Bản án về tội làm nhục người khác số 48/2020/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 48/2020/HS-PT NGÀY 30/07/2020 VỀ TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC

Hôm nay, ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 92/2020/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Thị T và đồng phạm do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2020/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện YP, tỉnh Bắc Ninh.

- Các bị cáo bị kháng cáo:

1. Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; trú tại: Thôn MX, xã LC, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949; có chồng là Nguyễn Đức N, sinh năm 1978 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; hiện tại ngoại; có mặt.

2. Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1975; trú tại: Thôn MX, xã LC, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949; có chồng là Nguyễn Văn Th, sinh năm 1973 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; hiện tại ngoại; có mặt.

3. Ngô Thị L, sinh năm 1973; trú tại: Thôn MX, xã LC, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Ph (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1943; có chồng là Nguyễn Hữu L, sinh năm 1969 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; hiện tại ngoại; có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Chị Lê Thị N, sinh năm 1984; HKTT: Khu 3, thị trấn DĐ, huyện TT, tỉnh Thái Bình; tạm trú tại: Thôn MX, xã LC, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan là chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1977 và anh Nguyễn Đức N2, sinh năm 1978 nhưng chị Th và anh N2 không kháng cáo, không L quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2000, Nguyễn Thị T kết hôn với anh Nguyễn Đức N2 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã LC. Khoảng tháng 3/2019, T nghi ngờ anh N2 có quan hệ ngoại tình với chị Lê Thị N nên giữa T và anh N2 xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân. Trong thời gian T và anh N2 sống ly thân thì chị N đến thuê trọ tại thôn MX, xã LC, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh. T và mọi người trong gia đình thấy anh N2 thường xuyên đến phòng trọ của chị N chơi. Khoảng 10 giờ ngày 14/10/2019, chị Nguyễn Thị Th là chị gái của T đang đứng xúc cát gần quán nước của T và chị Th bán chung ở cạnh Công ty Sam Sung thuộc KCN YP thì chị N đi xe mô tô ngang qua, thấy vậy chị Th xúc cát hất trúng vào xe của chị N. Bị hất cát vào xe, chị N dừng xe và gọi điện thoại cho anh N2 nói “Anh ra quán nước xem nó ném cát vào người em”. Sau khi nhận điện thoại của chị N, anh N2 đi đến quán nước của chị Th đang bán hàng. Lúc này ở quán có Nguyễn Thị Ng là chị em ruột với chị Th và T. Tại quán nước, anh N2 và chị N có xảy ra xô sát với chị Th và Ng. Ng bị anh N2 xô đẩy bị ngã gãy đốt 1 ngón V bàn chân phải và dùng đoạn cây mía đánh vào vùng trán làm bầm tím. Sau đó Ng và chị Th kể lại sự việc với T.

Khoảng 20 giờ ngày 14/10/2019, T cùng Ng và Ngô Thị L là chị dâu họ của T đến phòng trọ của chị N để nói chuyện. Khi T, Ng và L đến phòng trọ của chị N thì hai bên có xảy ra cãi chửi nhau. T xông vào trong buồng ngủ của chị N dùng tay đánh, túm tóc chị N, hai bên giằng co nhau. Trong lúc xô sát, T dùng tay kéo áo chị N làm tuột chiếc áo cộc màu đen mà chị N đang mặc làm chị N bị hở hết phần ngực, trên người N chỉ mặc một chiếc quần lửng nền màu đen chấm bi màu trắng. Sau đó, T cùng L, Ng kéo, đẩy chị N trong tình trạng cởi trần từ trong buồng ra ngoài đường ngõ trước cửa nhà trọ để cho những người dân đang đứng trước cửa nhìn thấy. Sau khi ra đến cửa nhà trọ, T tiếp tục xông vào xô sát với chị N, còn L dùng tay kéo quần lửng mà chị N đang mặc xuống nhưng do chị N chống cự và dùng tay giữ quần nên L không kéo được. Sau đó chị N chạy được vào trong nhà trọ và mọi người giải tán đi về. Quá trình xảy ra sự việc, anh N2 đã sử dụng chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 7 của anh N2 để quay lại clip. Ngày 18/10/2019 và ngày 11/12/2019, chị Lê Thị N có đơn đề nghị xử lý T, Ng và L theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/10/2019, anh Nguyễn Đức N2 đến Công an huyện YP giao nộp 01 chiếc USB màu tím, nhãn hiệu Kingston bên trong chứa 02 đoạn clip quay lại cảnh Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Ng, Ngô Thị L có hành vi làm nhục chị Lê Thị N được copy từ điện thoại của anh N2. Ngày 19/11/2019, chị N tự nguyện giao nộp: 01 áo váy nền vằn sọc nhiều màu, trên có chấm bi bị rách rời phần lưng áo ra khỏi áo; 01 áo phông màu đen bị rách phần áo phía trước, phần áo bị rách chạy dọc từ cổ áo đến mép dưới thân áo chia phần thân áo ra làm hai phần; 01 quần lót của nữ màu đen bị rách rời phần phía trước của quần. Ngày 25/11/2019, chị N tự nguyện giao nộp: 01 quần lửng bằng vải, cạp chun, nền đen chấm bi màu trắng, không bị rách, hư hỏng gì.

Ngày 04/12/2019, Nguyễn Thị Ng trình báo sự việc bị anh Nguyễn Đức N2 đánh gây thương tích buổi sáng ngày 14/10/2019. Ngày 12/02/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện YP ra Quyết định số 50 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh giám tỷ lệ tổn thương cơ thể tính theo phần trăm và cơ chế hình thành vết thương của Nguyễn Thị Ng. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 21/TgT ngày 19/02/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh kết luận: “- XQ bàn chân phải gãy đốt 1 ngón V bàn chân phải. Áp dụng chương 8, tổn thương cơ thể do tổn thương hệ Cơ-Xương-Khớp. Phần IX, ngón chân. Mục 13 gãy xương một đốt ngón chân = 01%.

- Cơ chế là do tác động ngoại lực bởi vật tày”.

Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2020/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện YP, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Ng và Ngô Thị L phạm tội “Làm nhục người khác”. Áp dụng khoản 1 Điều 155; điểm b, i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Thị T 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ; Nguyễn Thị Ng và Ngô Thị L, mỗi bị cáo 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/5/2020, bị hại Lê Thị N kháng cáo đề nghị xử phạt các bị cáo T, Ng và L tù giam. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Do các bị cáo lột áo, làm nhục chị ở nơi đông người nên đề nghị phải phạt tù giam. Giữa chị và anh N2 chỉ là quan hệ bạn bè, làm ăn buôn bán với nhau. Những tấm ảnh chị chụp chung với anh N2 T xuất trình cho CQĐT là đúng, nhưng chỉ là bạn bè chụp ảnh chung khi đi du lịch. Chị chỉ kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với 3 bị cáo, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo T, Ng và L đều thừa nhận Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo Tười trình bày: Do chị N có quan hệ tình cảm với anh N2 (chồng chị) nên dẫn tới vợ chồng mâu thuẫn. Bị cáo đã in ảnh của anh N2 chụp chung với chị N khi cả hai đi du lịch với nhau xuất trình cho CQĐT. Anh N2 ly thân vợ sang ở với chị N tại phòng trọ. Bị cáo đã từng làm đơn gửi chính quyền địa phương, công an đề nghị giải quyết. Do buổi sáng ngày 14/10/2019 anh N2 và chị N sô sát đánh chị gái bị cáo nên buổi tối cùng ngày bị cáo sang phòng trọ của N để hỏi anh N2. Tại đây có xảy ra sô sát với chị N. Bị cáo do nhận thức hạn chế, chỉ vì bức súc với chị N nên phạm tội, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ. Bị cáo Ng và L xác nhận lời khai của T là đúng, đề nghị HĐXX xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi nhận xét vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo T, Ng và L không có ý kiến gì. Chị N không đồng ý với ý kiến của VKS, đề nghị HĐXX phạt tù giam 3 bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo T, L và Ng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, HĐXX thấy có đủ cơ sở khẳng định: Do ghen tuông chị N có quan hệ tình cảm với chồng là Nguyễn Đức N2, nên vào khoảng 20h ngày 14/10/2019, tại nhà trọ của chị N ở thôn MX, xã LC, huyện YP, các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Ng và Ngô Thị L có hành vi lôi, kéo chị N trong tình trạng cởi trần, hở hết phần ngực từ trong phòng trọ ra ngoài đường trước sự chứng kiến của nhiều người dân xung quanh nhằm mục đích làm nhục chị N. Do vậy, Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Ng và Ngô Thị L phạm tội “Làm nhục người khác” theo khoản 1 Điều 155 BLHS là đúng người, đúng tội.

[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của bị hại, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Sau đó bị hại có đơn yêu cầu xử lý, vì vậy hành vi của của các bị cáo cần phải xử lý theo quy định của pháp luật hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét kháng cáo của bị hại đề nghị phạt tù giam cả 03 bị cáo, HĐXX nhận thấy: Trong vụ án này cần xét đến nguyên nhân dẫn tới các bị cáo phạm tội là do bị hại cũng có một phần lỗi trong quan hệ với chồng bị cáo T. Các bị cáo đều có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác cả 3 bị cáo đều bị xét xử theo khoản 1 Điều 155 BLHS có khung hình phạt cao nhất là: “…phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm”. Vì vậy cấp sơ thẩm phạt bị cáo T 10 tháng cải tạo không giam giữ; các bị cáo Ng và L, mỗi bị cáo 08 tháng cải tạo không giam giữ là phù hợp với pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại đề nghị phạt tù giam đối với 3 bị cáo, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của chị Lê Thị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 155; điểm b, i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ về tội “làm nhục người khác”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ng và Ngô Thị L, mỗi bị cáo 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Làm nhục người khác”.

Giao các bị cáo T, Ng và L cho Uỷ ban nhân dân xã LC, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Chị Lê Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

67
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội làm nhục người khác số 48/2020/HS-PT

Số hiệu:48/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về