TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
BẢN ÁN 43/2024/HS-PT NGÀY 22/05/2024 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo Nguyễn Quốc T, do có kháng cáo của bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Quốc T, sinh năm 1988, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (Học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn T1 và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Thị H và 05 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2012/HSST ngày 24/10/2012, bị Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 05/3/2023, ông Trần Khắc B, sau khi nhậu tại nhà bạn thì điều khiển xe máy biển kiểm soát 86AK-014.xx về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc Thôn D, xã G, huyện T thì ông B gặp Nguyễn Quốc T. Lúc này T nói với ông B: “Để con chở cậu về kẻo cậu say té”. Ông B đồng ý và để T điều khiển xe chở ông B về nhà. Khi chạy xe chở ông B vào đến nhà, T gặp bà Bạch Thị S là vợ ông B, T nói: “Mợ cho con mượn xe đi lên Bệnh viện thăm bố con, chiều trả” thì được bà S đồng ý. Sau khi mượn được xe máy 86AK-014.xx, T chạy đi gặp Trịnh Hoàng K nói đây là xe của ba T cho T, đã bị mất giấy đăng ký xe, muốn bán cho K giá 2.000.000 đồng. K nói xe này đã cũ và mất giấy đăng ký nên mua giá 1.200.000 đồng; T đồng ý bán. Sau khi bán xe cho Trịnh Hoàng K, T sử dụng hết. Chiều ngày 05/3/2023, ông Trần Khắc B đến nhà ba mẹ T gặp T yêu cầu trả xe thì T nói đã cho bạn của T mượn. Sau đó, ông B và bà S tiếp tục yêu cầu T trả xe nhiều lần nhưng T nói đã làm mất xe. Ngày 16/3/2023, bà Bạch Thị S trình báo Công an xã G, huyện T yêu cầu xử lý Nguyễn Quốc T về hành vi chiếm đoạt xe máy 86AK-014.xx.
Tại Bản kết luận định giá số 12/KL-HĐ ĐGTS ngày 14/4/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T đã kết luận đối với xe môtô nhãn hiệu VIETTHAI, loại SIRUS 50, màu xanh, trắng biển số 86AK-014.xx trị giá vào thời điểm thiệt hại ngày 05/3/2023 là 7.000.000 đồng.
Vật chứng: Chủ sở hữu là bà Bạch Thị S đã nhận lại xe.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường; ông Trịnh Hoàng K yêu cầu bị cáo Nguyễn Quốc T phải bồi thường số tiền 1.200.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T quyết định:
Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 175; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm bồi thường dân sự, tiền án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Ngày 04/10/2023, bị cáo Nguyễn Quốc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, giảm án cho bị cáo từ 6 đến 9 tháng tù.
- Bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự có mối quan hệ trong gia đình với vợ chồng bà Bạch Thị S và ông Trần Khắc B, khoảng 14 giờ ngày 05/3/2023, bị cáo Nguyễn Quốc T mượn chiếc xe môtô biển số 86AK-014.xx trị giá 7.000.000 đồng của bà Bạch Thị S rồi mang đi bán cho Trịnh Hoàng K với số tiền 1.200.000 đồng và tiêu xài cá nhân.
Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện T xét xử bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Quốc T, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo Nguyễn Quốc T có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đông con, thuộc diện hộ nghèo; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi cho bị hại, được bị hại có đơn xin bãi nại, do đó cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm tù, của khung hình phạt (06 tháng đến 03 năm tù) là phù hợp và không nặng. Bởi vì: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo quanh co nhằm chối tội, không thành khẩn khai báo, không thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo có quá trình nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, bị cáo có lối sống bê tha, buông thả, xem thường pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là có căn cứ.
Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người có quyền lợi liên quan đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên toà là có căn cứ.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T về giảm hình phạt tù:
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính kể từ ngày tuyên án (ngày 22 tháng 5 năm 2024).
Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 43/2024/HS-PT
| Số hiệu: | 43/2024/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Bình Thuận |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 22/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về