Bản án về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức số 47/2024/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 47/2024/HS-ST NGÀY 20/03/2024 VỀ TỘI LÀM GIẢ TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC

Ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Phương M (tên khác: Không), sinh ngày 06 tháng 6 năm 1991 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi ĐKHKTT: thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú tại: tổ dân phố Đ, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Anh T (đã chết) và bà Trịnh Thị N; có chồng là Nguyễn Văn A1 và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Nguyễn Thị T1 (tên khác: Không), sinh ngày 05 tháng 5 năm 1988 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT: tổ dân phố H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: kế toán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Nguyễn Văn T2 và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

3. Nguyễn Vân A2 (tên khác: Không), sinh ngày 22 tháng 3 năm 1993 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT: tổ dân phố C, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; tạm trú tại: tổ dân phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là đảng viên Đ2 (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 147 ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Ủy ban kiểm tra Thành ủy P); con ông Ngô Trung T3 và bà Nguyễn Thị D; có chồng là Cù Xuân Đ (đã ly hôn) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Hoàng Thị Y, sinh năm: 1992; địa chỉ: đội C, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

2. Chị Phạm Thị H1, sinh năm: 1982; địa chỉ: tổ dân phố Ấ, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

3. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1995; địa chỉ: xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

4. Chị Mông Thị Kiều T4, sinh năm: 1997; địa chỉ: tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 02/2023, Trường mầm non H2 có trụ sở tại Khu dân cư L, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên do chị Hoàng Thị Y (sinh năm 1992, trú tại đội 3, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) làm chủ có mở cơ sở 2 ở gần đó nên chị Y đã yêu cầu các giáo viên của trường gồm: Lê Phương M, chị Mông Kiều T4 (sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) và chị Nguyễn Thị N1 (sinh năm 1995, trú tại xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) làm hồ sơ để chuyển sang cơ sở 2 dạy học. Chị Y yêu cầu kế toán của trường là Nguyễn Thị T1 hỗ trợ các giáo viên trên làm giấy khám sức khỏe để cho vào hồ sơ và nhà trường hỗ trợ toàn bộ chi phí khám sức khỏe cho các giáo viên, T1 đồng ý. Sau đó, T1 gọi điện thoại cho bạn là chị Phạm Thị H1 (sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố Ả, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) hỏi chị H1 xem có biết ai làm giấy khám sức khỏe không thì chị H1 bảo với T1 là không biết. Lúc này, chị H1 đang giao hàng cho Nguyễn Vân A2. Vân A2 nghe thấy chị H1 và T1 nói chuyện qua điện thoại như vậy nên Vân A2 nói với chị H1 là trên mạng bán rất nhiều, có cần thì Vân A2 mua hộ cho. Vân A2 nói với chị H1 là cho T1 số điện thoại của Vân A2 để T1 liên lạc nói chuyện cụ thể, chị H1 đồng ý và cho T1 số điện thoại của Vân A2, sau đó chị H1 đi về. Khi có số điện thoại của Vân A2, T1 nhắn tin qua ứng dụng Zalo, T1 nhờ Vân A2 mua hộ 03 giấy khám sức khỏe cho Lê Phương M, chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1, Vân A2 đồng ý mua hộ T1 03 giấy khám sức khỏe trên và bảo với T1 đây là giấy khám sức khỏe giả, T1 vẫn đồng ý mua. Sau khi nói chuyện với T1 xong, Vân A2 lên mạng xã hội Facebook tìm người bán giấy khám sức khỏe thì tìm thấy 01 tài khoản bán giấy khám sức khỏe giả. Vân A2 gọi điện thoại cho tài khoản facebook trên, thì được người này báo giá 150.000 đồng/01 giấy khám sức khỏe, chỉ cần gửi ảnh thẻ qua mạng thì sẽ có người mang đến giao cho Vân A2. Sau đó, Vân A2 nhắn tin cho T1, bảo T1 gửi cho Vân A2 03 ảnh thẻ của 03 cô giáo và bảo với T1 giá làm giấy khám sức khỏe là 150.000 đồng/01 giấy khám sức khỏe, T1 đồng ý. Đến ngày 15/02/2023, T1 bảo 03 cô giáo trên nộp ảnh thẻ cho T1 để làm giấy khám sức khỏe. Sau khi nhận được ảnh thẻ của 03 cô giáo, T1 chụp ảnh và gửi cho Vân A2 qua ứng dụng Zalo. Nhận được ảnh do T1 gửi, Vân A2 gửi cho tài khoản facebook trên. Sau đó, có 01 người nam giới (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến giao cho Vân A2 03 giấy khám sức khỏe giả của Lê Phương M, chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1 tại Bệnh viện Q, tuy nhiên cả 03 giấy khám sức khỏe trên đều để trống phần họ tên và thông tin cá nhân của người được khám sức khỏe. Đến ngày 18/02/2023, Vân A2 mang 03 giấy khám sức khỏe trên đến trường mầm non Happy House giao cho T1, T1 chuyển số tiền 450.000 đồng là tiền Vân A2 đã trả hộ T1 trước đó cho người bán giấy khám sức khỏe giả. Nhận được 03 giấy khám sức khỏe từ Vân A2, T1 thông báo cho 03 cô giáo đến lấy giấy khám sức khỏe và điền thông tin cá nhân của mình vào giấy khám sức khỏe. Lê Phương M đã nhận giấy khám sức khỏe của mình từ T1 và tự điền thông tin cá nhân của mình vào giấy khám sức khỏe rồi đưa lại cho T1. Chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1 do có việc bận không đến được nên T1 đã điền thông tin cá nhân, ký tên vào giấy khám sức khỏe cho chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1.

Đến ngày 22/02/2023, T1 mang 03 giấy khám sức khỏe trên đến UBND phường B, thành phố P để chứng thực thì cán bộ UBND phường B phát hiện 03 giấy khám sức khỏe trên có dấu hiệu làm giả nên đã báo Công an phường B, thành phố P giải quyết. Công an phường B, thành phố P đã đến hiện trường lập biên bản sự việc, thu giữ, niêm phong 03 giấy khám sức khỏe trên. Ngày 12/3/2023, Công an phường B, thành phố P đã chuyển hồ sơ cùng vật chứng vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số 895/KL - KTHS ngày 10/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

Hình dấu tròn đó có nội dung “BỆNH VIỆN QUÂN Y 91 * CỤC HẬU CẦN QUÂN H đội*” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1 (giấy khám sức khỏe đề ngày 30/01/2023), A2 (giấy khám sức khỏe đề ngày 01/02/2023), A3 (giấy khám sức khỏe đề ngày 02/12/2022) so với hình dấu trên mẫu so sánh ký hiệu M1 (hình dấu tròn của Bệnh viện Q) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Hình dấu hình chữ nhật đó có nội dung “TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN QY- 91 - ĐÃ THU TIỀN” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với hình dấu trên mẫu so sánh ký hiệu M2 (hình dấu hình chữ nhật có nội dung TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN QY- 91 - ĐÃ THU TIỀN của Bệnh viện Q) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Chữ ký mang tên BS.CKII Trần Xuân T5 trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ ký mang tên Trần Xuân T5 trên mẫu so sánh ký hiệu M3 (chữ ký, chữ viết của bác sỹ Trần Xuân T5) không phải do cùng một người ký ra.

Chữ ký mang tên Thượng tá BS Lê Văn M1 dưới mục “Người kết luận” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ ký mang tên Lê Văn M1 trên mẫu so sánh ký hiệu M4 (chữ ký, chữ viết của ông Lê Văn M1) không phải do cùng một người ký ra.

Chữ ký mang tên BSCKI Nguyễn Quang C trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ ký mang tên Nguyễn Quang C trên mẫu so sánh ký hiệu M5 (chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Quang C) không phải do cùng một người ký ra.

Phần nội dung chữ viết, chữ ký, chữ viết dưới chữ ký tại trang 1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ viết, chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M9 (chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị T1), M10 (bản tự khai của Nguyễn Thị T1) do cùng một người viết và ký ra.

Phần nội dung chữ viết, chữ ký, chữ viết dưới chữ ký tại trang 1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 so với chữ viết, chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M7 (chữ ký, chữ viết của Lê Phương M), M11 (bản tự khai của Lê Phương M) do cùng một người viết và ký ra.

Phần nội dung chữ viết, chữ ký, chữ viết dưới chữ ký tại trang 1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ viết, chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M6 (chữ ký, chữ viết của Mông Kiều T4), M8 (chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị N1), M12 (bản tự khai của Nguyễn Thị N1) không phải do cùng một người viết và ký ra.

Vật chứng của vụ án: 03 giấy khám sức khỏe giả, được lưu theo hồ sơ vụ án; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 của T1, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs max của Vân A2, hiện không thu hồi được.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSPY ngày 06/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Vân A2, Lê Phương M về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Vân A2; theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự đối với Lê Phương M.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng đã bị thu giữ.

Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Vân A2, Lê Phương M phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Vân A2 từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 341; điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Lê Phương M từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà và trong quá trình điều tra là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào tháng 02/2023, tại khu vực thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Thị T1 liên hệ với Nguyễn Vân A2 để nhờ Vân A2 mua hộ 03 giấy khám sức khỏe giả mục đích để T1 hoàn thiện hồ sơ cho Lê Phương M, chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1. T1 đã cung cấp ảnh chụp ảnh thẻ của 03 người trên cho Vân A2 để Vân A2 cung cấp cho 01 người trên mạng xã hội facebook để người này làm 03 giấy khám sức khỏe giả. Vân A2 là người trực tiếp trả 450.000 đồng và nhận 03 giấy khám sức khỏe giả từ 01 người nam giới (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Đến ngày 18/02/2023, Vân A2 giao 03 giấy khám sức khỏe giả trên cho T1 và nhận của T1 450.000 đồng. Nhận được 03 giấy khám sức khỏe trên, T1 gọi Lê Phương M, chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1 đến để tự điền thông tin cá nhân vào giấy khám sức khỏe giả. Tuy nhiên, chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1 bận không đến nên T1 đã điền thông tin cá nhân, ký tên vào giấy khám sức khỏe cho chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1. Lê Phương M không được đi khám, nhưng vẫn tự mình điền thông tin cá nhân vào giấy khám sức khỏe có kết quả sẵn do T1 đưa cho. Đến ngày 22/02/2023, T1 mang 03 giấy khám sức khỏe trên đến UBND phường B, thành phố P để chứng thực thì cán bộ UBND phường B phát hiện, báo Công an phường B, thành phố P giải quyết.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, làm cản trở hoạt động đúng đắn của Cơ quan nhà nước, gây ảnh hưởng đến uy tín và làm giảm hiệu lực quản lý hành chính của cơ quan nhà nước. Các bị cáo Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Vân A2 phạm tội với số lượng là 03 tài liệu, giấy tờ, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Phương M phạm tội với số lượng là 01 tài liệu nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng số 40/CT-VKSPY ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan.

“Điều 341. Tội làm giả ... tài liệu của cơ quan, tổ chức ... 1. Người nào làm giả ... tài liệu ... của cơ quan, tổ chức ... thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: ...

c) Làm từ 02 đến 05 ... tài liệu ...”.

[3] Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều là người lao động thuần tuý, chưa có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử nhận định, các bị cáo đều là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Lê Phương M có bố đẻ là ông Lê Anh T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huân chương chiến công hạng nhì, ba; Huân chương kháng chiến hạng ba; mẹ là Trịnh Thị N được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo Nguyễn Thị T1 có ông ngoại là Nguyễn Ngọc T6 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, bị cáo Nguyễn Vân A2 có ông ngoại là Nguyễn Hữu Đ1 được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba và bà ngoại là Nguyễn Thị T7 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba. Do đó, các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Lê Phương M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đang mang thai ở tuần thứ 37 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự để thể hiện tính răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, nguyên nhân phạm tội xuất phát từ sự thiếu hiểu biết pháp luật, phạm tội không có mục đích trục lợi, sau khi bị phát hiện các bị cáo đều nhận thức được sai lầm, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và có ý thức tự giác phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng để vụ án được làm sáng tỏ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam, cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy các bị cáo phạm tội không có mục đích trục lợi nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định.

[7] Đối với chị Hoàng Thị Y là người chỉ đạo T1 hỗ trợ 03 cô giáo làm giấy khám sức khỏe; chị Phạm Thị H1 là người giới thiệu T1 với Vân A2 để làm giấy khám sức khỏe; chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1 là người cung cấp ảnh cho T1 để làm giấy khám sức khỏe. Tuy nhiên, những người này không biết T1 và Vân A2 mua giấy khám sức khỏe giả. Mặt khác, chị Mông Kiều T4 và chị Nguyễn Thị N1 chưa nhận được giấy khám sức khỏe, không tham gia điền thông tin của mình vào giấy khám sức khỏe nên hành vi của những người này không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra không xử lý đối với những người này là phù hợp.

Đối với người sử dụng tài khoản facebook nhận làm giấy khám sức khỏe giả cho Vân A2 và 01 người nam giới giao giấy khám sức khỏe giả và nhận tiền từ Vân A2, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 341; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Vân A2;

Căn cứ khoản 1 Điều 341; Điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Phương M;

Căn cứ Điều 136, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố:

1. Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Vân A2 và Lê Phương M phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: 2.1. Về hình phạt chính:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Vân A2 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Lê Phương M 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị T1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Vân A2 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Lê Phương M cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Vân A2, Lê Phương M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

71
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức số 47/2024/HS-ST

Số hiệu:47/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Phổ Yên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về