Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 156/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 156/2024/HS-ST NGÀY 01/07/2024 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 01/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận H2g Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/HSST ngày 19/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 15/5/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 61/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 đối với bị cáo có lý lịch như sau:

Họ và tên: BÙI VĂN T, sinh năm 1996.

Hộ khẩu thường trú: Thôn D T, xã H, huyện Ph, Hà Nội;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn T hắng; Con bà: Nguyễn Thị Sinh; Tiền sự: Không; Tiền án: Không - Nhân thân: Bản án số 03/2024/HSST ngày 03/01/2024 của TAND thành phố Hạ L1, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại Giam Thanh Phong – Bộ Công An, theo Quyết định thi hành án phạt tù số 68/2024/QĐ-CA ngày 06/02/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ L1, tỉnh Quảng Ninh.

Người bị hại:

Anh Nguyễn Lư G , sinh năm 1978; Địa chỉ: Số 13, ngách 2, ngõ 46, phố M, phường V, quận H, Hà nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2018, Bùi Văn T làm thuê lái máy xúc cho anh Nguyễn Lư G (sinh năm: 1978; Chỗ ở: số 13 ngách 2, ngõ 46, phố Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội), đến khoảng năm 2020 thì nghỉ việc nhưng vẫn giữ liên lạc. Khoảng cuối tháng 11 năm 2020, Th1 hỏi thuê máy đào bánh xích, nhãn hiệu KOBELCO SK200-1 của anh G với giá 25 triệu đồng/tháng và không nói thời gian thuê bao lâu để mang máy đào bánh xích đến khu vực Mễ Sở, huyện Văn G, tỉnh Hưng Yên làm việc cho anh Đoàn Trần Hanh (sinh năm:

1983; trú tại: thôn Mễ Sở, xã Mễ Sở, huyện Văn G, tỉnh Hưng Yên), anh G đồng ý. Anh G hẹn Th1 đến khu vực Hồ Đền Lừ, phường H2g Văn Thụ, quận H2g Mai, thành phố Hà Nội để kiểm tra máy xúc. Tại đây, Th1 trả anh G 23.000.000 đồng (tiền thuê máy đào tháng 12/2020) và hẹn sẽ trả nốt 2.000.000 đồng còn lại cùng với tiền thuê máy tháng 01/2021) thì được anh G đồng ý và giao máy đào bánh xích cho Th1 dưới sự chứng kiến của anh Nguyễn Anh Đ (sinh năm: 1986; trú tại: 17, ngõ 452, đường Lê Duẩn, phường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội). Hai bên không ký hợp đồng thuê máy đào và thỏa thuận chuyển tiền thuê máy hàng tháng vào số tài khoản của vợ anh G là chị Trịnh Thị Thu Phương (sinh năm: 1983). Sau khi thuê máy đào bánh xích, Th1 đã trả tiền thuê máy cho anh G 02 tháng (tháng 12/2020 và tháng 01/2021) với tổng số tiền là 50 triệu đồng.

Do thiếu tiền ăn tiêu nên Th1 đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc máy đào bánh xích của anh G để đem bán. Th1 đã đăng lên mạng tìm người để mua máy. Khoảng ngày 01/01/2021, anh Nguyễn Văn H (sinh năm: 1986; HKTT: tổ dân phố 16, Đồng Mai, Hà Đông, Hà Nội) liên hệ với Th1 để xem máy đào bánh xích. Anh H2 giới thiệu cho anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm: 1985; HKTT: thôn 8, xã Trung Hà, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc) mua chiếc máy đào trên thì anh Th đồng ý mua và nhờ anh H2 trực tiếp đi xem máy, sau đó mô tả chính xác chất lượng thực tế của máy cho anh Th biết để cân đối giá tiền mua hợp lý. Th1 yêu cầu anh H2 đến địa chỉ khu vực Nghĩa Trụ, Văn Lâm, Hưng Yên (không nhớ chính xác vị trí) để xem máy đào. Sau khi xem máy, anh H2 báo cho anh Th biết chất lượng thực tế của máy đào thì anh Th đồng ý mua với giá 225.000.000đồng. Tại đây, anh H2 trực tiếp đưa tiền mặt 25.000.000đồng cho Th1, còn lại 200.000.000đồng anh Th sẽ chuyển khoản. Do không có tài khoản ngân hàng nên Th1 bảo chuyển tiền qua tài khoản của anh Phạm Văn N (sinh năm: 1985; HKTT: Đội 10, phố Thị, Mễ Trì, Văn G, Hưng Yên) là chủ cửa hàng điện thoại. Khi tiền được chuyển vào tài khoản, anh Nam đã rút tiền ra và đưa lại Th1 200.000.000đồng thì được Th1 trả công cho anh Nam số tiền 1.000.000đồng tiền. Sau khi nhận đủ số tiền trên, Th1 viết cho anh H2 giấy tờ mua bán máy đào và giao máy cho anh H2. Anh H2 đã giao lại máy đào trên cho xe vận chuyển mà anh Th gọi đến. Sau đó, anh H2 được anh Th trả tiền công khoảng 3.000.000 đồng (không nhớ chính xác số tiền). Sau khi mua được chiếc máy đào, anh Th đã bán chiếc máy đào cho anh Lê Văn L , số điện thoại 098335xxxx, địa chỉ: Nam Sơn, Tam Điệp, Ninh Bình với giá 250.000.000đồng. Việc mua bán máy đào giữa anh Th với anh L1, không có giấy tờ mua bán. Số tiền bán máy cho anh H2, Th1 đã tiêu sài cá nhân hết. Anh G đã nhiều lần yêu cầu Th1 trả lại máy đào cho anh G nhưng Th1 không trả nên đến ngày 28/4/2021, anh G đã đến cơ quan Công an trình báo nội dung sự việc như trên.

Đối với chiếc máy đào bánh xích, nhãn hiệu Kobelco SK200-1, anh Lê Văn L (sinh năm: 1976; HKTT: tổ 18, Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) khai: Anh L1 làm nghề môi giới mua bán máy xúc, máy đào, máy công trình và đã mua, bán rất nhiều máy đào bánh xích nên không nhớ rõ có mua chiếc máy đào trên của anh Th hay không. Hiện chiếc máy đào bánh xích là tang vật của vụ án không thu hồi được.

Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của anh Nguyễn Văn H : 01 giấy bán máy (là giấy bán máy đào bánh xích hiệu KOBELCO SK200-1, số động cơ: 6D31-038300, số khung: YN-15883 (Th1 viết cho anh H2).

Kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H2g Mai, kết luận: 01 máy đào bánh xích, nhãn hiệu KOBELCO SK200-1, sản xuất năm 1992, số động cơ: 6D31-038300, số khung: YN-15883, tài sản đã qua sử dụng trị giá 300.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 7750 ngày 28/11/2023 của PC09 – Công an Hà Nội kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Văn T trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ viết, chữ ký đứng tên Bùi Văn T trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 là chữ do cùng một người viết và ký ra.

Quá trình điều tra, xác định: Chiếc máy đào bánh xích, nhãn hiệu KOBELCO SK200-1, sản xuất năm 1992, số động cơ: 6D31-038300, số khung: YN-15883 chủ sở hữu là anh Nguyễn Lư G , được anh G mua của anh Nguyễn Thành L1 (sinh năm: 1993, HKTT: xã Hồng Tiên, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) vào ngày 20/10/2017 với giá 470 triệu đồng, có giấy tờ mua bán viết tay. Tại cơ quan điều tra, anh L1 khai: Chiếc máy đào bánh xích, nhãn hiệu KOBELCO SK200- 1 được anh L1 mua của 01 người nam giới ở Vĩnh Phúc (không rõ nhân thân lai lịch), có giấy tờ mua bán viết tay nhưng do thời gian đã lâu nên đã bị thất lạc. Đến khoảng ngày 20/10/2018, anh L1 bán chiếc máy đào trên cho anh Nguyễn Lư G với giá khoảng 400 triệu đồng, có giấy tờ mua bán viết tay. Tài sản hiện chưa thu hồi, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm chiếc máy đào bánh xích, nhãn hiệu KOBELCO SK200-1, sản xuất năm 1992, số động cơ: 6D31-038300, số khung: YN- 15883 (là tang vật vụ án).

Đối với anh Nguyễn Văn T1 , anh Nguyễn Văn H , khi mua máy đào bánh xích, anh H2 có hỏi Th1 về nguồn gốc máy trên thì Th1 trả lời là của Th1 mua, khi Th1 mua cũng không có giấy tờ. Anh H2, anh Th không biết nguồn gốc chiếc máy đào là do Th1 phạm tội mà có, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với anh Lê Văn L , làm nghề kinh doanh mua bán máy xúc, máy đào, phục vụ các công trình, do số lượng nhiều và nhiều chủng loại nên anh L1 không nhớ có mua chiếc máy đào bánh xích của anh Nguyễn Văn T1 hay không (không viết giấy tờ), do đó cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với anh Phạm Văn Nam, do không biết nguồn gốc số tiền được chuyển vào số tài khoản của anh Nam là do Th1 phạm tội mà có, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Đoàn Trần Hanh, do không liên quan đến việc thuê máy đào bánh xích của Th1, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Bùi Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Ngày 25/01/2022, gia đình Bùi Văn T đã bồi thường cho anh Nguyễn Lư G số tiền 380.000.000đồng (là tiền giá trị chiếc xe máy đào bánh xích mà Th1 chiếm đoạt). Đối với số tiền thuê xe trong thời gian Th1 bỏ trốn, anh G không yêu cầu Th1 phải bồi thường. Hiện anh G không có yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bùi Văn T huyên.

Cáo trạng số 103/CT-VKSTX ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận H2g Mai, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đối với bị cáo như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại và khắc phục toàn bộ hậu quả đối với bị hại; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 06 năm đến 07 năm tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án hình sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 03/01/2024 của TAND thành phố Hạ L1, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 năm đến 08 năm thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được gia đình bị cáo bồi thường toàn bộ giá trị tài sản chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng.

Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội H2 toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản, và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng cuối tháng 11 năm 2020, tại khu vực Hồ Đền Lừ, phường H2g Văn Thụ, quận H2g Mai, thành phố Hà Nội, Bùi Văn T thuê máy đào bánh xích, nhãn hiệu KOBELCO SK200-1, sản xuất năm 1992, số động cơ: 6D31-038300, số khung: YN-15883 của anh Nguyễn Lư G để sử dụng thi công công trình. Trong quá trình sử dụng, Th1 nảy sinh ý định chiếm đoạt và đã bán chiếc máy đào bánh xích với giá 225.000.000đồng cho anh Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T1 hiện không thu hồi được, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 300.000.000đồng. Quá trình điều tra đại diện gia đình bị cáo Bùi Văn T đã bồi thường thay cho bị cáo đối với bị hại là anh Nguyễn Lư G số tiền 380.000.000đồng. Do vậy hành vi của bị cáo Bùi Văn T đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 3 điều 175 Bộ luật hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận H2g Mai truy tố bị cáo Bùi Văn T để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức pháp luật đầy đủ nhưng do không chịu tu dưỡng bản thân, thích hưởng lợi bằng bằng việc chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Về nhân thân, sau khi thực hiện hành vi phạm tội này, bị cáo lại phạm tội tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và bị xử phạt 12 tháng tù, hiện đang phải chấp hành án tại trại giam Thanh Phong. Do vậy xét cần thiết phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét x có xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường thiệt hại và khắc phục toàn bộ hậu quả đối với bị hại nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. [3]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền.

[4]. Phần trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị hại anh Nguyễn Lư G đã được gia đình bị cáo Th1 bồi thường thay cho bị cáo với toàn bộ giá trị chiếc xe do bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Các vấn đề khác:

Đối với anh Nguyễn Văn T1 , anh Nguyễn Văn H , khi mua máy đào bánh xích, anh H2, anh Th không biết nguồn gốc chiếc máy đào là do Th1 phạm tội mà có, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với anh Lê Văn L , làm nghề kinh doanh mua bán máy xúc, máy đào, phục vụ các công trình, do số lượng nhiều và nhiều chủng loại nên anh L1 không nhớ có mua chiếc máy đào bánh xích của anh Nguyễn Văn T1 hay không (không viết giấy tờ), do đó cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với anh Phạm Văn N, do không biết nguồn gốc số tiền được chuyển vào số tài khoản của anh Nam là do Th1 phạm tội mà có, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Đoàn Trần H, do không liên quan đến việc thuê máy đào bánh xích của Th1, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 1/ Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2/ Áp dụng: Khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 06 (sáu) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 03/01/2024 của TAND thành phố Hạ L1, tỉnh Quảng Ninh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ 06/10/2023.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại là anh Nguyễn Lư G .

4/ Án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo. Mục 1 phần I danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016).

Bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

94
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 156/2024/HS-ST

Số hiệu:156/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hoàng Mai - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về