TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 155/2024/HS-ST NGÀY 27/06/2024 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 111/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QĐST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Lý Hồng Đ, sinh 1987 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ2 - Bộ C1, tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng;Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Hồng P (đã chết) và bà Đỗ Thị Kim Y; sống chung như vợ chồng với chị Hà Tú Q, có 01 con chung sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/10/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 216/2023/HS-ST. (Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thực hiện sau hành vi của vụ án này).
Bị cáo bị bắt từ ngày 21/6/2023 đến ngày 30/6/2023 chuyển tạm giam về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Đ2 - Bộ C1, tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo Bản án số 216/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại: Ông Hồ Ngọc T, sinh năm 1957.
Địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt; bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/9/2022, Lý Hồng Đ đến nhà ông Hồ Ngọc T thỏa thuận hợp đồng thuê xe ô tô biển số 60K-17xxx của ông T trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày 14/9/2022 đến ngày 19/9/2022 để làm phương tiện đi lại với giá 500.000 đồng/ngày và giao cho ông T 01 xe mô tô biển số 60N6-73xx của Lý Hồng C để làm tin, chị C là người chị họ của bị cáo Đ, do chị C cho mẹ bị cáo mượn xe để sử dụng. Đến ngày trả xe, do không có tiền tiêu xài nên Đ này sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô trên của ông T nên đến ngày 30/9/2022 Đ liên hệ với 01 người tên Đ1 (không rõ nhân thân, lai lịch) thế chấp xe ô tô trên để vay 100.000.000 đồng trong 30 ngày, tiền lãi 1.200.000 đồng/ngày, Đ trừ tiền lãi trước 11 ngày, số tiền còn lại Đ nhận là 86.000.000 đồng, Đ trả nợ cho bạn bè, tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết. Đến hạn trả nợ nhưng Đ không có khả năng chuộc lại xe nên Đ1 đã thanh lý hợp đồng và thông báo bán xe trên.
Đến cuối năm 2022, anh Nguyễn Văn H mua lại xe trên của một người không rõ nhân thân, lai lịch với giá 160.000.000 đồng tại Hà Nội về sử dụng. Đến ngày 23/11/2023 ông T làm đơn trình báo Công an huyện L, Công an tiến hành xác minh điều tra thu giữ xe ô tô biển số 60K- 17xxx do anh H đang sử dụng. Đến ngày 30/11/2023 khi Cơ quan điều tra làm việc với Đ thì Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại kết luận định giá tài sản số 375 ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe ô tô biển số 60K-17xxx có trị giá 170.000.000 đồng.
Về vật chứng và tài sản tạm giữ: 01 Xe ô tô nhãn hiệu Innova G biển số 60K-17xxx của ông Hồ Ngọc T là chủ sở hữu, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 5577xxx và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60K-17xxx; 01 xe mô tô biển số 60N6-73xx hiệu Honda Click của Lý Hồng C là chủ sở hữu.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Lý Hồng Đ đã khai nhận hành vi phạm tội.
- Tại Cáo trạng số 119/CT-VKSLT ngày 24 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Lý Hồng Đ về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Lý Hồng Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu Innova G biển số 60K- 17xxx, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 5577xxx và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60K-17xxx đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Hồ Ngọc T; 01 xe mô tô biển số 60N6- 73xx đã trả lại cho chủ sở hữu là Lý Hồng C.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Hồ Ngọc T đã nhận lại tài sản, có đơn bãi nại và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Đối với anh Nguyễn Văn H là người mua lại xe ô tô trên để sử dụng, sau khi biết là tài sản do phạm tội mà có nên anh H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Đề nghị căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt với bản án trước để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Người bị hại ông Hồ Ngọc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy bị hại đã có lời khai tại hồ sơ, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại; Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, nên có cơ sở xác định: Ngày 14/9/2022 Lý Hồng Đ thuê xe ô tô biển số 60K-17xxx của ông Hồ Ngọc T để làm phương tiện đi lại với giá 500.000 đồng/ngày. Đến ngày 30/9/2022, Đ này sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô trên của ông T nên liên hệ với 01 người tên Đ1 (không rõ nhân thân, lai lịch) thế chấp vay số tiền 100.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết, sau đó đến hạn trả nợ nhưng Đ không có khả năng trả nợ cho Đ1 để chuộc lại xe nên Đ1 đã thanh lý hợp đồng và thông báo bán xe. Tổng trị giá tài sản Đ chiếm đoạt của ông T là 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng). Đến ngày 23/11/2023 ông T trình báo cơ quan Công an, Công an xác minh điều tra và tiến hành thu giữ xe ô tô biển số 60K-17xxx do anh Nguyễn Văn H đang sử dụng tại Hà Nội. Đến ngày 30/11/2023 khi Cơ quan điều tra làm việc với Đ thì Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Do đó, hành vi của Lý Hồng Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015. (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015) như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Mặc dù bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Căn cứ vào hành vi phạm tội, cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 xe ô tô nhãn hiệu Innova G biển số 60K-17xxx, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 5577xxx và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60K-17xxx đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Hồ Ngọc T; 01 xe mô tô biển số 60N6-73xx đã trả lại cho chủ sở hữu là Lý Hồng C, chị C không có yêu cầu gì thêm.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, có đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét. Đối với anh Nguyễn Văn H là người mua lại xe ô tô trên để sử dụng, sau khi biết là tài sản do phạm tội mà có nên anh H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Lý Hồng Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lý Hồng Đ 04 (Bốn) năm tù.
Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của Bản án số 216/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Lý Hồng Đ phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 155/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 155/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 27/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về