TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
BẢN ÁN 65/2024/HS-ST NGÀY 09/07/2024 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Quốc K, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1984, tại: phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi thường trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở hiện tại: Tổ F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh Đ và bà Bùi Thị S; có vợ Nguyễn Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Kim Q - Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V; địa chỉ: Đ Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc - Đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.
Bị hại: Anh Hoàng Xuân H, sinh năm 2001, trú tại: Tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu, “vắng mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Anh S1, sinh năm 1983, trú tại: TDP S, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
- Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 15/8/2023, do có nhu cầu thuê xe ô tô tự lái để phục vụ việc đi lại nên Lê Quốc K liên hệ thuê xe của anh Hoàng Xuân H làm dịch vụ cho thuê xe ô tô tại địa chỉ: xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Anh H thỏa thuận cho K thuê 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, BKS 90A-xxxxx với giá 1.000.000đ/ngày. K đồng ý và hẹn anh H đưa chiếc xe ô tô nêu trên đến phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để làm hợp đồng thuê xe và giao xe cho K. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, anh H điều khiển chiếc xe ô tô nêu trên đến quán C1, thuộc phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc gặp K. Tại đây, anh H và K đã ký 01 hợp đồng thuê xe ô tô nêu trên trong 03 ngày, kể từ ngày 15/8/2023 đến ngày 18/8/2023 với giá 1.000.000đ/ngày, tiền đặt cọc thuê xe là 21.500.000đ và thỏa thuận trong hợp đồng trách nhiệm của người thuê xe là: “Tuyệt đối không sử dụng xe cho các hành vi trái pháp luật như cầm cố, đua xe, chở hàng cấm, hàng lậu, cho người khác thuê lại...”.
Sau khi hợp đồng xong, K đã sử dụng tài khoản số 090266xxxx mở tại ngân hàng V của K, chuyển khoản đến số tài khoản 126688888xxxxx mở tại ngân hàng T3 của anh H 25.000.000đ. Trong đó: Tiền đặt cọc thuê xe là 21.500.000đ, phí thuê xe trong 03 ngày là 3.000.000đ, tiền công anh H tự lái xe từ Hà Nội đến giao cho K là 500.000đ. Anh H đã bàn giao chiếc xe ô tô BKS 90A - xxxxx cùng 01 bản phô tô công chứng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn phương tiện cơ giới đường bộ và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chiếc xe ô tô BKS: 90A - xxxxx nêu trên cho K.
Đến tối ngày 15/8/2023, K nhắn tin, gọi điện cho anh Nguyễn Anh S1 là bạn của K để hỏi vay số tiền 100.000.000đ để trả nợ. Ban đầu, anh S1 trả lời không cho K vay vì K không có tài sản đảm bảo. Lúc này, K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe ô tô BKS 90A - xxxxx đang thuê để sử dụng làm tài sản cầm cố cho anh S1 đảm bảo việc vay tiền. K bảo anh S1 là K có chiếc xe ô tô BKS 90A - xxxxx là tài sản của K, đề nghị anh S1 cho K vay 100.000.000đ trong 7 ngày và K để lại chiếc xe ô tô BKS: 90A - xxxxx cho anh S1. Nếu K không trả được nợ thì anh S1 toàn quyền sử dụng, định đoạt chiếc xe thì anh S1 đồng ý. Đến ngày 17/8/2023, K đã gọi điện cho anh H xin gia hạn thuê xe thêm 07 ngày (từ ngày 18/8/2023 đến ngày 25/8/2023) với số tiền thuê xe 7.000.000đ thì anh H đồng ý.
Do K bị mất Giấy phép lái xe, sợ tự điều khiển xe đi trên quãng đường xa đến nhà anh S1 sẽ bị lực lượng chức năng kiểm tra nên K đã gọi cho bạn là Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1992, trú tại: Tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để nhờ Đ1 lái xe chở K đi có việc, nhưng anh Đ1 bận việc nên đã nhờ 02 người (không rõ lai lịch) là bạn của Đ1 đến chở K đi. Khoảng 18 giờ cùng ngày, khi 02 nam thanh niên đến gặp K thì K bảo 01 người nam giới lái xe ô tô BKS 90A - xxxxx chở K và nam thanh niên còn lại đi đến thị trấn Đ, huyện T. Khi đến nơi gặp anh S1 K đã đưa giấy tờ và chiếc xe ô tô Mazda 3, BKS: 90A - xxxxx cho anh S1 kiểm tra. Anh S1 thấy xe không có đăng ký gốc và không đứng tên K, thì K nói chiếc xe ô tô nêu trên là do K mới mua, chưa kịp sang tên đổi chủ và bảo anh S1 yên tâm, xe chỉ để lại để làm tin, đúng 07 ngày sau sẽ mang đủ số tiền 100.000.000đ đến trả cho anh S1 để lấy xe về, thì anh S1 đồng ý nhận xe và cho K vay tiền. Anh S1 đã sử dụng số tài khoản 1090052xxxxx tại ngân hàng V1 chuyển khoản số tiền 100.000.000đ đến số tài khoản của K là 090266xxxx tại ngân hàng V. Sau đó, K thuê xe taxi chở K và 02 nam thanh niên đi cùng về thành phố P. Trên đường về K trả cho 02 nam thanh niên nêu trên 500.000đ là tiền công lái xe rồi cho họ xuống ngang đường, còn K đi về nhà.
Để anh H không biết là K đã mang xe đi cầm cố, vay tiền nên ngày 18/8/2023, K đã sử dụng số tài khoản 090266xxxx chuyển khoản đến số tài khoản 126688888xxxxx của anh H 7.000.000đ thanh toán tiền thuê xe thêm 07 ngày. Đến ngày 21/8/2023, K tiếp tục bảo anh S1 cho vay thêm 30.000.000đ hẹn đến ngày lấy xe ô tô về sẽ trả đủ. Anh S1 đồng ý chuyển khoản thêm cho K 30.000.000đ. Tổng số tiền K vay của anh S1 là 130.000.000đ. Đến ngày 25/8/2023, khi đã hết hạn thuê xe, anh H đã nhiều lần liên hệ với K để yêu cầu K trả xe vì K đã mang xe đi cầm cố nên không trả được xe ô tô cho anh H. Ngày 31/8/2023, anh H đã làm đơn trình báo với Cơ quan CSĐT Công an thành phố P.
Ngày 31/8/2023, anh Nguyễn Anh S1 tự nguyện giao nộp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, BKS 90A - xxxxx cùng toàn bộ giấy tờ liên quan đến chiếc xe trên cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố P.
Ngày 06/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc có văn bản số 59 yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe. Tại Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 07/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: Tại thời điểm ngày 15/8/2023, chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, BKS 90A - xxxxx có trị giá 520.000.000đ (Năm trăm hai mươi triệu đồng).
- Ngày 03/9/2023, anh Hoàng Xuân H và anh Nguyễn Thành C giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố V các loại giấy tờ gồm: 01 căn cước công dân mang tên Lê Quốc K; 01 Giấy ủy quyền xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, BKS: 90A - xxxxx ghi ngày 01/8/2023; 01 bản sao chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nhãn hiệu BKS: 90A - xxxxx, mang tên chủ xe Nguyễn Thành C; 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô, 01 Giấy xác minh nhận giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp; 01 Hợp đồng cho thuê ô tô tự lái mang tên bên cho thuê xe là Hoàng Xuân H và bên thuê xe là Lê Quốc K.
- Ngày 04/9/2023, Lê Quốc K giao nộp 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng, bên trong điện thoại có lắp 01 sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800 có lắp 01 sim.
Ngày 05/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V ra Quyết định trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động Iphone 7 nêu trên. Tại bản Kết luận giám định số 558/KLKTHS ngày 29/02/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận đã khôi phục trích xuất dữ liệu gồm:
- 272 cuộc gọi; 21 tin nhắn SMS, 1602 tin nhắn ứng dụng Messenger và 697 tin nhắn ứng dụng Zalo trong thời gian từ ngày 10/8/2023 đến hết ngày 31/9/2023.
- Thẻ sim có hàng số, chữ: "8401181012256553WD" lắp trong điện thoại có số thuê bao là: “+8490266xxxx".
- Từ tài khoản Zalo tên "Bobin" có 28 tin nhắn với tài khoản Zalo lưu tên “SÁNG ĐẠI ĐÌNH” và 01 tin nhắn với tài khoản Zalo lưu tên “Hoàng H".
- 61 tin nhắn Messenger giữa tài khoản Facebook "Khánh Lê Q1” với tài khoản Facebook 'Tú Bùi T1". Tài khoản Facebook 'Tú Bùi T1 có ID "1000942636xxxxx", không xác định được số điện thoại đăng ký tài khoản này.
Kiểm tra kết quả giám định có nhiều nội dung tin nhắn giữa K với anh H, anh S1 liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Quốc K.
- Cơ quan CSĐT Công an thành phố P đã có các công văn đề nghị Ngân hàng TMCP K2, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V2 xác minh về chủ tài khoản và sao kê các giao dịch liên quan đến hành vi của Lê Quốc K, kết quả được các ngân hàng trả lời, xác định: Tài khoản 126688888xxxxx Ngân hàng TMCP K2 mang tên Hoàng Xuân H; Tài khoản 090266xxxx Ngân hàng Thương mại Cổ phần V2 mang tên Lê Quốc K; Tài khoản số 1090052xxxxx Ngân hàng TMCP K2 mang tên Nguyễn Anh S1, kèm theo sao kê có các lịch sử giao dịch như nêu trên.
Tại cơ quan điều tra K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Bị hại anh Hoàng Xuân H quá trình điều tra trình bày các nội dung phù hợp lời khai của bị cáo và phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ, quá trình điều tra, ngày 06/4/2024 ông Lê Minh Đ (bố của bị cáo K) đã bồi thường cho anh số tiền 20.000.000đ thay cho bị cáo K. Anh đã nhận đủ số tiền 20.000.000đ không yêu cầu bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Anh S1 trình bày các nội dung phù hợp lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ. Đối với số tiền bị cáo K vay của anh là 130.000.000 đồng, anh yêu cầu K trả toàn bộ và không yêu cầu tính lãi. Anh xác nhận ngày 12/6/2024 ông Lê Minh Đ là bố đẻ bị cáo K đã trả thay cho bị cáo số tiền trên, anh đã nhận đủ tiền không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh Đ trình bày: Đối với số tiền 130.000.000đ ông trả cho anh H và 20.000.000đ thay cho bị cáo, đây là tiền do ông tích cóp mà có, ông tự nguyện đứng ra trả thay cho bị cáo K và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên.
Người bào chữa cho bị cáo K trình bày: Việc khởi tố, điều tra truy tố và xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, tuy nhiên, bị cáo K phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa hết sức thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình,tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, các thiệt hại của bị hại đã được khắc phục toàn bộ, bị hại và người liên quan đều xin giảm nhẹ cho bị cáo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cải tạo sửa chữa làm lại, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tại bản Cáo trạng số: 65/CT-VKS-P1 ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Lê Quốc K về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đối với bị cáo K; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Quốc K từ 08 năm đến 09 năm tù. Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng. Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về nội dung vụ án: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/8/2023, tại quán C1, thuộc phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Quốc K đã ký hợp đồng thuê xe với anh Hoàng Xuân H, theo đó K thuê của anh H 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, bản LUXURY, màu sơn đỏ, BKS 90A-xxxxx, thời hạn thuê 03 ngày, từ ngày 15/8/2023 đến ngày 18/8/2023, với giá thuê là 1.000.000 đồng/1 ngày, mục đích thuê lấy phương tiện đi lại, đi chơi ở T. Sau khi thuê xe của anh H, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của anh H. Khoảng 18 giờ ngày 17/8/2023, K đã đem chiếc xe ô tô BKS: 90A - xxxxx thuê của anh H, cầm cố cho anh Nguyễn Anh S1 để vay số tiền 100.000.000đ, đến ngày 21/8/2023, K tiếp tục vay thêm của anh S1 số tiền 30.000.000đ; tổng cộng K vay của anh S1 số tiền 130.000.000đ và sử dụng chi tiêu số tiền này vào mục đích cá nhân hết. Đến thời hạn thanh toán trả nợ anh S1 và đến thời hạn trả xe ô tô cho anh H thì K mất khả năng thanh toán, không có tiền trả cho anh S1, do đó không rút được ô tô trả lại cho anh H. Trị giá tài sản chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, BKS 90A-xxxxx bị chiếm đoạt là 520.000.000 đồng.
[3]. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Lê Quốc K đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
[4]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo đã tác động để gia đình tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; quá trình chuẩn bị xét xử bị hại anh H và người liên quan anh S1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có bố đẻ là ông Lê Minh Đ là người có công với đất nước được Chủ tịch nước tặng thưởng Bằng khen và Huân chương Chiến công hạng 3, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5]. Bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, các thiệt hại của bị hại đã được khắc phục toàn bộ, bị hại và người liên quan xin giảm nhẹ cho bị cáo, do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên cũng cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo K là đối tượng không có nghề nghiệp và không có tài sản, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[7]. Đối với vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự:
[7.1]. Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, BKS 90A - xxxxx và các giấy tờ xe do anh Nguyễn Anh S1 giao nộp. Kết quả điều tra xác định chiếc xe ô tô này là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thành C, anh C đã ủy quyền cho anh Hoàng Xuân H sử dụng để cho thuê xe tự lái. Ngày 27/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố P đã trả lại cho anh C 01 xe ô tô BKS 90A - xxxxx và các giấy tờ xe, sau khi nhận lại xe anh C không có đề nghị gì do vậy Hội đồng xét xử không xét.
[7.2]. Đối với 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng, có lắp 01 thẻ sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800, có lắp 01 thẻ sim. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của K sử dụng khi phạm tội, do đó cần tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước.
[7.3]. Đối với các tài liệu gồm: 01 Giấy ủy quyền xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, BKS: 90A - xxxxx ghi ngày 01/8/2023; 01 bản sao chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nhãn hiệu BKS: 90A - xxxxx, mang tên chủ xe Nguyễn Thành C; 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô; 01 Giấy xác minh nhận giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp; 01 Hợp đồng cho thuê ô tô tự lái mang tên bên cho thuê xe là Hoàng Xuân H và bên thuê xe là Lê Quốc K. Đây là các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo K nên được lưu giữ theo hồ sơ vụ án. Đối với 01 căn cước công dân mang tên Lê Quốc K, đây là giấy tờ tùy thân của K đưa cho anh H giữ khi thuê xe, cần trả lại cho Lê Quốc K.
[8]. Về bồi thường dân sự:
[8.1]. Quá trình điều tra, anh H yêu cầu bị cáo K bồi thường 32.000.000d là tiền thiệt hại 32 ngày kể từ khi hết hạn hợp đồng thuê xe và thời gian Cơ quan điều tra tạm giữ xe ô tô. Ngày 06/4/2024 ông Lê Minh Đ (bố của bị cáo K) đà làm việc với anh H thỏa thuận bồi thường cho anh H 20.000.000d thay cho bị cáo. Anh H đồng ý và đã nhận đủ số tiền 20.000.000đ không yêu cầu bồi thường gì khác; ông Đ không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên do vậy hội đồng không xét.
[8.2]. Anh Nguyễn Anh S1 yêu cầu K phải trả lại số tiền vay là 130.000. 000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Ngày 12/6/2024 ông Lê Minh Đ là bố đẻ bị cáo K đà trả thay cho bị cáo số tiền trên, sau khi nhận đủ tiền anh S1 không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận việc thanh toán xong dân sự giữa bị cáo Đ và anh S1.
[8.3]. Đối với số tiền ông Đ tự nguyện đứng ra trả cho anh S1 và anh H, ông Đ không yêu cầu K phải trả lại số tiền trên do vậy không xét.
[9]. Đối với anh Nguyễn Anh Sl, kết quả điều tra xác định anh S1 là bạn học cùng cấp 3 với bị cáo K. Ngày 15/8 và ngày 21/8/2023, khi K trao đối với anh S1 về việc cầm cố chiếc xe ô tô BKS: 90A- xxxxx để vay anh S1 số tiền 130.000.000đ, thì K nói là xe của K mới mua, chưa sang tên đổi chủ. Anh S1 không biết nguồn gốc chiếc xe là do K thuê của người khác. Do vậy hành vi của anh S1 không đồng phạm với K và không cấu thành tội phạm khác. Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp, có căn cứ.
[10]. Đối với Nguyễn Văn Đ1 và 02 nam thanh niên đi cùng với K. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐL đã nhiều lần triệu tập để làm việc với Nguyễn Văn Đ1, tuy nhiên Đ1 vắng mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không rõ Đ1 đi đâu, làm gì. K khai không nói với Đ1 và 02 nam thanh niên đi cùng về nguồn gốc chiếc xe ô tô BKS: 90A - xxxxx và các nội dung liên quan đến thỏa thuận giữa K và anh S1 việc cầm cố xe, vay tiền. Đối với 02 nam thanh niên đi cùng K không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn Đ1 và 02 nam thanh niên đi cùng K.
[11]. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Quốc K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Quốc K 08 (T2) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 03/11/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu bán phát mại sung ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng, bên trong có lắp thẻ sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800, có lắp 01 thẻ sim số 035266xxxx.
Trả lại bị cáo K 01 căn cước công dân mang tên Lê Quốc K số 00108406xxxx.
Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng do Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Vĩnh Phúc và Công an tỉnh V lập ngày 21/6/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Minh Đ là bố đẻ bị cáo K đã thanh toán xong cho anh Nguyễn Anh S1 số tiền 130.000.000 đồng (ông Đ trả nợ thay cho bị cáo K) và bồi thường xong cho anh Hoàng Văn HI số tiền 20.000.000đ.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Quốc K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 65/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 65/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Vĩnh Phúc |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 09/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về