TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 215/2023/HS-ST NGÀY 30/11/2023 VỀ TỘI LÀM GIẢ TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
Trong ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 181/2023/TLST-HS ngày 16/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2023/QĐXXST-HS ngày 27/10/2023; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 01/TB-TA ngày 08/11/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 71/2023/QĐ-HS của Toà án nhân dân huyện Việt Yên đối với bị cáo:
1. Họ và tênđình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị Thúy L1, sinh năm 19xx: Tạ Văn L, sinh năm 1987; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Tạ Văn Đ, sinh năm 1964. Con bà: Đỗ Thị C, sinh năm 1966. Gia 90. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vương Thị M, sinh năm 1999; Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: không có; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: bản C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Vương Văn T, sinh năm 1979. Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Chồng: Trần Văn H, sinh năm 1997 (đã ly hôn năm 2022). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị khởi tố, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Trần Văn H, sinh năm 1997; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Trần Văn P, sinh năm 1970. Con bà: Phạm Thị T2, sinh năm 1974. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Vương Thị M, sinh năm 1999 (đã ly hôn năm 2022). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020.Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị khởi tố, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1990; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1967. Con bà: Nguy Thị L2, sinh năm 1971. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị khởi tố, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Đỗ Văn T3, sinh năm: 1992; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Đỗ Văn C1, sinh năm 1963. Con bà: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1969. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Vũ Thị P1, sinh năm 1995. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị khởi tố, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Phạm Văn M1, sinh năm 1996; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12. Con ông: Phạm Văn M2, sinh năm 1969. Con bà: Lê Thị L3, sinh năm 1972. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị Hà M3, sinh năm 2001. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH C2. (vắng mặt) Địa chỉ: Khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang
- Công ty TNHH G. (vắng mặt) Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
- Công ty TNHH N. (vắng mặt) Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang
- Công ty TNHH H4. (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt) Địa chỉ: Khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang
- UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Do ông Phí Quang T4 chủ tịch UBND xã làm đại diện. (vắng mặt)
- UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Do ông Nguyễn Thế T5 chủ tịch UBND xã làm đại diện. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác nắm tình hình, Phòng An ninh chính trị nội bộ Công an tỉnh B phát hiện Tạ Văn L, sinh năm 1987, ở thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn B1 - Khu công nghiệp V, huyện V có hành vi làm giả Bằng tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng, Đại học và bảng điểm kết quả học tập cùng bản sao các giấy tờ trên của nhiều trường khác nhau rồi bán cho nhiều người để hưởng lợi, trong đó có: Vương Thị M, sinh năm 1999, trú tại Bản C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Trần Văn H, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Phạm Văn M1, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Đỗ Văn T3, sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi mua được các giấy tờ giả nêu trên, các đối tượng đã nộp vào các Công ty tại các khu công nghiệp ở huyện V để hợp thức hóa hồ sơ xin việc làm. Ngày 02/02/2023, Phòng An ninh chính trị nội bộ Công an tỉnh B đã bàn giao hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V để điều tra theo thẩm quyền.
Trên cơ sở làm việc với các đối tượng, từ ngày 03/11/2022 đến ngày 13/02/2023, Phòng An ninh chính trị nội bộ Công an tỉnh B và Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã thu giữ:
Thu của Trần Văn H: 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử, số hiệu B386xxxx mang tên Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Trần Văn H vào ngày 15/7/2019 (ký hiệu giám định A1); 01 bảng kết quả học tập mang tên Trường Đại học C3, có chữ ký mang tên Phó trưởng phòng Đào tạo- TS.Vũ Ngọc K, đóng dấu tròn mang tên Trường Đại học C3 cấp cho Trần Văn H vào ngày 15/7/2019 (ký hiệu giám định A2); 03 bản sao Bằng tốt nghiệp Cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử mang tên Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Trần Văn H vào ngày 15/7/2019 đều có dấu chứng thực bản sao đúng với bản chính, con dấu và chữ ký Phó Trưởng phòng Tư pháp quận C, thành phố Hà Nội. (ký hiệu giám định A3, A4, A5).
Thu của Phạm Văn M1: 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử, số hiệu B386566 mang tên Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Phạm Văn M1 vào ngày 15/7/2018 (ký hiệu giám định A6); 01 bảng kết quả học tập mang tên Trường Đại học C3, có chữ ký mang tên Phó trưởng phòng Đào tạo- TS.Vũ Ngọc K, đóng dấu tròn mang tên Trường Đại học C3 cấp cho Phạm Văn M1 vào ngày 15/7/2018 (ký hiệu giám định A7).
Thu của Đỗ Văn T3: 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử, số hiệu B035871 mang tên Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Đỗ Văn T3 ngày 22/8/2018. (ký hiệu giám định A8); 01 bảng điểm kết quả học tập mang tên Trường Đại học C3, có chữ ký mang tên Phó trưởng phòng Đào tạo-TS. Kiều Xuân T6, đóng dấu tròn mang tên Trường Đại học C3 cấp cho Đỗ Văn T3 vào ngày 17/9/2018 (ký hiệu giám định A9); 03 bản sao Bằng tốt nghiệp Cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử mang tên Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Đỗ Văn T3 vào ngày 22/10/2018 đều có dấu chứng thực bản sao đúng với bản chính, con dấu tròn “U.B.N.D PHƯỜNG TRUNG TỰ” ký tên Lê Văn X (ký hiệu giám định A10, A11, A12). Đồng thời, T3 tự giao nộp: các hình ảnh (chụp ảnh tài khoản Zalo của T3) có nội dung tin nhắn T3 và Trần Văn H trao đổi liên quan đến hành vi làm giả Bằng tốt nghiệp Cao đẳng của T3 và tin nhắn T3 và L trao đổi việc đặt làm Bằng giả; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, số IMEI: 355432079260952.
Thu tại Công ty TNHH G - KCN V, huyện V, tỉnh Bắc Giang: 01 bản sao Bằng tốt nghiệp cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử mang tên Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Đỗ Văn T3 vào ngày 22/10/2018, có đóng dấu chứng thực bản sao đúng với bản chính, dấu tròn mang tên “U.B.N.D XÃ TÂN LIÊU H. YÊN DŨNG T. BẮC GIANG” có chữ ký mang tên Nguyễn Văn M4 - Phó Chủ tịch (ký hiệu giám định A13).
T2 tại Công ty TNHH C4 ở Khu công nghiệp V: 01 bản sao Bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp mang trường Cao đẳng C3 cấp cho Vương Thị M vào ngày 19/7/2019, chữ ký Hiệu trưởng mang tên TS. Nguyễn Xuân S, có đóng dấu chứng thực bản sao đúng với bản chính, con dấu của Văn phòng C5- Công Chứng viên - Nguyễn Phi P2 (ký hiệu giám định A14). (Bút lục 221); 01 bản sao Chứng chỉ đào tạo vận hành xe nâng mang tên Trường C3- Hiệu trưởng: Ths.Phan Văn S1 cấp cho Nguyễn Văn Q ngày 15/8/2019 có đóng dấu chứng thực bản sao đúng với bản chính và dấu tròn mang tên “U.B.N.D XÃ TƯ MẠI H.YÊN DŨNG T.BẮC GIANG”, ký tên Chủ tịch Nguyễn Thế T5 (ký hiệu giám định A17).
T2 tại Công ty TNHH N ở Khu công nghiệp V: 01 bản sao Bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp mang Trường Cao đẳng C3 cấp cho Vương Thị M vào ngày 19/7/2019, chữ ký Hiệu trưởng mang tên TS. Nguyễn Xuân S, có đóng dấu chứng thực bản sao đúng với bản chính, con dấu của Văn phòng C5- Công Chứng viên - Nguyễn Phi P2 (ký hiệu giám định A15); 01 bản sao Bằng kỹ sư công nghệ kỹ thuật điện, điện tử mang tên trường C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Nguyễn Văn Q vào ngày 08/7/2013, đóng dấu chứng thực đúng với bản chính, dấu tròn mang tên Văn phòng công chứng A9 quận C, thành phố Hà Nội (ký hiệu giám định A16).
T2 tại Công ty H4 ở Khu công nghiệp V: 01 bản phô tô bản sao Bằng tốt nghiệp cao đẳng công nghệ kỹ thuật điện, điện tử mang Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Phạm Văn M1 vào ngày 15/7/2018. (BL690) Ngày 24/02/2023, Tạ Văn L đến Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp 01 điện thoại di động Redmi Note 11.
Trong ngày 10/5/2023, 12/5/2023, 15/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V tiến hành khám xét nơi ở của L, M, H, M1, Q, T3 nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Vào các ngày 04/10/2022,18/02/2023, Phòng An ninh Chính trị nội bộ Công an tỉnh B, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh B tiến hành Kiểm tra điện thoại di động thu giữ của T3 thu giữ được hình ảnh tin nhắn tài khoản Facebook của T3 với L liên quan đến mua, bán giấy tờ giả; điện thoại của L không thu giữ được tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ, kiểm tra tài khoản ngân hàng các bị cáo khai sử dụng thanh toán tiền mua bán giấy tờ giả phát hiện: số tài khoản 1013649xxxx của Vương Thị M mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (V)- Chi nhánh B2; số tài khoản 001100401xxxx của Tạ Văn L mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (V)- Chi nhánh B2; số tài khoản 1903322274xxxx của Trần Văn H, số tài khoản 1903401316xxxx của Phạm Văn M1, số tài khoản 1902927250xxxx của Đỗ Văn T3 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (T8)- Chi nhánh B2 có thông tin giao dịch chuyển tiền cho nhau liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Bản kết luận giám định số 571/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Phòng K2- Công an tỉnh B kết luận:
1. Phôi "Bằng tốt nghiệp cao đẳng" các số B386xxxx, B386566, B035871, gửi giám định (ký hiệu A1, A6, A8); hình dấu tròn có nội dung "Trường Đại học C3" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A8, A9) được làm bằng phương pháp in phun màu.
Hình dấu tròn có nội dung "Trường Đại học C3" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A6, A7) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M3) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Phòng K2 không giám định hình dấu tròn có nội dung "Trường C3" và chữ ký mang tên Phan Văn S1 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A17) do là tài liệu photocopy.
2. Hình dấu tròn có nội dung "Phòng tư pháp" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A3, A4, A5) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M5) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Hình dấu tròn có nội dung "U.B.N.D phường T - Q. Đống Đa TP. H" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A10, A11, A12) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M6) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Hình dấu tròn có nội dung "U.B.N.D xã T" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A13) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M8, M9) là do cùng một con dấu đóng ra.
Hình dấu tròn có nội dung "Văn phòng công chứng Hà Nội" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A14, A15) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M10) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Hình dấu tròn có nội dung "Văn phòng công chứng A9" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A16) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M12) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Hình dấu tròn có nội dung "U.B.N.D xã T" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A17) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M13) là do cùng một con dấu đóng ra.
3. Hình dấu chức danh có nội dung "Phạm Thị Q2" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A3, A4, A5) so với hình dấu chức danh có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M4) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Hình dấu chức danh có nội dung "Phó Chủ tịch - Nguyễn Văn M4" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A13) so với hình dấu có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M9) là do cùng một con dấu đóng ra.
Hình dấu chức danh có nội dung "Công chứng viên - Đoàn Thị L4" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A16) so với hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M11) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Hình dấu chức danh có nội dung "UBND xã T - Chủ tịch - Nguyễn Thế T5" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A17) so với hình dấu có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu (M13, M14) là do cùng một con dấu đóng ra.
4. Chữ ký mang tên Trần Đức Q1 dưới mục "Hiệu trưởng" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A6, A8) so với chữ ký của Trần Đức Q1 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M1) là không phải do cùng một người ký ra.
5. Chữ ký mang tên Kiều Xuân T6 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A9) so với chữ ký của Kiều Xuân T6 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M2) là không phải do cùng một người ký ra.
6. Phòng K2 không kết luận giám định chữ ký mang tên “Phạm Thị Q2” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A3, A4, A5) so với chữ ký của “Phạm Thị Q2” trên tài liệu mẫu (ký hiệu M4) do chữ ký cần giám định và chữ ký mẫu so sánh khác dạng nhau.
7. Chữ ký mang tên Nguyễn Văn M4 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A13) so với chữ ký của Nguyễn Văn M4 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8, M9) là do cùng một người ký ra.
8. Phòng K2 không kết luận giám định chữ ký mang tên Đoàn Thị L4 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A16) so với chữ ký của Đoàn Thị L4 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M11, M12) do chữ ký cần giám định và chữ ký mẫu so sánh khác dạng nhau.
9. Chữ ký mang tên Nguyễn Thế T5 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A17) so với chữ ký của Nguyễn Thế T5 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M13, M14) là do cùng một người ký ra.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Trường Đại học C3 và Trường C3 xác định được: cả hai trường chưa bao giờ cấp Bằng tốt nghiệp các loại và Chứng chỉ lái xe nâng như nêu trên cho Phạm Văn M1, Trần Văn H, Đỗ Văn T3, Nguyễn Văn Q, Vương Thị M.
Quá trình điều tra đã xác định hành vi làm giả rồi đem bán và sử dụng giấy tờ giả của các bị cáo và người liên quan cụ thể: Khoảng tháng 02/2020, L làm công nhân ở Khu công nghiệp H, thấy nhiều người có nhu cầu làm bằng tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng và Đại học giả để sử dụng hợp thức hóa hồ sơ xin việc nên L đã nảy sinh ý định nhận làm Bằng giả cùng giấy tờ kèm theo rồi bán lại cho người có nhu cầu. L sử dụng tài khoản facebook “Lợi BG” của L liên lạc với tài khoản facebook “Phạm H3” (L không biết tên và địa chỉ của người này) để thỏa thuận làm Bằng cấp, giấy tờ kèm theo. L và người có tài khoản facebook “Phạm H3” thỏa thuận giá làm Bằng trung cấp giả là 3.000.000 đồng, Bằng cao đẳng giả là 3.500.000 đồng, Bằng đại học giả là 4.500.000 đồng. Khi có ai đặt làm Bằng giả thì L sẽ lấy thông tin của người đặt làm giả gồm: ảnh chụp chứng minh thư nhân dân hoặc căn cước công dân, trường học, năm tốt nghiệp rồi chuyển qua messenger cho tài khoản facebook “Phạm H3” làm Bằng cấp giả. Sau khi làm xong Bằng cấp giả theo yêu cầu thì người có tài khoản facebook “Phạm H3” gửi cho L theo hình thức ship cod, L nhận giấy tờ giả rồi thanh toán tiền cho nhân viên chuyển phát, sau đó mang giao cho khách đặt mua.
*Hành vi của L và Vương Thị M: M làm công nhân cùng Tạ Văn L tại Công ty TNHH B1, huyện V, tỉnh Bắc Giang. L biết M nói được tiếng Trung Quốc nên bảo M nếu có thêm Bằng cấp xin việc sẽ thuận lợi, lương cao hơn và L làm được Bằng cấp giả, nếu muốn làm thì chỉ cần cung cấp ảnh chứng minh nhân dân, ngành nghề, trường và năm tốt nghiệp, khoảng 02 đến 03 ngày sẽ làm xong. Khoảng cuối tháng 02/2020, M nảy sinh ý định mua Bằng tốt nghiệp giả ” (có nghĩa để xin việc vào Công ty khác. M đã sử dụng tài khoản zalo có tên “ là “Quá khứ”) đăng ký bằng số điện thoại 097479xxxx của M nhắn tin, gọi điện đến tài khoản zalo “Lợi Bg” của L đặt mua 01 Bằng tốt nghiệp trung cấp ngành nghề quản trị kinh doanh thì L đồng ý, cả hai thỏa thuận giá mua bán Bằng tốt nghiệp giả là 3.500.000 đồng. Sau đó, L cung cấp thông tin làm Bằng, thông tin cá nhân của M cho tài khoản facebook “Phạm H3” để làm Bằng giả theo yêu cầu của M. Khoảng vài ngày sau, L được tài khoản “Phạm H3” gửi cho L theo hình thức ship cod: 01 Bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp số hiệu 377585, ngành nghề quản trị kinh doanh; 01 bảng điểm; 03 bản sao Bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp, ngành nghề quản trị kinh doanh đều mang tên Trường Cao đẳng C3 cấp cho Vương Thị M, có dấu chứng thực Văn phòng C5. L nhận các giấy tờ giả trên, trả tiền cho người giao hàng rồi mang đến cổng Công ty B1 giao toàn bộ cho M. M nhận các giấy tờ giả trên rồi trả cho L 3.500.000 đồng. Sau đó, M sử dụng 02 bản sao Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, ngành nghề quản trị kinh doanh mang tên Trường Cao đẳng C3 cấp cho Vương Thị M, có dấu chứng thực Văn phòng C5 đưa vào hồ sơ xin việc nộp tại Công ty TNHH C2 và Công ty TNHH N tại KCN V, huyện V, tỉnh Bắc Giang (mỗi Công ty nộp 01 bản), các giấy tờ Bằng cấp giả còn lại, M không sử dụng nên đã làm mất, không biết mất ở đâu khi nào.
Ngày 03/11/2022, Phòng An ninh chính trị nội bộ Công an tỉnh B đã thu giữ tại Công ty TNHH N và Công ty TNHH C2 02 bản sao Bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp ngành nghề quản trị kinh doanh mang tên Trường Cao đẳng C3 cấp cho Vương Thị M.
Quá trình điều tra, L, M còn khai nhận: Ngày 16/02/2022, M tiếp tục đặt mua của L Bằng tốt nghiệp đại học của Trường Đại học C3 với giá 5.500.000 đồng. M sử dụng tài khoản Ngân hàng số 1013649xxxx của M mở tại ngân hàng V chuyển trước 3.000.000 đồng đến số tài khoản 001100401xxxx ngân hàng V của L. Ngày 18/02/2022, L liên lạc với M nói đã làm xong Bằng hẹn giao Bằng trước cổng Công ty TNHH C2. Tại đây, L đưa cho M một bìa hồ sơ xin việc bên trong có 01 Bằng tốt nghiệp Đại học, 01 bảng điểm, 01 bản sao Bằng tốt nghiệp đại học, 01 bản sao bảng điểm đều là giả mang tên Vương Thị M của trường Đại học C3; nhận giấy tờ giả xong, M chuyển khoản số tiền 1.500.000 đồng từ số tài khoản của M đến số tài khoản của L và đưa 1.000.000 đồng tiền mặt cho L. Sau khi nhận được Bằng tốt nghiệp đại học cùng giấy tờ kèm theo, M chưa sử dụng nên đã làm mất, không biết mất ở đâu khi nào.
* Hành vi của L và M, Trần Văn H, Phạm Văn M1: Tháng 6/2022, do làm công nhân ở Công ty TNHH Y ở Khu công nghiệp S - N, huyện Y tiền lương thấp, Trần Văn H nghe được thông tin nếu có Bằng cao đẳng hoặc đại học đi xin việc sẽ được hưởng tiền lương cao hơn. H bảo vợ là Vương Thị M về việc H muốn mua Bằng tốt nghiệp giả thì M nói cho H biết việc Tạ Văn L là người làm cùng Công ty với M có làm Bằng cấp giả bán cho người có nhu cầu. Sau đó, H nói lại việc L làm được Bằng cấp giả cho Phạm Văn M1 là bạn làm cùng Công ty với H rồi cả hai rủ nhau cùng đặt mua Bằng cấp giả của L. Ngày 15/6/2022, H sử dụng ứng dụng Messenger facebook “Hơn Tiên Sinh” gửi ảnh chứng minh nhân dân của H và M1 (do M1 chuyển cho H trước đó) qua ứng dụng Messenger facebook “Hồn Tiên Sinh” của H đến tài khoản Messenger facebook “王梅 (An Nhiên)” (có nghĩa tiếng Việt là “Vương Mười”) của M nhờ M đặt mua Bằng cao đẳng ngành Kỹ thuật điện, điện tử. Sau đó, M chuyển các thông tin cá nhân của M1, H cho L qua tài khoản facebook của L để mua Bằng cao đẳng ngành Kỹ thuật điện, điện tử giả cho H, M1 với giá 3.500.000 đồng/01 Bằng. H đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản 1903322274xxxx ngân hàng T8 của H, M1 cũng dùng số tài khoản 1903401316xxxx ngân hàng T8 của M1 chuyển số tiền 2.000.000 đồng đến tài khoản số 001100401xxxx của L mở tại ngân hàng V để đặt cọc mua Bằng giả do M nhắn cho số tài khoản Ngân hàng của L. L chuyển thông tin của H, M1 cho người có tài khoản facebook “Phạm H3” để làm Bằng cấp giả như yêu cầu của H, M1. Khoảng vài ngày sau L nhận được: 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử, số hiệu B386xxxx mang tên Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Trần Văn H vào ngày 15/7/2019, 01 bảng điểm, 03 bản sao chứng thực Bằng tốt nghiệp Cao đẳng do Phòng tư pháp quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội thực hiện đều là giả mang tên Trần Văn H; 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử, số hiệu B386566 mang tên Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Phạm Văn M1 vào ngày 15/7/2018; 01 bảng điểm, 02 bản sao chứng thực Bằng tốt nghiệp Cao đẳng nêu trên.
Ngày 20/6/2022, L đưa lại B, giấy tờ kèm theo Bằng giả của M1 cho Nguyễn Văn T7, sinh năm 1996 là người cùng thôn với M1 và làm cùng Công ty với L cầm hộ đem về cho M1 (L, M1 không nói cho anh T7 biết đó là giấy tờ giả); đồng thời L đi xe ôm của người đàn ông không quen biết đến cổng Công ty TNHH Y1 vina Khu công nghiệp S - Nội Hoàng đưa lại Bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng giấy tờ khác kèm theo Bằng nêu trên đưa cho H. Sau đó, H chuyển khoản số tiền 2.500.000 đồng còn lại vào tài khoản trên của L. Cùng ngày 20/6/2022, anh T7 đã đưa lại cho M1 túi nilon bên trong đựng Bằng giả cùng giấy tờ liên quan nêu trên cho M1 và M1 cũng chuyển khoản trả L số tiền còn lại.
Sau khi mua được Bằng cấp cùng tài liệu giả kèm theo, H cất giấu ở nhà, chưa sử dụng vào việc gì, rồi đem giao nộp cho Cơ quan điều tra. M1 đem phô tô 01 bản sao chứng thực Bằng tốt nghiệp cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử, số hiệu B386566 mang tên Trường Đại học C3 cấp cho Phạm Văn M1 vào ngày 15/7/2018 rồi nộp vào Công ty H4 ở Khu công nghiệp V để hợp thức hóa hồ sơ xin việc, hai bản sao có chứng thực Bằng tốt nghiệp M1 đã làm mất; còn Bằng tốt nghiệp, bảng điểm M1 giao nộp cho Cơ quan điều tra, đồng thời cơ quan điều tra đã thu giữ được tại Công ty H4 bản phô tô Bằng tốt nghiệp giả nêu trên.
* Hành vi của L với M, H, T3: Sau khi mua được Bằng giả, H nói cho bạn cùng làm là Đỗ Văn T3 biết việc H mua Bằng cao đẳng giả hết 5.500.000 đồng từ L. Tháng 7/2022, T3 bảo H cho T3 số điện thoại của L để T3 đặt mua Bằng cao đẳng giả, thì H điện thoại cho M để xin số điện thoại của L đồng thời nhờ M nói với L nếu T3 hỏi đặt mua Bằng cao đẳng giả thì nói với T3 giá 5.500.000 đồng để H lấy tiền chênh lệch. M gọi điện cho L thông báo lại toàn bộ nội dung như H bảo về giá làm Bằng giả thì L đồng ý. Sau đó, M cho H số điện thoại của L thì H sử dụng ứng dụng facebook tên “Hồn Tiên S” nhắn tin qua ứng dụng messenger cho tài khoản messenger “Đỗ T” của T3 số điện thoại của L để liên hệ mua Bằng cấp giả. T3 gọi điện thoại cho L đặt mua Bằng tốt nghiệp cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và nhắn thông tin cá nhân cho L vào tài khoản zalo “Lợi Bg”, và L thông báo giá tiền là 5.500.000 đồng như M nói, đặt cọc trước 50% số tiền mua Bằng vào số tài khoản 001100401xxxx ngân hàng V của Tạ Văn L. Ngày 13/7/2022, T3 đã chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng từ tài khoản 1902927250xxxx ngân hàng T8 của T3 vào tài khoản ngân hàng nêu trên của L để đặt cọc mua Bằng. Nhận được tiền, L chuyển thông tin làm Bằng giả của T3 cho người có tài khoản facebook “Phạm H3” để làm Bằng giả như yêu cầu của T3. Ngày 15/7/2022, L nhận được 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử, số hiệu B035871 mang tên Trường Đại học C3- Hiệu trưởng: PGS.TS Trần Đức Q1 cấp cho Đỗ Văn T3 cùng 01 bảng điểm kết quả học tập; 03 bản sao Bằng tốt nghiệp Cao đẳng Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử kèm theo Bằng tốt nghiệp nêu trên có dấu chứng thực bản sao đúng với bản chính, con dấu tròn “U.B.N.D PHƯỜNG TRUNG TỰ” từ người chuyển phát bưu kiện do tài khoản facebook “Phạm H3” chuyển đến. Khoảng 14 giờ ngày 16/7/2022, L đi xe mô tô mượn của người không nhớ tên đến Cầu B, huyện Y giao lại toàn bộ Bằng tốt nghiệp giả cùng các giấy tờ kèm theo nêu trên cho T3. Nhận giấy tờ giả nêu trên xong, T3 dùng tài khoản ngân hàng chuyển trả nốt số tiền 3.500.000 đồng vào tài khoản nêu trên của L. Tuy nhiên, sau khi nhận các giấy tờ giả trên, T3 không sử dụng bản sao Bằng tốt nghiệp cao đẳng giả để đi xin việc, ngày 18/7/2022, T3 đã phô tô bản gốc Bằng tốt nghiệp Cao đẳng giả trên thành 01 bản và mang đến UBND xã T, huyện Y để chứng thực bản sao đúng với bản chính rồi nộp bản sao chứng thực này vào hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH G - KCN V, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Về phía Tạ Văn L, sau khi nhận số tiền 5.500.000 đồng T3 trả tiền làm Bằng giả, L chuyển khoản số tiền 500.000 đồng vào tài khoản của M, M biết đây là số tiền từ việc làm bằng giả cho T3 nên M chuyển khoản trả H. Số tiền này H đã chi tiêu cá nhân hết.
*Hành vi của L với Nguyễn Văn Q: Tháng 6/2022, do quen biết và làm cùng với Tạ Văn L tại Công ty B1, Q nhờ L làm giả Bằng tốt nghiệp đại học của trường Đại học C3 để đi xin việc tại Công ty khác để hưởng lương cao hơn. L bảo Q giá làm Bằng giả là 4.500.000 đồng, Q đồng ý rồi dùng tài khoản zalo “阮文光” (có nghĩa tiếng Việt là Nguyễn Văn Q) của Q chuyển thông tin cá nhân đến tài khoản zalo “Lợi Bg” của L để làm Bằng cấp giả. Tiếp đó, L chuyển toàn bộ thông tin muốn làm Bằng cấp giả của Q cho người có tài khoản facebook “Phạm H3” để làm giấy tờ giả như Q yêu cầu. Sau đó, L được người có tài khoản facebook “Phạm H3” chuyển cho: 01 bản sao Bằng kỹ sư công nghệ kỹ thuật điện, điện tử mang tên trường C3 cấp cho Nguyễn Văn Q vào ngày 08/7/2013, 01 bảng điểm, 03 bản sao Bằng kỹ sư công nghệ kỹ thuật điện, điện tử mang tên trường C3 có dấu Văn phòng công chứng A9 quận C, thành phố Hà Nội đều là giấy tờ giả. Nhận được các giấy tờ Bằng cấp giả nêu trên, L đi bộ đến cổng Công ty B1 đưa lại toàn bộ cho Q thì Q trả 4.500.000 đồng tiền mặt cho L. Sau khi có văn bằng giả nêu trên, Q nộp 01 bản sao chứng thực Bằng kỹ sư công nghệ kỹ thuật điện, điện tử mang tên trường C3 vào Công ty TNHH N ở Khu công nghiệp V để hợp thức hóa hồ sơ xin việc, còn Bằng kỹ sư, 01 bảng điểm, 02 bản sao Bằng kỹ sư còn lại Q đã làm mất, không biết mất ở đâu. Cơ quan điều tra đã thu giữ được tại Công ty TNHH N 01 bản sao Bằng kỹ sư nêu trên do Q nộp trước đó.
Ngoài ra, khoảng tháng 9/2020 khi Q đang làm công nhân tại Công ty TNHH B khu công nghiệp V, Q đặt mua của một người đàn ông mới quen chỉ biết tên D (còn họ tên, địa chỉ cụ thể không nhớ) làm nghề lái xe tải chở hàng cho các Công ty ở Khu công nghiệp V 01 Chứng chỉ lái xe nâng của trường C3 với giá 1.700.000 đồng. Khoảng mấy ngày sau khi đặt làm giả, Q đi đến cổng Công ty không nhớ tên ở Khu công nghiệp V gặp D thì D đưa cho Q 01 Chứng chỉ đào tạo vận hành xe nâng mang tên trường C3. Nhận giấy tờ giả xong, Q trả D 1.700.000 đồng tiền mặt. Sau đó, Q mang Chứng chỉ đào tạo vận hành xe nâng trên đi photo 02 bản rồi đem đến UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang xuất trình bản gốc để UBND xã T, huyện Y chứng thực bản sao đúng với bản chính. Đến tháng 3/2021, Q xin việc và được nhận vào làm tại Công ty TNHH C2, sau khi vào làm việc thì Q nộp 01 bản sao Chứng chỉ lái xe nâng đã chứng thực trên vào hồ sơ xin việc tại Công ty, còn 01 bản sao chứng chỉ lái xe nâng Q đã làm mất không nhớ mất khi nào. Cơ quan điều tra đã thu giữ được tại Công ty TNHH C2 01 bản sao Chứng chỉ lái xe nâng Q nộp trước đó.
Đối với đối tượng có tài khoản facebook “Phạm H3” làm giấy tờ giả cho L và người có tên D làm giấy tờ giả cho Q, do các bị cáo không biết là ai, họ tên, địa chỉ đầy đủ ở đâu nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra và đề nghị xử lý sau.
Anh Nguyễn Văn T7 là người Phạm Văn M1 nhờ nhận tài liệu giả do L giao cho M1 nhưng M1, L không nói cho biết và anh T7 không biết đó là giấy tờ giả nên anh T7 không vi phạm pháp luật.
Đối với UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện việc chứng thực bản sao đúng với bản chính của các giấy tờ giả mà Q mang đến; UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện việc chứng thực bản sao đúng với bản chính vào tài liệu giả mà T3 mang đến. Tuy nhiên, UBND xã T, UBND xã T xác định khi thực hiện chứng thực, không biết các giấy tờ đem chứng thực là giả nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hành vi của người chứng thực.
Đối với vật chứng là giấy tờ giả thu giữ của các bị cáo và thu giữ tại các Công ty, Cơ quan điều tra lưu trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật.
01 chiếc điện thoại Redmi Note 11, bên trong lắp sim thuê bao số 0369.xxx.334 và 0913.274xxx do Tạ Văn L tự nguyện giao nộp khi đầu thú là tài sản của bị cáo L không sử dụng vào việc phạm tội và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s, bên trong lắp sim thuê bao số 0983.009.xxx do Đỗ Văn T3 tự nguyện giao nộp là tài sản của bị cáo T3 sử dụng vào việc phạm tội, các tin nhắn liên quan đến hành vi phạm tội T3 đã xóa hết trước khi bị Công an thu giữ. Cơ quan điều tra đã tiến hành nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Điện thoại di động của M, H, L, Q, M1 sử dụng vào việc phạm tội, các bị cáo khai bị hỏng đã vứt đi, không nhớ vứt ở đâu; số tiền mua bán giấy tờ giả có được, L, H đã chi tiêu cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 170/CT-VKS ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố Tạ Văn L, Vương Thị M, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; Đỗ Văn T3 và Phạm Văn M1 về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
1. Áp dụng điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn L từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.
2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vương Thị M từ 03 năm 01 tháng đến 03 năm 04 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
3. Áp dụng điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
4. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
5. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T3 từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
6. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn M1 từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
7. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo L 01 chiếc điện thoại Redmi Note 11, bên trong lắp sim thuê bao số 0369.xxx.334 và 0913.274xxx nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s, bên trong lắp sim thuê bao số 0983.009.xxx của bị cáo T3 là công cụ liên lạc để đặt mua bằng tốt nghiệp giả.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền L và H có được do thu lời bất chính từ việc làm bằng giả. (xác định H và L đã nộp lại số tiền này tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên trước ngày xét xử vụ án).
8. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại vắng mặt không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3]. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Từ tháng 02/2020 đến tháng 7/2022, Tạ Văn L có hành vi đặt người khác làm giả tổng 28 giấy tờ giả khác nhau gồm Bằng tốt nghiệp trung cấp, Cao đẳng, Đại học, bảng điểm và các bản sao chứng thực Bằng giả của các trường khác nhau rồi đem bán cho người khác thu lợi được tổng 5.000.000 đồng, trong đó: Vương Thị M 09 giấy tờ giả gồm: 01 Bằng tốt nghiệp Trung cấp kèm theo 01 bảng điểm, 03 bản sao chứng thực Bằng tốt nghiệp mang tên Trường cao đẳng C3, 01 Bằng tốt nghiệp đại học kèm theo 01 bảng điểm, 01 bản sao chứng thực bảng điểm, 01 bản sao chứng thực Bằng đại học mang tên Đại học C3; Trần Văn H 05 giấy tờ giả gồm: 01 Bằng cao đẳng kèm theo 01 bảng điểm và 03 bản sao chứng thực Bằng cao đẳng mang tên Đại học C3; Phạm Văn M1 04 giấy tờ giả gồm: 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng kèm theo 01 bảng điểm và 02 bản sao chứng thực Bằng tốt nghiệp cao đẳng mang tên Đại học C3; Đỗ Văn T3 05 giấy tờ giả gồm: 01 Bằng tốt nghiệp cao đẳng kèm theo 01 bảng điểm và 03 bản sao chứng thực Bằng tốt nghiệp cao đẳng mang tên Đại học C3; Nguyễn Văn Q 06 giấy tờ giả gồm: 01 Bằng kỹ sư kèm theo 01 bảng điểm và 03 bản sao có chứng thực Bằng kỹ sư mang tên trường C3. Vương Thị M giúp sức cho L bán giấy tờ giả nêu trên cho H, M1, T3, đồng thời H cũng giúp L bán giấy tờ giả cho M1, T3. M không được L trả tiền gì, H được L trả 500.000 đồng từ việc giúp L bán giấy tờ giả.
Ngoài mua giấy tờ giả của L, Q còn mua của người không quen biết 01 Chứng chỉ đào tạo vận hành xe nâng giả của trường C3 rồi đem phô tô đi chứng thực thêm hai bản Chứng chỉ khác để sử dụng dần.
Hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố Tạ Văn L, Vương Thị M, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; Đỗ Văn T3 và Phạm Văn M1 về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của các tổ chức, cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ và còn gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
[5]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo Tạ Văn L đã đến Công an đầu thú khai nhận hành vi phạm tội, đã nộp lại tiền thu lời bất chính; bị cáo T3 có thời gian tham gia quân đội và đã hoàn thành nghĩa vụ, đóng góp tích cực trong việc ủng hộ người nghèo; Bị cáo M1 có thời gian tham gia quân đội và đã hoàn thành nghĩa vụ, đóng góp tích cực trong việc hiến máu nhân đạo; Bị cáo H đã nộp lại số tiền thu lời bất chính nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tạ Văn L có hành vi bán 09 tài liệu giả cho bị cáo H và M1 có sự giúp sức của bị cáo Vương Thị M, nên bị cáo L, M phải chịu tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[7]. Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo L là người có số lượng làm giả tài liệu nhiều nhất nên giữ vai trò chính và cao hơn bị cáo khác. Bị cáo M làm giả tài liệu cho mình 9 tài liệu và môi giới, giúp sức cho H làm giả 14 tài liệu nên giữ vai trò thứ hai. H làm giả cho mình 5 tài liệu và giúp làm giả cho M1 4 tài liệu giả, cho T3 5 tài liệu giả nên giữ vai trò thứ 3. Bị cáo Q làm giả 6 tài liệu nên giữ vai trò thứ 3. Bị cáo M1 và T3 làm giả tài liệu ít hơn các bị cáo khác nên giữ vai trò thứ 4. Cần xem xét vai trò của từng bị cáo khi lượng hình.
[7]. Về vật chứng:
01 chiếc điện thoại Redmi Note 11, bên trong lắp sim thuê bao số 0369.xxx.334 và 0913.274xxx do Tạ Văn L tự nguyện giao nộp khi đầu thú là tài sản của bị cáo L không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s, bên trong lắp sim thuê bao số 0983.009.xxx do Đỗ Văn T3 tự nguyện giao nộp là tài sản của bị cáo T3 sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Điện thoại di động của M, H, L, Q, M1 sử dụng vào việc phạm tội, các bị cáo khai bị hỏng đã vứt đi, không nhớ vứt ở đâu nên không có căn cứ xử lý. Số tiền mua bán giấy tờ giả có được, L, H đã chi tiêu cá nhân hết, số tiền này L và H đã nộp lại nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn L 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
2. Căn cứ điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vương Thị M 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
3. Căn cứ điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
4. Căn cứ điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
5. Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T3 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
6. Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn M1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
7. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Tạ Văn L 01 chiếc điện thoại Redmi Note 11, bên trong lắp sim thuê bao số 0369.xxx.334 và 0913.274xxx nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s, bên trong lắp sim thuê bao số 0983.009.xxx.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng) do L và H đã nộp theo biên lai số 0002186 ngày 02/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên và do H đã nộp theo biên lai số 0000220 ngày 08/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên.
8. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Tạ Văn L, Vương Thị M, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Đỗ Văn T3 và Phạm Văn M1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
9. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức số 215/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 215/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Việt Yên - Bắc Giang |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 30/11/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về