địa chỉ: Xóm 3, xã H, huyện C, tỉnh A; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Chị Trần Thị Kim O, sinh ngày: 15/6/2001; Địa chỉ: Thôn P, xã R, huyện Đ, tỉnh T; Có mặt.

- Anh Phạm Văn S, sinh ngày: 29/9/1996; Địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn B, huyện X, tỉnh P; Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Khương T, sinh ngày: 09/11/1997; Địa chỉ: Thôn 4, xã S, huyện C, thành phố N; Vắng mặt.

* Những người tham gia tố tụng khác: Cán bộ, chiến sỹ tại điểm cầu thành phần hỗ trợ phiên toà gồm: Ông Nguyễn Văn Thế - cán bộ đội Cảnh sát bảo vệ (tổ trưởng); ông Nguyễn Văn Lâm, ông Phạm Ngọc Bảo, ông Trần Nguyễn Minh Hiếu, ông Hồ Tiến Lĩnh, đều giữ chức vụ: Cán bộ đội Cảnh sát bảo vệ trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ cùng lao động tự do tại thành phố V, tỉnh A. Cuối tháng 11/2022, V lên mạng xã hội mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150cc, sơn màu đen, gắn biển kiểm soát 29V5-406.xx và giấy đăng ký xe của người đàn ông mà V khai tên T ở tỉnh P với giá 11.000.000 đồng, để làm phương tiện đi lại. Đầu tháng 12/2022, Bùi Quang V sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu đỏ đen, đăng nhập mạng xã hội Facebook để đăng tải thông tin bán chiếc xe trên thì có nhiều người hỏi mua nên V nảy sinh ý định lừa bán xe để lấy tiền của người mua, sau đó V bàn với Nguyễn Như Đ cùng thực hiện, cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 13/12/2022 anh Nguyễn Huy H1 (sinh năm 19xx, trú tại thôn M, xã U, thành phố O, tỉnh H) sử dụng tài khoản Facebook “Duy Hưng” liên hệ với Bùi Quang V để hỏi mua xe Yamaha Exciter 150cc, gắn biển kiểm soát 29V5-406.xx của V. Quá trình trao đổi V và anh H1 thống nhất giá bán 10.000.000 đồng, rồi hẹn gặp vào ngày 15/12/2022 tại thành phố V, tỉnh A để giao dịch mua bán xe. Khoảng 19 giờ ngày 15/12/2022 Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ đến quán cà phê Warrior ở xã Hưng Lộc, thành phố V, tỉnh A và thống nhất Đ sẽ lại đón người mua xe, còn V vào quán cà phê chờ sẵn ở một bàn khác, sau khi Đ và người mua giao dịch mua bán xe xong và đưa tiền thì V sẽ sử dụng chìa khóa dự phòng điều khiển xe rời khỏi quán trước, sau đó Đ tìm cách bỏ chạy. Thống nhất xong, V đi vào quán cà phê ngồi ở bàn ngoài sân, còn Nguyễn Như Đ điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter 150cc, sơn màu đen, gắn biển kiểm soát 29V5-406.xx đi đón anh Nguyễn Huy H1. Khoảng 10 phút sau, Nguyễn Như Đ chở anh Nguyễn Huy H1 đến quán, Đ dựng xe cạnh quán cà phê để anh H1 kiểm tra xe. Sau khi kiểm tra xe, cả hai đi vào ngồi ở bàn phía bên trong, anh H1 đồng ý mua xe và chuyển số tiền 9.500.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng MBBank, số 0100106091999 của Bùi Quang V do Đ cung cấp. Khi V thấy tin nhắn của Ngân hàng MBbank và Nguyễn Như Đ báo người mua đã chuyển tiền vào tài khoản, thì đi ra khu vực để xe, sử dụng chìa khóa khác, điều khiển xe mô tô đó rời đi khỏi quán. Cùng lúc đó Nguyễn Như Đ để lại chìa khóa xe mô tô do V cung cấp trước đó cho anh Nguyễn Huy H1 làm tin, sau đó đi ra lối cửa sau quán cà phê nhanh chóng rời khỏi quán. Đi được một đoạn đường, Nguyễn Như Đ gọi điện nói Bùi Quang V lại đón phía sau quán cà phê, rồi cả hai đi xe về phòng trọ của Đ ở thành phố V. Lúc này, Bùi Quang V chuyển khoản số tiền 4.000.000 đồng vào số tài khoản 2418042004 của Nguyễn Như D (em trai của Nguyễn Như Đ) để chia tiền cho Đ. Số tiền có được cả hai tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ hai: Ngày 20/12/2022, anh Đinh Tiến N (sinh năm 2000, trú tại xã Q, huyện S, tỉnh T) sử dụng tài khoản Facebook “Hoàng Tuấn Phong” của mình vào bài đăng bán xe của Bùi Quang V trao đổi mua bán chiếc xe mô tô. Đến ngày 22/12/2022, Bùi Quang V giả vờ đồng ý bán xe với giá 8.000.000 đồng và hẹn gặp anh Đinh Tiến N. Khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi đã bàn bạc thống nhất kế hoạch thực hiện việc lừa lấy tiền của người mua xe như lần trước đó, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150cc, sơn màu đen, không gắn biển kiểm soát (do V tháo biển kiểm soát cất trước đó) chở Nguyễn Như Đ đi đến thị xã H vào quán cà phê Khởi nghiệp thuộc tổ dân phố 10, phường B, thị xã H, tỉnh T. V nói Đ để xe mô tô Exciter ở khu vực đường đi lại, cạnh quán cà phê. Sau đó, V ngồi tại bàn gần vị trí xe, còn Nguyễn Như Đ được V phân công ngồi ở vị trí sâu trong quán để thực hiện giao dịch bán xe với anh Đinh Tiến N. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh Đinh Tiến N điều khiển xe mô tô đến quán Khởi Nghiệp gặp Nguyễn Như Đ. Sau khi kiểm tra xe mô tô, anh Đinh Tiến N đồng ý mua xe và đề nghị được giảm giá là 7.800.000 đồng, Nguyễn Như Đ nhắn tin cho Bùi Quang V trao đổi nội dung trên thì V đồng ý. Anh Đinh Tiến N nhờ bạn gái là Trần Thị Kim O (sinh năm 2001, trú tại thôn L, xã Đ, huyện V, tỉnh T) chuyển số tiền 7.800.000 đồng (tiền của N gửi cho bạn gái giữ trước đó) đến số tài khoản 01001060999 của Bùi Quang V do Nguyễn Như Đ cung cấp. Thấy tin nhắn báo tài khoản nhận được tiền thì V nhắn tin thông báo cho Nguyễn Như Đ rồi đi ra phía ngoài với mục đích chuẩn bị điều khiển xe mô tô đi nhưng anh Đinh Tiến N nhờ Nguyễn Như Đ điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter 150cc về nơi làm việc gần quán cà phê nên Đ đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, gắn thẻ sim số 0921.956.xxx nhắn tin bảo V để Đ chủ động điều khiển xe tìm cơ hội tẩu thoát nên V đi ra phía ngoài đường Quốc lộ 1A chờ. Sau đó, Nguyễn Như Đ điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter 150cc đi phía sau xe anh Đinh Tiến N. Khi đi ra đến đường Quốc lộ 1A, thấy anh Đinh Tiến N rẽ trái vào đường Ngô Đức Kế thì Nguyễn Như Đ điều khiển xe chạy thẳng theo Quốc lộ 1A một đoạn, gặp Bùi Quang V đang đứng trên vỉa hè và đón V lên xe đi về thành phố V. Anh Đinh Tiến N phát hiện không thấy Nguyễn Như Đ đâu thì điều khiển xe mô tô của mình quay lại đuổi theo một đoạn nhưng không kịp. Sau khi về đến thành phố V, Bùi Quang V chuyển khoản 3.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Nguyễn Như D để chia cho Nguyễn Như Đ. Số tiền có được cả hai sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 04/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H triệu tập Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ đến trụ sở để làm rõ thì Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình.

* Về vật chứng vụ án: 01 xe mô tô Yamaha Exciter 150cc, sơn màu đen, số khung RLCUG0610HY473268, số máy G3D4E-4947, đã qua sử dụng; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 29V5-406.xx, nền màu trắng, chữ và số màu đen, đã qua sử dụng; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 056468, được đăng ký cho xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 29V5-406.xx, số khung RLCUG0610HY578569, số máy G3D4E603699 do Công an huyện C, tỉnh N cấp ngày 29/11/2017; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi - Xiaomi M1903F11A, vỏ màu đỏ - đen, số IMEI1: 861348047905857, số IMEI2: 861348047905865, lắp thẻ sim số 0369.432.xxx, đã qua sử dụng (đều thu giữ của Bùi Quang V); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, vỏ màu đen, số IMEI: 354852097479675, lắp thẻ sim số 0921.956.xxx, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Như Đ).

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, số khung RLCUG0610HY473268, số máy G3D4E-4947, đăng ký biển kiểm soát 88E1- 224.xx, chủ xe là anh Phạm Văn S, trú tại tổ dân phố K, thị trấn B, huyện X, tỉnh P bị mất trộm vào ngày 20/8/2022. Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã chuyển chiếc xe này cho Công an huyện X, tỉnh P xử lý theo quy định.

Đối với các vật chứng: 01 biển kiểm soát 29V5-406.xx và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 056468 được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, số khung RLCUG0610HY578569, số máy G3D4E603699, đăng ký chủ sở hữu mang tên Nguyễn Khương T, trú tại thôn 4, xã S, huyện C, thành phố N nhưng xe mô tô cùng giấy đăng ký xe đã được anh Nguyễn Khương T bán lại cho một người đàn ông không quen biết vào năm 2019, hiện không xác định được chủ sở hữu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi - Xiaomi M1903F11A, vỏ màu đỏ - đen, số IMEI1: 861348047905857, số IMEI2:

861348047905865, lắp thẻ sim số 0369.432.xxx, đã qua sử dụng (thu giữ của Bùi Quang V); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, vỏ màu đen, số IMEI: 354852097479675, lắp thẻ sim số 0921.956.xxx, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Như Đ). Các vật chứng nói trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Huy H1 số tiền 9.500.000 đồng, anh Đinh Tiến N số tiền 7.800.000 đồng. Các bị hại anh Nguyễn Huy H1 và anh Đinh Tiến N không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS-TXHL, ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quang V mức án từ 10 đến 15 tháng tù và bị cáo Nguyễn Như Đ mức án từ 08 đến 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Bùi Quang V, Nguyễn Như Đ là lao động phổ thông, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Huy H1 và anh Đinh Tiến N không yêu cầu bồi thường gì thêm; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Bùi Giang N, ông Nguyễn Như L không yêu cầu các bị cáo bồi hoàn gì nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 biển kiểm soát xe mô tô số 29V5-406.xx, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 056468, không có giá trị sử dụng, thu giữ của bị cáo Bùi Quang V.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi - Xiaomi M1903F11A, vỏ màu đỏ đen, số IMEI1: 861348047905857, số IMEI2: 861348047905865, lắp thẻ sim số 0369.432.xxx, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Bùi Quang V và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, vỏ màu đen, số IMEI 354852097479675, lắp thẻ sim số 0921.956.xxx, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Như Đ, là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

+ Truy thu số tiền 17.300.000 đồng của các bị cáo thu lợi bất chính để sung vào công quỹ nhà nước. Cụ thể: Bị cáo Bùi Quang V: 9.800.000 đồng; bị cáo Nguyễn Như Đ: 7.500.000 đồng;

+ Ngoài ra, đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150cc, sơn màu đen, số máy G3D4E-4947, số khung RLCUG0610HY473268, đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án trộm cắp tài sản do Cơ quan CSĐT Công an huyện X, tỉnh P thụ lý, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã chuyển chiếc xe mô tô nói trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện X, tỉnh P xử lý theo quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bùi Quang V, Nguyễn Như Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Bùi Quang V, Nguyễn Như Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định hành vi Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ bằng thủ đoạn đăng tải thông tin rao bán xe mô tô giá rẻ trên mạng xã hội Facebook, đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tiền giao dịch mua xe của anh Nguyễn Huy H1 và anh Đinh Tiến N, với tổng số tiền 17.300.000 đồng đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xét xử các bị cáo mức án nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Vụ án có đồng phạm nhưng chỉ đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, cấu kết chặt chẽ. Xét vị trí, vai trò của từng bị cáo như sau:

Đối với Bùi Quang V là người khởi xướng đồng thời là người thực hành tích cực trong vụ án. Bị cáo V sau khi rao bán xe của mình trên mạng, nhận thấy có nhiều người hỏi mua xe nên đã nãy sinh ý định phạm tội. Bị cáo V rủ thêm bị cáo Nguyễn Như Đ cùng thực hiện tội phạm, V đưa ra phương thức thực hiện, phân công nhiệm vụ cho bị cáo Đ và cũng là người phân chia số tiền các bị cáo chiếm đoạt được. Vì vậy tính chất mức độ hành vi phạm tội và mức án của bị cáo V cao hơn so với bị cáo Đ.

Đối với bị cáo Nguyễn Như Đ đồng phạm với vai trò là người thực hành trong vụ án. Sau khi nghe bị cáo V khởi xướng, rủ cùng thực hiện phạm tội, bị cáo Đ đồng ý và làm theo sự phân công của bị cáo V. Xét tính chất mức độ, vị trí, vai trò của bị cáo Đ thấp hơn bị cáo V nên mức án bị cáo Đ phải chịu thấp hơn bị cáo V.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ thực hiện hành vi lữa đảo 2 lần, mỗi lần trị giá tài sản trên hai triệu đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự phục vụ Quân đội nhân dân Việt Nam, gia đình các bị cáo có công với cách mạng (ông Bùi Văn Bính và ông Nguyễn Duy Bán là ông nội và ông ngoại bị cáo Bùi Quang V được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; ông bà nội bị cáo Nguyễn Như Đ là ông Nguyễn Như Điềm được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba và bà Lê Thị Hòe được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất) nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Trong vụ án này có một số người liên quan gồm: Nguyễn Như D (sinh năm 2004, trú tại xóm 3, xã H, huyện C, tỉnh A) là em trai của Nguyễn Như Đ, được Bùi Quang V chuyển tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội vào tài khoản ngân hàng của D, sau đó D đã chuyển tiền mặt cho Đ. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Như D không biết tiền do Bùi Quang V chuyển đến là tài sản do phạm tội mà có, D cũng không biết việc Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với người đàn ông bán xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150cc, sơn màu đen, gắn biển kiểm soát 29V5-406.xx, kèm theo giấy đăng ký xe mô tô số 056468 mà V khai tên T ở tỉnh P, quá trình điều tra không xác định được thông tin, lý lịch của người này để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với hành vi Bùi Quang V mua xe mô tô của người đàn ông trên, V tin tưởng xe mô tô cùng giấy đăng ký xe, biển kiểm soát gắn trên xe có nguồn gốc rõ ràng theo cam kết của người bán mà không biết được nguồn gốc thực sự của xe nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động phổ thông, thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được bồi thường thiệt hại đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi hoàn gì nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[10] Về vật chứng vụ án:

- 01 biển kiểm soát xe mô tô số 29V5-406.xx, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 056468, không xác định được chủ sở hữu và không có giá trị sử dụng, cần căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi - Xiaomi M1903F11A, vỏ màu đỏ đen, số IMEI1: 861348047905857, số IMEI2: 861348047905865, lắp thẻ sim số 0369.432.xxx, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Bùi Quang V và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, vỏ màu đen, số IMEI 354852097479675, lắp thẻ sim số 0921.956.xxx, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Như Đ. Đây là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Số tiền 17.300.000 đồng của các bị hại do các bị cáo thực hiện tội phạm mà có, các bị cáo đã tiêu xài cá nhân. Hội đồng xét xử xét thấy đây là công cụ phương tiện do phạm tội mà có nên cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để truy thu sung công quỹ nhà nước. Cụ thể truy thu của bị cáo V: 9.800.000 đồng, bị cáo Đ: 7.500.000 đồng.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150cc, sơn màu đen, số máy G3D4E-4947, số khung RLCUG0610HY473268, đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án trộm cắp tài sản do Cơ quan CSĐT Công an huyện X, tỉnh P thụ lý, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã chuyển chiếc xe đó cho Công an huyện X, tỉnh P xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[11] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[13] Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

- Về tội danh và hình phạt chính: Tuyên bố các bị cáo Bùi Quang V và Nguyễn Như Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Quang V 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 05/01/2023).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Đ 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 05/01/2023).

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 biển kiểm soát xe mô tô số 29V5-406.xx, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 056468, không có giá trị sử dụng, thu giữ của bị cáo Bùi Quang V.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi - Xiaomi M1903F11A, vỏ màu đỏ đen, số IMEI1: 861348047905857, số IMEI2: 861348047905865, lắp thẻ sim số 0369.432.xxx, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Bùi Quang V và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, vỏ màu đen, số IMEI 354852097479675, lắp thẻ sim số 0921.956.xxx, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Như Đ.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2023).

Truy thu số tiền 17.300.000 đồng của các bị cáo đã tiêu xài cá nhân do phạm tội mà có để sung vào công quỹ nhà nước. Cụ thể: Truy thu của bị cáo Bùi Quang V: 9.800.000 đồng; Truy thu của bị cáo Nguyễn Như Đ: 7.500.000 đồng.

- Về án phí: Buộc các bị cáo Bùi Quang V, Nguyễn Như Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại anh Đinh Tiến N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Giang N, ông Nguyễn Như L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại anh Nguyễn Huy H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Như D vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc ngày niêm yết bản án chính.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

242
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 04/2023/HS-ST

Số hiệu:04/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về