Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 143/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 143/2023/HS-ST NGÀY 28/12/2023 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 144 /2023/TLST-HS, ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2023/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh ngày 16/5/1984; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã D, huyện T, Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn L (Đã chết) và con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1957; Chồng: Không; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Về nhân thân: Ngày 26/11/2019, Bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, TP Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về “Tội in, phát hành trái phép chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 05/11/2023; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ- Công an thị xã S, TP Hà Nội, có mặt.

- Người bị hại: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: Thôn T, xã S, thị xã S, Hà Nội, vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Tiến L1, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện T, Hà Nội, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Nguyễn Thị H1, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cá thể dịch vụ cho thuê xe tự lái, mua bán ô tô, xe máy cũ - mới; mua bán sửa chữa điện thoại di động tại gia đình ở thôn T, xã S, TX S. Ngày 15/8/2016, chị H1 mua lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Carens, BKS 30A- 72xxx của anh Nguyễn Tuấn M, sinh năm 1981, ở P, xã C, với giá 500 triệu đồng để cho thuê (Xe đang thế chấp tại Ngân hàng thương mại Cổ phần K- T).

Ngày 07/3/2017, Nguyễn Thị H đến thuê chiếc xe ô tô KIA- Carens của chị H1 bằng hình thức tự lái, trong thời gian 01 tháng đến ngày 07/4/2017, với số tiền thuê 20 triệu đồng/01 tháng, mục đích thuê là sử dụng làm phương tiện di chuyển. Sau khi hết 01 tháng thuê xe, H tiếp tục đề nghị được thuê tiếp, chị H1 đồng ý, tuy nhiên giữa hai bên không thiết lập lại hợp đồng nào khác, hàng tháng H trả tiền thuê xe cho chị H1. Sau khi thuê được xe, H sử dụng xe vào việc di chuyển trong quá trình đầu tư khai thác mỏ đất tại xã Y, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Do thiếu tiền đầu tư mua mỏ đất nên ngày 30/01/2019, H đã mang chiếc xe ô tô KIA- Carens thuê của chị H1 thế chấp cho anh Nguyễn Tiến L1, sinh năm 1987, ở thôn Đ, xã B, huyện T, Hà Nội để vay 150 triệu đồng, trong thời gian 01 tháng, sau đầu tư có lãi thì sẽ trả tiền chuộc xe về. Để tạo niềm tin cho anh L1, H đã tự thiết lập giấy bán xe ô tô chuyên dùng để ngày 24/6/2015 mang tên người bán là anh Nguyễn Tuấn M, người mua là Nguyễn Thị H và tự giả mạo chữ ký của anh M để giao cho anh L1 và khẳng định chiếc xe thuộc quyền sở hữu của mình. Ngoài ra, H giao cho anh L1 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 113478 (Bản sao), 01 giấy chứng nhận kiểm định số KC 6976412 (Bản gốc), 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số 003894738 (Bản gốc), 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe cơ giới số 050003741/18 (Bản gốc), 01 hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số 20183392 (Bản gốc), 01 giấy biên nhận thế chấp số CHD20150703/HĐTC/01(Bản gốc).

Do làm ăn bị thua lỗ, H không có tiền trả cho anh L1 để lấy xe về. Tuy nhiên, H vẫn trả tiền thuê xe cho chị H1 đầy đủ. Nguyễn Thị H khẳng định trước, trong và sau khi thế chấp chiếc xe cho anh L1 thì không thông báo cho chị H1 biết. Sau thời gian H cầm cố chiếc xe, chị H1 đã nhiều lần đến nhà H, gọi điện thoại cho H yêu cầu mang xe đến cho chị H1 kiểm tra thì H đều lấy lý do xe đang được sử dụng để đi làm ở công trình, để tạo niềm tin cho chị H1 biết là mình vẫn đang sử dụng. Và trong khoảng thời gian từ ngày 17/8/2016, cho đến tháng 12/2020, H đã trả đầy đủ tiền thuê xe cho chị H1 qua tài khoản Ngân hàng và trả trực tiếp.

Đến tháng 01/2021, H không có khả năng trả được tiền thuê xe cho chị H1 nữa thì chị H1 đã gọi điện thoại và trực tiếp đến nhà chị H để yêu cầu H trả tiền và xe nhưng H vẫn nói dối là chiếc xe vẫn đang sử dụng để đi làm công trình, còn tiền nợ thì đang khó khăn xin trả sau.

Ngày 18/02/2021, chị H1 đến nhà H yêu cầu trả tiền, trả xe thì H không có nhà, H đã sử dụng số điện thoại 0977925xxx nhắn tin đến số điện thoại 038680xxx2 của chị H1 về việc thừa nhận đã cầm cố chiếc xe ô tô rồi và sẽ có trách nhiệm chuộc xe trả cho chị H1, lúc này chị H1 mới biết chiếc xe ô tô của mình cho H thuê đã bị H mang đi cầm cố.

Cùng thời gian này, H đang được hoãn chấp hành án 12 tháng tù về “Tội in, phát hành trái phép chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2019/HSST, ngày 26/11/2019 của TAND huyện Thạch Thất, Hà Nội (Vì H đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi) nên chị H1 cho H thời gian để trả xe. Tuy nhiên, H vẫn hứa hẹn nhiều lần và không trả xe, không trả tiền thuê xe.

Ngày 08/7/2021, chị H1 đã tất toán số tiền còn nợ cho Ngân hàng T, anh M đã làm thủ tục kết thúc hồ sơ thế chấp và giao Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 113478 cho chị H1.

Sau nhiều lần yêu cầu H trả tiền và chiếc xe KIA- Carens, BKS: 30A-72xxx nhưng H không trả nên ngày 12/4/2022, chị H1 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T trình báo. Ngày 03/5/2022, anh Nguyễn Tiến L1 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe ô tô KIA- Carens cho Cơ quan điều tra và yêu cầu H trả số tiền 150 triệu đồng đã vay.

Cơ quan điều tra - Công an thị xã S quyết định trưng cầu giám định số khung, số máy chiếc xe ô tô trên. Tại bản Kết luận giám định số 3214/KL- KTHS ngày 23/5/2022 của Phòng K1, Công an T1, kết luận số khung số máy chiếc xe ô tô KIA- Carens là số nguyên thủy. Tiến hành tra cứu, kết quả xe không có trong cơ sở dữ liệu xe ô tô vật chứng.

Cơ quan điều tra yêu cầu định giá chiếc xe. Tại bản Kết luận định giá số 19/KL-KLĐG, ngày 13/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận, tổng giá trị thiệt hại tại thời điểm tháng 01/2019 là 280 triệu đồng.

Quá trình điều tra vụ án, xét thấy thời gian Nguyễn Thị H không trả được tiền thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA- Carens, BKS 30A- 72xxx cho chị H1 là tháng 01/2021. Do vậy, ngày 08/9/2022, Cơ quan điều tra yêu cầu định giá đối với chiếc xe ô tô trên tại thời điểm ngày 01/01/2021. Ngày 09/9/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TX S đã có Bản kết luận định giá số 40/KLHĐĐGTS, kết luận: Tổng giá trị tài sản tại thời điểm tháng 01/2021 là 280 triệu đồng.

Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của H, anh M trong “Giấy bán xe ô tô chuyên dùng” để ngày 24/6/2015 do anh L1 cung cấp. Tại Bản kết luận giám định số 4950/KL-KTHS ngày 18/7/2022, kết luận:

“1. Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) với chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H trên các mẫu so sánh (Ký hiệu M3, M4) là chữ do cùng một người ký ra.

* Chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị H (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) với chữ viết đứng tên Nguyễn Thị H trên các mẫu cần giám định (Ký hiệu từ M1 đến M4) là chữ do cùng một người viết ra.

* Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H trên các tài liệu (Ký hiệu M1, M2) khác dạng nên không sử dụng làm mẫu so sánh.

2. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Tuấn M (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) do người có mẫu chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị H trên mẫu so sánh (Ký hiệu M5) ký và viết ra”.

Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của H và anh L1 trên giấy vay tiền giữa H và anh L1. Tại Bản kết luận giám định số 2781/KL- KTHS ngày 09/5/2023 của Phòng K1 Công an T1, kết luận:

“1. Chữ viết phần nội dung tại mặt trước, chữ viết có nội dung “Tôi có để lại 1 chiếc xe 7 chỗ..., 1 giấy mua bán xe” tại mặt sau và chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị H dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ viết phần nội dung, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị H trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 và chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị H trên các mẫu so sánh ký hiệu M4; chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị H dưới chữ ký trên mẫu so sánh M7 là chữ do cùng một người viết và ký ra.

* Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3, M7 có phải là chữ do cùng một người ký ra hay không.

2. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Tiến L1 dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Tiến L1 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M5 đến M7 là chữ do cùng một người ký và viết ra”.

Quá trình điều tra đã xác định, từ năm 2010 đến khoảng giữa năm 2019, anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1978, ở xóm R, xã Q, TP H, tỉnh Hòa Bình đã bán đất đồi thuộc quyền sử dụng của gia đình anh H2 cho Nguyễn Thị H khai thác. Sau đó, UBND tỉnh H cấm khai thác đất nên H dừng việc khai thác. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H khai nhận hành vi của mình.

Ngày 15/8/2022 và ngày 21/8/2022, chị Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Tiến L1 có giao nộp cho Cơ quan điều tra các tài liệu ghi nhận việc Nguyễn Thị H đã trả cho chị H1, anh L1 mỗi người 150 triệu đồng. Anh L1, chị H1 không có yêu cầu gì về việc bồi thường dân sự. Ngoài ra, chị H1 có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Thị H.

Đối với hành vi Nguyễn Thị H tự thiết lập “Giấy bán xe ô tô chuyên dùng” đề ngày 24/6/2015 giao cho anh L1 khi vay tiền, mục đích xác định chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe, tạo niềm tin để anh L1 cho vay tiền, không nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của anh L1 nên không cấu thành tội phạm.

Đối với việc anh L1 cho H vay tiền (Có giấy vay tiền), đây là giao dịch dân sự. Trong Giấy vay tiền không thể hiện nội dung có hoặc buộc phải có tài sản cầm cố, thế chấp. Việc H để lại xe ô tô và giấy tờ xe là tự nguyện để làm tin, không tính lãi suất nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Ngày 20/6/2023, Cơ quan điều tra đã quyết định trả lại cho chị H1 chiếc xe ô tô KIA- Carens, BKS 30A- 72xxx.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của bị cáo cũng như hoàn cảnh gia đình bị cáo để cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật với mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về xã hội lao động giúp đỡ gia đình, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tại bản Cáo trạng số 146/ CT-VKSTXST ngày 28 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thị H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 3 Điều 175 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố; và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, áp dụng Khoản 3 Điều 175; Điểm b, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị H từ 05 năm tù đến 6 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị H nhận thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, những người tham gia tố tụng khác cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bởi vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 07/3/2017, Nguyễn Thị H đã thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA- Carens, biển kiểm soát 30A72xxx, có giá trị 280 triệu đồng của chị Nguyễn Thị H1 để làm phương tiện đi lại. Ngày 30/01/2019, H đã thế chấp chiếc xe ô tô nêu trên cho anh Nguyễn Tiến L1 để vay 150.000.000 đồng. Khi thế chấp, H không thông báo và chị H1 biết và chị H1 cũng không biết và không đồng ý cho H thế chấp chiếc xe ô tô trên. Khi chị H1 yêu cầu đưa xe về kiểm tra, H liên tiếp nói dối xe vẫn đang sử dụng đi công trình nhưng thực tế H đã thế chấp xe để vay tiền của anh L1 dẫn đến việc H không trả được chiếc xe cho chị H1. Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã S định giá chiếc xe ô tô Nguyễn Thị H1 chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị H1 có trị giá: 280.000.000 đồng(Hai trăm tám mươi triệu đồng) tại thời điểm tháng 01/2021. Hội đồng xét xử nhận thấy khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Thị H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, sau khi nhận được tài sản thông qua hợp đồng đã cố ý cùng thực hiện các hành vi cầm cố tài sản bất hợp pháp, chiếm đoạt tài sản. Hành vi của Nguyễn Thị H đã đủ yếu tố cấu thành “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của Nguyễn Thị H là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ và gây mất an ninh trật tự trên địa bàn thị xã S. Xuất phát từ việc bị cáo lập hợp đồng thuê xe ô tô của chị H1 để tự lái phục vụ cho việc đi lại kinh doanh của bản thân bị cáo. Sau đó bị cáo đã lợi dụng sự tín nhiệm của chị H1 và muốn có tiền chỉ tiêu cá nhân H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe ô tô nên H đã đem xe ô tô đi cầm cố bằng hình thức tự thiết lập “Giấy bán xe ô tô chuyên dùng” để ngày 24/6/2015 giao cho anh L1 để vay tiền, mục đích xác định chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe, tạo niềm tin để anh L1 đồng ý cho H vay 150.000.000đ. bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, cũng như hậu quả mà bị cáo gây ra buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị H khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả; khi phạm tội bị cáo đang có thai(Tại thời điểm phạm tội ngày 30/01/2019 bị cáo H đang mang thai và sinh con Nguyễn Gia H3 -BL: 133a) và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s, n Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, bị cáo đang nuôi hai con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị H đã bồi thường đủ cho chị Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Tiến L1 mỗi người là 150 triệu đồng, tiền bồi thường thiệt hại. Anh L1, chị H1 không có yêu cầu đề nghị gì khác. nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Áp dụng Khoản 3 Điều 175; Điểm b, s, n Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Nguyễn Thị H 05(Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

87
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số 143/2023/HS-ST

Số hiệu:143/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về